Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
NGÀNH GIẤY VIỆT NAM TRƯỚC NHỮNG THÁCH
THỨC HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC
Sinh viên : BÙI THỊ QUỲNH TRANG
Lớp : A4-K38B KTNT
____________________________________________________________________
1
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU..........................................................................................................4
Chương I: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÀNH GIẤY KHU VỰC
CHÂU Á..................................................................................................................... 6
I. Vai trò của ngành giấy trong nền kinh tế thị trường .................................. 6
II. Thực trạng sản xuất kinh doanh của ngành giấy các nước trong
khu vực châu á...........................................................................................10
1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ mặt hàng giấy..................................................10
2. Tình hình xuất nhập khẩu mặt hàng giấy .......................................................17
2.1. Thị trường bột giấy.................................................................................17
2.2. Thị trường giấy loại.............................................................................. 19
2.3. Thị trường giấy thành phẩm...................................................................20
III. Dự báo nhu cầu của thế giới và khu vực đối với mặt hàng giấy
trong thời gian tới........................................................................................21
1. Thị trường giấy................................................................................................21
2. Thị trường bột giấy .........................................................................................24
Chương II: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA NGÀNH GIẤY
VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ KHU VỰC............................ 26
2.1. Nhu cầu của thị trường nội địa đối với mặt hàng giấy tương đối lớn 55
2.2. Vùng nguyên liệu trong nước rất rộng lớn...........................................56
2.3. Đây là ngành được Nhà nước quan tâm đầu tư....................................59
____________________________________________________________________
3
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
Chương III: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
NGÀNH GIẤY VIỆT NAM TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC HỘI NHẬP KINH TẾ
KHU VỰC...................................................................................................................
61
I. Các cơ hội và thách thức đối với ngành giấy Việt Nam trong điều kiện
hội nhập kinh tế khu vực .............................................................................61
1. Quá trình hội nhập kinh tế khu vực của Việt Nam..........................................61
2. Các cơ hội........................................................................................................64
3. Các thách thức.................................................................................................66
II. Các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam. 67
1. Về phía Nhà nước............................................................................................67
1.1. Xây dựng phương án chủ động về nguyên liệu cho ngành giấy..........67
1.2. Xúc tiến việc triển khai các dự án đầu tư cho ngành giấy....................74
1.3. Định hướng lại chiến lược sản phẩm và chiến lược thị trường............75
1.4. Thúc đẩy quá trình cổ phần hoá ngành giấy.........................................77
2. Về phía doanh nghiệp......................................................................................78
2.1. Nâng cao trình độ công nghệ................................................................78
2.2. Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.......................................83
2.3. Nâng cao trình độ quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh..................85
2.4. Tăng cường các biện pháp xúc tiến thương mại...................................86
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 88
thách thức thành cơ hội cho chính mình? Câu hỏi đó chính là lý do thúc đẩy tôi tìm
hiểu sâu hơn về ngành giấy Việt Nam để có thể đóng góp một số giải pháp khắc
____________________________________________________________________
5
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
phục những hạn chế còn tồn tại của ngành giấy, đưa ngành giấy bắt kịp với xu thế
hội nhập kinh tế khu vực của cả nước hiện nay.
Tôi đã chọn đề tài: "Ngành giấy Việt Nam trước những thách thức hội
nhập kinh tế khu vực châu Á" cho luận văn tốt nghiệp của mình. Luận văn bao
gồm các phần sau:
Chương I: Thực trạng sản xuất kinh doanh của ngành giấy khu vực châu
Á
Chương II: Thực trạng sản xuất kinh doanh của ngành giấy Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực
Chương III: Các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành giấy
Việt Nam trước những thách thức hội nhập kinh tế khu vực
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thạc sĩ Phạm Thu
Hương, xin cảm ơn Khoa Kinh tế ngoại thương đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi
hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình
Hà Nội ngày 7/12/2003
Sinh viên
Bùi Thị Quỳnh Trang
____________________________________________________________________
6
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
KTNT
____________________________________________________________________
35 triệu EURO. Dự án nhà máy bột giấy KonTum đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt theo Quyết định số 873/QĐ-TTg ngày 13/09/1999 cũng là một ví dụ. Với
công suất 130.000 tấn/năm, tổng mức đầu tư cho dự án dự kiến đã là 239,5 triệu
USD và trên thực tế có thể còn lớn hơn.
Thứ hai, chi phí đầu tư lớn khiến cho thời gian thu hồi vốn kéo dài, vốn quay
vòng rất chậm. Với chi phí đầu tư cho mỗi dây chuyền sản xuất lớn như vậy, được
tính bằng con số hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu USD thì doanh thu của toàn
Tổng công ty giấy Việt Nam dường như quá khiêm tốn. Năm 1995, tổng doanh thu
của Tổng công ty là 1.306 tỷ VND, đến năm 1998 lên tới 2.274 tỷ VND, năm 1999
đạt 2.100 tỷ VND... Với doanh thu như vậy thì liệu đến bao giờ máy móc mới được
khấu hao hết?
Hơn nữa, khả năng sinh lời của ngành giấy lại không cao. Lợi nhuận thu về rất
nhỏ so với tổng doanh thu. Tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành giấy rất
thấp, chỉ đạt 1%-2%, thấp hơn rất nhiều so với các ngành công nghiệp khác.
Vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, khả năng sinh lời không cao, vậy tại
sao nhiều nước vẫn tiếp tục đầu tư để duy trì và phát triển ngành công nghiệp sản
xuất bột giấy và giấy? Nguyên nhân là bởi ngành này mặc dù còn nhiều hạn chế
như vậy nhưng lại có nhiều tác động tới quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
của từng địa phương nói riêng và cả quốc gia nói chung.
Tác động tới nền kinh tế đất nước và phát triển kinh tế địa phương
Thứ nhất, hàng năm ngành giấy đã đóng góp trực tiếp cho ngân sách của Nhà
nước thông qua việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp
thuộc ngành giấy phải nộp các loại thuế: thuế lợi tức, thuế doanh thu, thuế giá trị gia
tăng cho chính quyền địa phương và trung ương.
Thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất giấy tiêu thụ rất nhiều nguyên vật liệu sản
xuất trong nước như nguyên liệu giấy (gỗ, tre, nứa...), than, bột đá, muối,... Điều này
đồng nghĩa với việc góp phần làm tăng sản lượng, tạo công ăn việc làm và thu nhập
cho những người cung cấp nguyên nhiên vật liệu nội địa như khai khoáng, lâm
các sản phẩm của các ngành công nghiệp khác. Trước tiên phải kể đến ngành động
lực và cơ khí. Để phát triển công nghiệp bột giấy và giấy, cần phải trang bị rất nhiều
loại máy móc trang thiết bị như máy xeo giấy, máy tráng, hệ thống ép, sấy,... có giá
trị rất lớn. Muốn nâng cao hiệu quả và năng suất lao động phải sử dụng các sản
____________________________________________________________________
9
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
phẩm của ngành điều khiển và tin học. Đặc biệt trong công nghiệp giấy sử dụng rất
nhiều các sản phẩm của ngành hoá chất như xút, sunfat, perôxit hyđrô, silicat natri,...
ngay từ công đoạn đầu tiên sản xuất bột giấy cho đến những công đoạn sau này.
Ngay cả những thành tựu của công nghệ sinh học cũng đã được áp dụng rất triệt để
vào các công đoạn của quá trình sản xuất giấy. Trước tiên là áp dụng vào việc tạo
giống cây trồng. Công nghệ sinh học giúp các nhà nghiên cứu tạo ra được những
giống cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng, cho năng suất cao, có
vòng đời ngắn, kỹ thuật chăm sóc đơn giản thay thế cho những loại cây lấy gỗ
truyền thống trước đây, ví dụ như các dòng vô tính bạch đàn (PN2, PN14, PND3,
GU8, U6), các dòng vô tính keo lai (BV10, BV16, BV32) và nhiều dòng khác đang
được khảo nghiệm hoặc đã đưa vào sản xuất đại trà. Ngoài ra công nghệ sinh học
còn tạo ra nhiều chế phẩm ứng dụng trực tiếp vào sản xuất giấy như các loại enzym
dùng trong công nghệ tẩy trắng bột giấy, ...
Không chỉ vậy, ngành giấy còn góp phần làm hình thành nên một số ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khác. Đó là ngành gia công, chế biến các sản
phẩm từ giấy của các nhà máy như: xén, kẻ giấy, đóng tập vở, làm bìa cáctông,...
Thứ ba, ngành giấy sản xuất ra các sản phẩm như giấy viết, giấy in, giấy
photocopy, khăn giấy, các loại giấy chuyên dụng,... đáp ứng nhu cầu trong nước
phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất kinh doanh. Việc tự đáp ứng được nhu cầu trong
nước sẽ góp phần giảm được nhập khẩu giấy, tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước.
của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997, do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm
dẫn đến nhu cầu giấy và năng lực sản xuất giấy cũng bị giảm sút đáng kể, trừ một số
nước như Trung Quốc, Việt Nam.
Thêm nữa, sự bùng nổ của dịch viêm phổi cấp tính (SARS) trong thời gian
vừa qua đã gây nên ảnh hưởng tiêu cực đối với công nghiệp bột giấy và giấy châu Á.
Trung Quốc, Hồng Kông và Xingapo là những quốc gia được báo cáo là có tỷ lệ
nhiễm dịch cao nhất khu vực và nền kinh tế của các nước này đã và đang phải hứng
chịu hậu quả trực tiếp của bệnh dịch.
Cáctông hòm hộp là sản phẩm bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Trong tháng 6-
2003, dịch bệnh lên đến đỉnh điểm đã khiến cho nhiều hoạt động mua bán bị đình
____________________________________________________________________
11
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
trệ. Ngay từ cuối tháng 4-2003, một số ít nhà cung cấp Trung Quốc đã giảm giá
OCC (cáctông hòm hộp cũ) xuống 10 USD/tấn nhằm tăng sức mua của khách hàng
nhưng động thái này dường như không mấy hiệu quả. Hàng loạt hội chợ thương mại
tại Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Xingapo bị huỷ bỏ do sự bùng nổ của
SARS. Hệ quả là nhiều nhà sản xuất hàng tiêu dùng như đồ điện tử, đồ điện và đồ
gia dụng đã phải cắt giảm sản xuất trong thời gian này khiến cho nhu cầu về cáctông
hòm hộp giảm sút.
Giấy bao gói cũng bị ảnh hưởng. Mặc dù sản phẩm này không bị ảnh hưởng
mạnh mẽ như cáctông hòm hộp sau khi nhiều hội chợ bị huỷ bỏ nhưng nhiều hợp
đồng đã không được ký kết. Tuy nhiên, trong thời gian qua mức độ tiêu dùng sản
phẩm dược tăng mạnh nên đã bù đắp được phần nào tổn thất trên. Giấy bao gói hiện
vẫn đang là vật liệu bao gói chủ yếu của sản phẩm dược châu Á.
Giấy in báo giảm sút. Tỷ lệ thu thập và quay vòng của giấy báo cũ và nhu cầu
tiêu thụ giấy in báo vẫn ở mức thấp. Các nhà sản xuất và buôn bán giấy in báo trong
Nhật Bản đang phát triển trồng nguyên liệu tại các nước như Ôtxtrâylia, Chi Lê,
Trung Quốc, Nam Phi và Việt Nam. Hiện nay, Nhật Bản là nước có sản lượng giấy
cao thứ hai trên thế giới, đạt 30,7 triệu tấn giấy và 10,8 triệu tấn bột giấy năm 2001.
Ngành giấy Nhật Bản đã thành lập Hiệp hội giấy Nhật Bản bao gồm 44 thành
viên, các thành viên hầu hết là các công ty lớn. Mỗi công ty này có hơn 400 công ty
vừa và nhỏ trực thuộc. Nguồn thu nhập duy nhất cho hoạt động của Hiệp hội này là
lệ phí của các hội viên, bình quân khoảng 1 tỷ Yên mỗi năm. Nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học và đầu tư phát triển do từng doanh nghiệp tự tổ chức vì đây là các đơn vị
rất lớn, có mục tiêu, mặt hàng và thị trường khác nhau. Việc tổ chức nghiên cứu
riêng sẽ thuận lợi hơn cho mỗi đơn vị và đầu tư sát với mục tiêu, đặc điểm riêng và
tránh được tình trạng lãng phí.
Đối với vấn đề môi trường, Nhật Bản đang hướng tới một "Kế hoạch hành
động đầy thiện chí vì môi trường", trong đó mục tiêu chủ yếu là giảm thiểu số lượng
tiêu thụ năng lượng đến năm 2010 là 10% so với năm 1990 (đến năm 200 đã giảm
được 7,2% so với năm 1990), mở rộng diện tích rừng trồng trong nước và ở nước
ngoài đến năm 2010 là 550.000 ha (hiện là trên 400.000 ha) và gia tăng tỷ lệ sử dụng
giấy vụn tái chế tới 60% vào năm 2005 (năm 2001 là 58%).
Trung Quốc
____________________________________________________________________
13
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
Sơn Đông, Hà Nam, Triết Giang, Quảng Đông, Hà Bắc và Giang Tô là sáu
tỉnh có nền công nghiệp giấy lớn nhất Trung Quốc. Chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm
2001, sản lượng giấy bìa của 6 tỉnh này đã đạt 14,418 triệu tấn chiếm 70% tổng sản
lượng của toàn Trung Quốc.
Tỉnh Sơn Đông: Trong nhiều năm trở lại đây Sơn Đông luôn chiếm vị trí số 1
về sản lượng bìa Trung Quốc. Giấy văn hoá là sản phẩm chủ đạo nhưng Sơn Đông
giấy bìa, cáctông. Theo thống kê, trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 có
thêm 33 máy xeo bìa, cáctông mới với công suất tối thiểu mỗi dây chuyền xeo là
50.000 tấn/năm.
Bảng 1:
Công suất bìa cáctông của Trung Quốc gia tăng trong giai đoạn 2000-2004
(chỉ tính máy xeo có công suất >50.000 tấn/năm)
Năm đầu tư Số lượng máy xeo Công suất (1.000 tấn)
2000 6 965
2001 6 720
2002 12 1990
2003 6 1010
2004 3 1200
(Nguồn: Tạp chí Công nghiệp giấy số 121 tháng 1/2003)
Như vậy, có thể thấy tổng công suất sản xuất bìa cáctông của Trung Quốc
trong giai đoạn 2000-2004 sẽ tăng khoảng 4,2 triệu tấn, trong đó khoảng 2 triệu tấn
gia tăng công suất là của các dự án đầu tư trong năm 2002.
Năm 2002, một lần nữa Trung Quốc lại dẫn đầu khu vực với việc khởi chạy
các dây chuyền mới, gia tăng các công suất giấy, bìa mới trong khu vực. Trong năm
2002 đã có trên 1,6 triệu tấn công suất mới cáctông hòm hộp đi vào hoạt động ở đất
nước này. Chỉ tính riêng thành phố Đông Quan (Quảng Đông) đã có tới hai dây
chuyền cáctông hòm hộp của Nine Dragons - 400.000 tấn/năm và Lee & Man -
____________________________________________________________________
15
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
300.000 tấn/năm được đưa vào sản xuất thương mại năm 2002. Riêng công ty Nine
Dragons trong năm 2002 đã lên kế hoạch đầu tư khổng lồ với tổng công suất cáctông
hòm hộp mới lên tới 3 triệu tấn /năm. Dây chuyền đầu tiên PM5 của kế hoạch này
Công nghiệp giấy của Hàn Quốc nhờ sự phục hồi của xuất khẩu, đang trên đà
tăng trưởng mạnh mặc dù tình hình suy thoái kinh tế vẫn tiếp tục. Theo KPMA thì
sản lượng giấy sản xuất trong nước chỉ riêng quý I đã đạt 3,41 triệu tấn, tăng 8,6%
so với năm 2002. Nhu cầu giấy trong nước cũng tăng 5,8% lên 2,53 triệu tấn trong
quý đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước. Ngành giấy đang dẫn đầu về tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu trong các ngành công nghiệp, với tỉ lệ tăng trưởng 17%, lên
875.000 tấn. Trong những tháng đầu năm 2003, cả sản lượng, nhu cầu nội địa và
kim ngạch xuất khẩu ngành giấy đều vượt qua con số tương ứng đạt được trong năm
2002.
Tuy vậy, các nhà sản xuất trong nước vẫn tiếp tục lên kế hoạch điều chỉnh chi
phí để chuẩn bị mở cửa toàn diện thị trường giấy bắt đầu từ đầu năm 2004 theo cam
kết với Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Thuế suất của WTO đối với giấy nhập
khẩu hạ từ 8% xuống 7,5% trong năm 2001, tiếp tục giảm xuống 2,5% trong năm
nay và sẽ bỏ thuế nhập khẩu từ năm 2004.
Trong tương lai, Hàn Quốc sẽ tiếp tục có những biện pháp gia tăng nhu cầu
tiêu thụ giấy ở thị trường nội địa và xuất khẩu, tăng cường đầu tư máy móc thiết bị,
dịch vụ kỹ thuật để nước này trở thành nước sản xuất giấy thứ 9 thế giới. Mục tiêu
những năm tới của Hàn Quốc là phát triển đa dạng hoá nhiều loại mặt hàng có giá trị
thay vì gia tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng mẫu mã các loại sản phẩm để
tăng ưu thế cạnh tranh.
Inđônêxia
Những nỗ lực tái cơ cấu khoản nợ khổng lồ của Công ty bột giấy và giấy châu
Á APP (Asia Pulp & Paper) Inđônêxia trong năm 2002 là tâm điểm chú ý của ngành
công nghiệp giấy của toàn khu vực và châu lục. Nỗ lực tái cơ cấu khoản nợ lên đến
13,9 tỷ USD của APP được Ngân hàng tái thiết Inđônêxia (IBRA) hỗ trợ đã giữ một
vai trò chủ đạo trong kế hoạch trả nợ của công ty. Mặc dù đang phải gánh một
khoản nợ rất lớn nhưng APP vẫn quyết định tiến hành thực hiện dự án xây dựng một
____________________________________________________________________
17
chú trọng đến việc đạt được các chứng chỉ quốc tế như ISO 9001/9002, 14001 và
____________________________________________________________________
18
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
18001. Trong gần 10 năm liền, tổ chức SIDA (Thuỵ Điển) đã giúp đỡ nước này về
môi trường trong lĩnh vực sản xuất giấy. Giai đoạn 4 của dự án do SIDA tổ chức tập
trung vào việc hoàn thiện những điều luật mang tính hướng dẫn cho ngành công
nghiệp đặc trưng, áp dụng rộng rãi tiêu chuẩn BAT (Best Available Technology)
cho tất cả các ngành công nghiệp giâý và bột giấy sau này. Mục tiêu trong những
năm tới của Philippin là gia tăng lượng sử dụng bột giấy từ giấy loại tái chế, tăng
chủng loại mặt hàng và giảm bớt nhập khẩu, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng,
giảm chi phí sản xuất, tăng cường cho công tác nghiên cứu khoa học và đầu tư phát
triển, computer hoá hệ thống kiểm soát vận hành, mở rộng các nhà máy hiện có, mở
rộng quan hệ với các nước ASEAN, thúc đẩy chính quyền dành sự công bằng về
kinh doanh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường (chủ yếu là nước thải).
2. Tình hình xuất nhập khẩu mặt hàng giấy
2.1. Thị trường bột giấy
Cuối năm 2002 và đầu năm 2003, nhu cầu bột giấy của các nước châu Á suy
giảm khiến cho giá bột giấy giao ngay và bột giấy theo hợp đồng kỳ hạn, nhất là bột
gỗ cứng đều sụt giảm. Chuyển động giảm giá mạnh nhất tại thị trường bột giấy châu
Á là ở thị trường Trung Quốc. Các khách hàng trên khắp châu Á đều muốn các nhà
cung cấp và nhà buôn giảm giá xuống ngang bằng với mức giá tại Trung Quốc.
Thị trường bột giấy châu Á vào quý II/2003 tương đối ổn định. Lượng hàng
dự trữ của các khách hàng châu Á luôn ở mức thấp do có tâm lý trông chờ vào sự
giảm giá hơn nữa sẽ diễn ra. Trong khi đó một nguyên nhân thúc đẩy giá gia tăng là
lượng hàng tồn kho của khu vực Norscan đã xuống thấp 1,475 triệu tấn.
Vào đầu quý III/2003, giá bột giấy thị trường châu Á đối với hợp đồng kỳ hạn
với sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ. Trong khi đó hãng Aracruz (Braxin) đã tăng giá bột
bạch đàn tại thị trường châu Á lên 20 USD/tấn từ 1/9/2003, đạt 470 USD/tấn.
2.2. Thị trường giấy loại
Trong quý II/2003, do nhu cầu suy giảm, nguồn cung gia tăng dẫn đến giá
giấy loại liên tục giảm giá tại thị trường châu Á. Mặc dù giá giảm nhưng khối lượng
giao dịch vẫn ở mức thấp. Thị trường cáctông hòm hộp và giấy in báo châu Á đang
trong tình trạng trì trệ nên tỷ lệ thu hồi cáctông hòm hộp cũ (OCC) và giấy báo cũ
(ONP) tại khu vực ở mức thấp.
____________________________________________________________________
20
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
Bảng 2:
Tình hình biến động giá cả giấy loại châu Á từ tháng 11/2002
đến tháng 8/2003
Đơn vị: USD/tấn, CIF cảng châu Á
Tháng 11/2002 12/2002 3/2003 4/2003 5/2003 8/2003
OCC 120-135 105-120 145-155 120-145 115-125 130-145
Lề kraft 2 lớp mới 130-150 130-150 150-165 150-165 150-165 160-175
ONP 140-155 125-140 150-160 135-145 120-130 130-135
Giấy loại hỗn hợp 90-105 90-105 115-120 115-120 95-105 110-115
Lề trắng lựa chọn 225-245 225-245 240-270 240-270 240-260 230-270
Lề trắng cứng 330-350 330-350 350-365 350-365 360-395 340-395
(Nguồn: Tạp chí Công nghiệp giấy năm 2002 và 2003)
Thị trường giấy loại châu Á thay đổi thất thường, nhất là giai đoạn cuối tháng
8/2003. OCC nhập khẩu từ Mỹ tăng giá trong tuần kết thúc vào ngày 22/8/2003
nhưng lại giảm ngay vào tuần sau đó.
Hiện tượng lên xuống thất thường của thị trường châu Á đã ảnh hưởng đến thị
làm giảm lượng giấy in báo theo hợp đồng giao ngay từ châu Âu. Điều này đã làm
ổn định thị trường và hỗ trợ cho việc tăng giá giấy.
Tại Malaixia, nhập khẩu giấy in báo đang bị lắng xuống do bị áp dụng thuế
chống bán phá giá đối với giấy nhập khẩu từ Canada, Inđônêxia, Hàn Quốc,
Philippin và Mỹ. Mức thuế chống bán phá giá 7,91%-43,24% được áp dụng từ tháng
6/2003. Nhưng trước đó các nhà nhập khẩu Malaixia đã tích trữ một lượng lớn khi
thuế chống bán phá giá còn chưa được ban hành và giá giấy in báo còn ở mức thấp.
Giấy tráng từ bột hoá
Thị trường giấy không tráng từ bột hoá liên tục giảm giá, trong khi đó giấy
tráng từ bột hoá lại có biến động ngược lại. Chính phủ Trung Quốc đã phát hiện ra
các công ty của Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ đã bán phá giá giấy tráng từ bột hoá nên
đã quyết định nâng mức thuế từ 5,58% lên đến 71,02%. Do tác động này mà trong
thời gian qua giấy tráng từ bột hoá nhập khẩu tại thị trường Trung Quốc liên tục tăng
giá. Lượng nhập khẩu đã bị giảm sút do các nhà cung cấp đã rút bớt sang các thị
trường châu Á khác mà không bị luật chống phá giá chi phối.
____________________________________________________________________
22
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
III. Dự báo nhu cầu của thế giới và khu vực đối với mặt hàng giấy
trong thời gian tới
1. Thị trường giấy
Theo dự báo dài hạn, nền kinh tế thế giới sẽ đạt tốc độ tăng trưởng 2,9%/năm.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt cao nhất sẽ là Trung Quốc, châu Á - Thái Bình
Dương và Đông Âu với mức 4-7%/năm. Các quốc gia phát triển sẽ đạt tốc độ phát
triển 1,5-2,6%/năm đến 2015. Tốc độ tăng trưởng cao sẽ thúc đẩy tiêu dùng các loại
hàng hoá. Giấy là một mặt hàng không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày nên
lượng tiêu thụ chắc chắn cũng sẽ tăng mạnh.
thác của thị trường này còn rất lớn.
Tiêu thụ khăn giấy bình quân đầu người trên toàn thế giới vào khoảng 3,4kg.
Một số nhà dự báo cho rằng nhu cầu khăn giấy trên toàn thế giới sẽ tăng bình quân
3,2%/năm đến năm 2010. Như vậy có nghĩa là thị trường khăn giấy sẽ tăng thêm
khoảng 30 triệu tấn chỉ trong vòng 7 năm tới. Sự tăng trưởng mạnh nhất sẽ tập trung
ở Trung Quốc và một số khu vực ở châu Á, nơi có mức sống và thu nhập có thể sẽ
tăng theo sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Giấy bìa
Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm giấy bìa trên toàn thế giới được dự báo sẽ đạt
453 triệu tấn vào năm 2015. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 2,2% với
khối lượng giao dịch cụ thể đạt trên 200 triệu tấn.
Dự báo đến năm 2015, gia tăng tiêu thụ các sản phẩm giấy, bìa sẽ đạt mức cao
nhất tại châu Á, khoảng 66 triệu tấn và 171 triệu tấn, chiếm trên 50% mức tăng
trưởng tiêu thụ toàn cầu trong giai đoạn 2000-2015. Châu Á sẽ chiếm 38% trong
tổng mức tiêu thụ giấy toàn cầu vào năm 2015. Khu vực Tây Âu sẽ đạt mức tăng
tiêu thụ 22 triệu tấn và Bắc Mỹ là 12 triệu tấn vào năm 2015.
Giấy bao gói
Thị trường giấy bao gói sẽ có nhiều thay đổi, cáctông hòm hộp và các ngành
công nghiệp liên quan sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa hòm hộp
cáctông sóng và các loại vật liệu bao gói mới khác.
____________________________________________________________________
24
Luận văn tốt nghiệp Bùi Thị Quỳnh Trang-A4 K38
KTNT
____________________________________________________________________
Thị trường hiện nay đã hướng tới nhu cầu sử dụng cáctông hòm hộp chất
lượng cao thay cho việc sử dụng cáctông nhiều mức chất lượng như trước đây. Các
công ty đa quốc gia khi xuất khẩu hàng hoá đều cần các sản phẩm cáctông hòm hộp
cóchất lượng cao, do đó xu hướng sử dụng các sản phẩm cáctông chất lượng cao sẽ