Đề tài "Những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam giai đoạn 2001-2005 " - Pdf 72

----------
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài : Những giải pháp nhằm đẩy
nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam
giai đoạn 2001-2005


thúc đẩy tốc độ giải ngân ODA, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
2
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận, bài Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
này được bố cục như sau:
Chương I : Cơ sở lý luận chung về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) và giải ngân vốn ODA.
Chương II : Đánh giá tổng quan về tình hình giải ngân nguồn vốn ODA
tại Việt Nam giai đoạn 1993-1999.
Chương III : Những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân ODA
giai đoạn 2001-2005.


thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các
nước đang và chậm phát triển.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
4
Nguồn vốn đưa vào các nước đang và chậm phát triển được thực hiện
qua nhiều hình thức:
-Tài trợ phát triển chính thức ( Official Development Finance - ODF ) là
nguồn tài trợ chính thức của chính phủ cho mục tiêu phát triển. Nguồn vốn
này bao gồm ODA và các hình thức ODF khác, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu
trong nguồn ODF.
-Tín dụng thương mại từ các ngân hàng ( Commercial Credit by Bank )
là nguồn vốn chủ yếu nhằm hỗ trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu, thương
mại...
-Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Invesment - FDI ) là loại
hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn tự thiết lập cơ sở sản xuất,
kinh doanh cho riêng mình, tự đứng ra làm chủ sở hữu, tự quản lý hoặc thuê
người quản lý (đầu tư 100% vốn ), hoặc góp vốn với một hay nhiều xí nghiệp
của nước sở tại thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh, rồi cùng các đối tác của
mình làm chủ sở hữu và cùng quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này ( xí
nghiệp liên doanh ).
-Viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ ( Nongovernment
Organisation - NGO ).
-Tín dụng tư nhân: loại vốn này có ưu điểm là hầu như không gắn với
các ràng buộc chính trị - xã hội, song các điều kiện cho vay khắt khe ( thời
hạn hoàn trả vốn ngắn và mức lãi suất cao), vốn được sử dụng chủ yếu cho
các hoạt động xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn. Vốn này cũng được
dùng cho đầu tư phát triển và mang tính dài hạn. Tỷ trọng của vốn dài hạn
trong tổng số có thể tăng lên đáng kể nếu triển vọng tăng trưởng lâu dài, đặc
biệt là tăng trưởng xuất khẩu của nước đi vay là khả quan.
Các dòng vốn quốc tế này có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Nếu

của mình nhằm thực hiện những toan tính khác.
-ODA có thể được các nhà tài trợ cung cấp dưới dạng tài chính, cũng có
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
6
khi là hiện vật. Hiện nay, ODA có ba hình thức cơ bản là viện trợ không hoàn
lại (Ggant Aid), vốn vay ưu đãi ( Loans Aid ) và hình thức hỗn hợp.
2-Phân loại ODA
2.1-Phân loại theo tính chất
-ODA không hoàn lại : Đây là nguồn vốn ODA mà nhà tài trợ cấp cho
các nước nghèo không đòi hỏi phải trả lại. Cũng có một số nước khác được
nhận loại ODA này khi gặp phải các vấn đề nghiêm trọng như thiên tai, dịch
bệnh...
Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn này thường được cấp dưới
dạng các dự án hỗ trợ kỹ thuật, các chương trình xã hội hoặc hỗ trợ cho công tác
chuẩn bị dự án. ODA không hoàn lại thường là các khoản tiền nhưng cũng có
khi là hàng hoá, ví dụ như lương thực, thuốc men hay một số đồ dùng thiết yếu.
ODA không hoàn lại thường ưu tiên và cung cấp thường xuyên cho lĩnh
vực giáo dục, y tế. Các nước Châu Âu hiện nay dành một phần khá lớn ODA
không hoàn lại cho vấn đề bảo vệ môi trường, đặc biệt là bảo vệ rừng và các
loài thú quý.
-ODA vốn vay ưu đãi : đây là khoản tài chính mà chính phủ nước nhận
phải trả nước cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay ưu đãi. Tính ưu đãi của
nó được thể hiện ở mức lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại vào thời điểm
cho vay, thời gian vay kéo dài, có thể có thời gian ân hạn. Trong thời gian ân
hạn, nhà tài trợ không tính lãi hoặc nước đi vay được tính một mức lãi suất
đặc biệt. Loại ODA này thường được nước tiếp nhận đầu tư vào các dự án cơ
sở hạ tầng xã hội như xây dựng đường xá, cầu cảng, nhà máy...Muốn được
nhà tài trợ đồng ý cung cấp, nước sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên
các cơ quan có thẩm quyền của chính phủ nước tài trợ. Sau khi xem xét khả
thi và tính hiệu quả của dự án, cơ quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê

-Hỗ trợ dự án: Đây là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án
cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
8
hoặc cho vay ưu đãi.
-Hỗ trợ phi dự án: Là loại ODA được nhà tài trợ cung cấp trên cơ sở tự nguyện.
Nhận thức về các vấn đề bức xúc ở nước sở tại, nhà tài trợ yêu cầu chính
phủ nước sở tại được viện trợ nhằm tháo gỡ những khó khăn đó. Khi được
chính phủ chấp thuận thì việc viện trợ được tiến hành theo đúng thoả thuận
của hai bên. Loại ODA này thường được cung cấp kèm theo những đòi hỏi từ
phía chính phủ nước tài trợ. Do đó, chính phủ nước này phải cân nhắc kỹ các
đòi hỏi từ phía nhà tài trợ xem có thoả đáng hay không. Nếu không thoả đáng
thì phải tiến hành đàm phán nhằm dung hoà điều kiện của cả hai phía. Loại
ODA này thường có mức không hoàn lại khá cáo, bao gồm các loại hình sau:
+Hỗ trợ cán cân thanh toán: Trong đó thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp
(chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hay hỗ trợ xuất nhập khẩu. Ngoại
tệ hoặc hàng hoá được chuyển vào qua hình thức này có thể được sử dụng để
hỗ trợ cho ngân sách.
+Hỗ trợ trả nợ: Nguồn ODA cung cấp dùng để thanh toán những món nợ
mà nước nhận viện trợ đang phải gánh chịu.
+Viện trợ chương trình: Là khoản ODA dành cho một mục đích tổng
quát với thời gian xác định mà không phải xác định chính xác nó sẽ được sử
dụng như thế nào.
3-Nguồn gốc lịch sử của ODA
Sau Đại chiến thế giới lần thứ II, nền kinh tế thế giới lâm vào tình trạng
khủng hoảng nghiêm trọng. Nhiều nước tham chiến bị thiệt hại nặng nề về cả
người và của. Với mục đích vực dậy nền kinh tế thế giới, nhiều tổ chức tài
chính quốc tế đã được thành lập vào thời kỳ này. Một trong những kế hoạch
tái thiết kinh tế lúc đó là kế hoạch Marshall, tiền thân của hình thức hỗ trợ
phát triển chính thức sau này, có mục đích là hỗ trợ các nước châu Âu khôi

hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam hầu như không nhận được sự viện trợ
trực tiếp từ các nước thuộc DAC mà chỉ nhận gián tiếp thông qua các tổ chức
phi chính phủ và Liên Hợp Quốc. Việt Nam trong nhiều năm liền chủ yếu
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
10
nhận viện trợ từ Liên Xô và các nước Đông Âu. Thời kỳ này việc cung cấp
ODA chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tố chính trị.
Sau khi Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã, các
nước Xã hội chủ nghĩa khác đã phải tiến hành cải cách chính trị cho phù hợp
với tình hình mới, các nước tư bản đã nối lại viện trợ cho Việt Nam, Trung
Quốc và Cuba. Nhìn chung hiện nay, vấn đề chính trị không còn ảnh hưởng nhiều
tới việc cung cấp ODA nữa. Nhờ những cải cách mang tính chất tích cực, nước ta
nhận được sự ủng hộ ngày càng lớn của cộng đồng các nhà tài trợ.
Trong những năm qua, hoạt động của viện trợ chính thức đã góp nhiều
công sức cho việc phát triển kinh tế toàn thế giới và giảm khoảng cách giàu
nghèo giữa các quốc gia. Một số nước đã vươn lên từ đói nghèo và lạc hậu
như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mêhicô... đã chứng minh cho những thành công
của ODA trên thế giới. Bên cạnh đó, ODA trong những năm qua còn bộc lộ
nhiều khiếm khuyết. Tuy vậy nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong con đường
phát triển của toàn nhân loại.
4- Vai trò của ODA đối với các nước đang phát triển:
Trong mỗi xã hội luôn tồn tại sự hoạt động của các ngành, các lĩnh vực
không sinh lợi. Chẳng hạn như trong lĩnh vực môi trường, các công nhân thu
dọn vệ sinh có thể bị coi là "ăn bám" xã hội bởi lẽ công việc của họ chẳng làm
ra một đồng của cải nào cho xã hội cả. Thế nhưng chỉ thiếu họ một tuần hay
một ngày thôi thì mùi xú uế sẽ bốc lên nồng nặc cả thành phố. Có hay không
tồn tại của một công viên cây xanh cũng chẳng phải là vấn đề sống còn của
bất cứ ai, nhưng nếu không có nó thì mọi người sẽ không có chỗ nghỉ ngơi,
giải trí sau những giờ làm việc căng thẳng. Đây là những lĩnh vực mà tư nhân
hầu như không quan tâm đầu tư mặc dù nó giữ vai trò thiết yếu đối với bất kỳ

Có thể nói, một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt sẽ là nền tảng cho sự phát
triển của một đất nước. Tuy nhiên, hầu hết các nước đang phát triển có hệ
thống cơ sở hạ tầng lạc hậu, không đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
12
tế. Hiện nay, xu hướng chung của các nước đang phát triển là tìm cách thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI và ODA), bổ sung cho nguồn vốn eo hẹp
trong nước. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có ưu điểm là khối
lượng vốn đầu tư lớn và nước tiếp nhận không phải chịu gánh nặng nợ nần.
Nhưng nếu muốn thu hút được nhiều nguồn vốn FDI thì đòi hỏi các nước
đang phát triển phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, một môi trường kinh
doanh thuận lợi. Đây là những yếu tố mà các nước đang phát triển còn thiếu.
Nếu chỉ thu hút riêng vốn FDI thì không đủ nhu cầu ngày càng cao về vốn
cho phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, phải thu hút nguồn vốn ODA để bổ
sung nhu cầu về vốn. ODA có ưu điểm là nước tiếp nhận được chủ động trong
việc sử dụng nguồn vốn này vào những lĩnh vực mà mình quan tâm. Ngoài
việc sử dụng vốn ODA để giải quyết các vấn đề khác của đất nước thì ODA
có thể tập trung cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, làm cho môi trường kinh
doanh thuận lợi hơn. Điều này sẽ góp phần tích cực tăng khả năng thu hút
nguồn vốn FDI của các nước đang phát triển.

II- SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ ĐẨY NHANH TIẾN
ĐỘ GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM
1-Một số hình thức chủ yếu của ODA ở Việt Nam
1.1-Hỗ trợ theo chương trình
Hình thức này thường tập trung giải quyết các vấn đề xã hội như y tế,
giáo dục và các vấn đề xã hội khác... Các chương trình thường được phía nhà
tài trợ chủ động đề xuất.
Đối với lĩnh vực y tế, một số chương trình chủ yếu của hình thức này là

Chi ngân sách của nước ta thời gian qua thường lớn hơn thu hàng chục
ngàn tỷ đồng mỗi năm. Bội chi ngân sách cũng là tình trạng chung của các
nước đang phát triển. Các nhà tài trợ đã sử dụng hình thức hỗ trợ cán cân
thanh toán như một công cụ để giữ vững sự ổn định của thị trường tài chính
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
14
quốc tế và giúp đỡ một phần chính phủ các nước đang phát triển giảm nhẹ
gánh nặng bội chi ngân sách. Hình thức này chưa phát triển ở Việt Nam và
chủ yếu được thực hiện bằng các khoản vay ưu đãi nhỏ.
1.4-Hỗ trợ kỹ thuật
Đây là một hình thức ODA quan trọng, đặc biệt là đối với những nước
có trình độ kỹ thuật lạc hậu như Việt Nam. Hình thức này được thực hiện
dưới dạng các chương trình hợp tác kỹ thuật như: chương trình cử chuyên gia,
chương trình đào tạo cán bộ kỹ thuật, chương trình cung cấp trang thiết bị...
Thời gian qua, các chương trình này đã đóng góp một phần quan trọng vào
việc nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật và đẩy nhanh quá trình
chuyển giao công nghệ ở Việt Nam.
2-Sự cần thiết phải tăng cường thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải
ngân nguồn vốn ODA để phát triển nền kinh tế Việt Nam
Đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, đất nước ta còn nghèo nàn và lạc
hậu, hiện nay chúng ta chưa có đủ các tiền đề cần thiết cho một sự phát triển
bền vững.
Để phát triển nền kinh tế với tốc độ nhanh trong khi nền kinh tế nhỏ bé
đang thiếu vốn nghiêm trọng và tiết kiệm trong nước còn quá thấp thì cần
phải bổ sung vốn đầu tư bằng khối lượng lớn nguồn vốn nước ngoài. Huy
động vốn nước ngoài rất cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, phát triển nền kinh tế để hoà nhập với kinh tế thế giới, trong đó tranh thủ
vốn ODA là một chủ trương lớn của nước ta từ giai đoạn mở cửa.
Các công trình thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay đã
xuống cấp nghiêm trọng, không thể duy trì phát triển kinh tế lâu dài. Hệ thống

trong hơn 10 năm qua, quan hệ sản xuất tỏ ra phù hợp hơn, lực lượng lao
động được giải phóng, nến kinh tế trong nước phát triển cả chiều rộng lẫn
chiều sâu, về cơ bản nền kinh tế đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài hàng
chục năm qua. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất lớn trong công
cuộc phát triển kinh tế đất nước, tuy nhiên bên cạnh đó nó cũng bộc lộ những
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
16
mặt hạn chế. Nhà đầu tư chỉ quan tâm bỏ vốn đầu tư vào những lĩnh vực có
khả năng sinh lợi và hiệu quả kinh tế nhanh. Điều này đã gây ra sự phát triển
mất cân đối trong nền kinh và không thực hiện được nhiều mục tiêu kinh tế-
xã hội khác. Ngoài ra còn có nguy cơ mất ổn định nền kinh tế, cuộc khủng
hoảng tài chính năm 1997 vừa qua của các nước khu vực Đông Nam Á là một
minh chứng cụ thể.
Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng
đặc biệt của nguồn vốn ODA đối với tiến trình phát triển nền kinh tế- xã hội
của đất nước. Do đó, phải tăng cường khả năng thu hút và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn này. Hiện nay, việc giải ngân chậm đang là một tồn tại rất lớn
cần sớm được khắc phục.
Thời gian qua, Việt Nam đã khá thành công trong việc vận động, thu hút
nguồn vốn ODA thông qua việc tổ chức Hội nghị các nhà tài trợ (CG). Kết
quả của những nỗ lực trên là 15,14 tỷ USD vốn ODA mà cộng đồng các nhà
tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam trong giai đoạn 1993-1999. Tuy nhiên,
muốn có được số vốn này để đầu tư vào các chương trình, dự án thì còn là
một quá trình từ xác định dự án, chuẩn bị dự án, thẩm định dự án, đàm phán
vay vốn và phê duyệt khoản vay cho tới thực hiện dự án. Có thể hiểu, để đưa
những đồng vốn ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết vào thực hiện các
chương trình, dự án chính là quá trình giải ngân vốn ODA. Như vậy, muốn
tận dụng tốt nguồn vốn ODA, biến những cam kết của các nhà tài trợ thành
hiện thực, chúng ta phải giải quyết triệt để những yếu tố gây cản trở quá trình
giải ngân nguồn vốn này. Có tăng được tỷ lệ giải ngân thì việc thu hút nguồn

cấu kinh tế mở rộng, Quỹ Miyazawa...
Một số chương trình, dự án ODA thực hiện xong và hiện đang phát huy
tác dụng tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam như
Nhà máy nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên Phú Mỹ 2 - giai đoạn 1 (công
suất 400 MW). Một số công trình giao thông quan trọng đã đưa vào sử dụng
và phát huy hiệu quả như Quốc lộ 5; Quốc lộ 1A đoạn Hà Nội - Vinh, đoạn
TPHCM - Cần Thơ, đoạn TPHCM - Nha Trang. Cảng Hải Phòng; các hệ
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
18
thống cung cấp nước sinh hoạt ở Hà Nội, Lào Cai, Hoà Bình... Nhiều bệnh
viện ở các thành phố và thị xã như Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí
Minh), Việt Đức (Hà Nội) và 9 bệnh viện ở Hà Nội... Chương trình tiêm
chủng mở rộng quốc gia, các chương trình y tế khác (chống sốt rét, bướu cổ,
AIDS - HIV...) được thực hiện có hiệu quả. Nhiều trường học nhất là các
trường tiểu học ở các tỉnh hay bị bão, lũ lụt ở miền Bắc và miền Trung đã
được xây dựng.
Như vậy, ODA đã tham gia vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội,
ODA đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển
của Việt Nam. Trong Văn kiện Đại Hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 8 đã
chỉ rõ: "Tranh thủ thu hút nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA) đa
phương và song phương, tập trung chủ yếu cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế và xã hội, nâng cao trình độ khoa học công nghệ và quản lý đồng thời
dành một phần vốn tín dụng đầu tư cho các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, sản
xuất hàng tiêu dùng. Ưu tiên dành viện trợ không hoàn lại cho những vùng
chậm phát triển. Các dự án sử dụng vốn vay phải có phương án trả nợ vững
chắc, xác định rõ trách nhiệm trả nợ, không được gây thêm gánh nặng nợ nần
không trả được. Phải sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả và kiểm tra, quản
lý chặt chẽ, chống lãng phí, tiêu cực".
I-TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM TRONG MỐI QUAN
HỆ VỚI NGUỒN VỐN ODA
1-Những chuyển biến về kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời
gian qua
Trước thời kỳ đổi mới (trước năm 1986), nền kinh tế nước ta lâm vào
cuộc khủng hoảng nghiêm trọng. Việt Nam bị xếp vào một trong 10 nước
chậm phát triển nhất thế giới với thu nhập dưới 200 USD/ người . Nhập siêu
liên tục gia tăng, nợ nước ngoài hầu như không có khả năng trả. Cơ chế bao
cấp bộc lộ nhiều khuyết điểm và không còn phù hợp. Tệ quan liêu, bao cấp,
cửa quyền hoành hành trong bộ máy tổ chức Nhà nước làm cho nền dân chủ
bị vi phạm nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Kẻ địch đã tận dụng cơ hội này để
gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng. Đứng trước nguy cơ đó, năm 1986,
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
20
Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá như sau:
"Cơ chế tập trung quan liêu dựa trên bao cấp của Nhà nước được thực
hiện từ nhiều năm nay, đã không tạo được động lực phát triển, lại còn làm
suy yếu nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các
thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, giảm sút năng suất , chất lượng
sản phẩm và hiệu quả kinh tế, đẩy phân phối và lưu thông vào tình trạng rối
loạn và làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội chúng ta."
Kết luận quan trọng này đã mở đầu giai đoạn tăng cường công cuộc đổi
mới ở Việt Nam. Quyết định đổi mới toàn diện, mở cửa hội nhập với nền kinh
tế thế giới của Đảng là tiền đề để các nhà tài trợ hướng tới Việt Nam. Khối
lượng lớn nguồn vốn ODA mà Việt Nam nhận được kể từ năm 1993 thể hiện
sự quan tâm, ủng hộ của cộng đồng các nhà tài trợ dành cho Việt Nam.
Đến nay sau hơn 10 năm đổi mới, tình hình kinh tế- xã hội Việt Nam đã
có nhiều chuyển biến rõ rệt. Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ khá
cao, tuy rằng sau cuộc khủng hoảng Tài chính tiền tệ của khu vực đã làm
cho

chiều dài lưới điện là 105,096 km. Hết năm 2000, mục tiêu 100% số huyện,
80% số phường xã có điện là có thể đạt được.
-Thủy lợi : Cả nước đã xây dựng được 743 hồ đập vừa và lớn, 3.500 hồ
đập vừa và nhỏ, hơn 1.000 cống tưới tiêu lớn, khoảng 10.600 trạm bơm nước,
tổng công suất tưới đạt 3,7 triệu ha, tiêu đạt 1,4 triệu ha. Các công trình thủy
lợi đó đã đảm bảo tưới cho khoảng 6 trong 7 triệu ha gieo trồng lúa, 90 vạn ha
rau và cây công nghiệp.
Một số ngành công nghiệp khác cũng có chuyển biến rõ rệt như dầu khí,
dệt, điện tử , may mặc, vật liệu xây dựng...
Bên cạnh đó, nông nghiệp cũng đạt được những thành công rực rỡ.
Chẳng những giải quyết triệt để vấn đề an ninh lương thực mà còn là nguồn
thu ngoại tệ lớn với các mặt hàng xuất khẩu như gạo , cà phê, hạt tiêu...
Giá cả được ổn định trong nhiều năm cũng tạo điều kiện cho nền kinh tế
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
22
phát triển vững vàng hơn. Giá đồng Việt Nam giảm đều đặn so với đồng Đô
la Mỹ ở một tỷ lệ chấp nhận được, giúp cho việc xuất khẩu hàng hoá thuận lợi
hơn. Nhờ đó, cán cân thương mại được cải thiện rõ rệt. Năm 2000, xuất khẩu
đã xấp xỉ nhập khẩu, tuy chưa hoàn toàn là điều đáng mừng vì nó cho thấy
suy giảm đầu tư sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, song cũng không thể
phủ nhận thành công của chính sách xuất khẩu.
Tình hình xã hội cũng có những chuyển biến tích cực. Thu nhập của
người dân, đặc biệt là của người nông dân tăng nhiều so với trước đây. GDP
bình quân năm 2000 đạt 400 USD/người gấp 1,8 lần so với năm 1990. Đời
sống vật chất và tinh thần được cải thiện tốt hơn. Công tác xoá đói giảm
nghèo được đặc biệt quan tâm đã trở thành phong trào sâu rộng trong quần
chúng nhân dân và đạt được nhiều kết qủa, số hộ nghèo đã giảm từ 30% năm
1992 xuống còn 20% năm 1995 và 10% năm 2000. Xuất hiện ngày càng
nhiều các hộ gia đình làm kinh tế giỏi mỗi năm thu nhập hàng trăm triệu
đồng.

để đầu tư phát triển hạ tầng là rất quan trọng và luôn được ưu tiên trong chính
sách phát triển kinh tế của Chính phủ ta.
-Thứ tư, nền kinh tế nước ta vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, công
nghiệp kém phát triển. Có tới gần 80% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp, do đó phần lớn lực lượng lao động chưa được đào tạo, chất lượng lao
động thấp. Công nghiệp chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu kinh tế, thiếu công
nghệ, công nhân lành nghề. Phong cách làm việc của cán bộ nhà nước còn
chịu ảnh hưởng bởi tác phong nông nghiệp và chế độ bao cấp trước đây nên
hiệu quả thấp, nhiều khi gây khó khăn cho phía đối tác cung cấp ODA. Do
đó, các lĩnh vực như phát triển khoa học công nghệ, đào tạo, cơ khí hoá nông
nghiệp còn gặp nhiều khó khăn và cần được đầu tư thích đáng. Việc thu hút
ODA để giải quyết vấn đề này được Chính phủ ta rất chú trọng.
-Thứ năm, môi trường đầu tư còn nhiều bấp bênh , rủi ro. Cuộc cải cách
hành chính diễn ra rất chậm và chưa thu được kết quả đáng kể. Bộ máy hành
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
24
chính vẫn còn cồng kềnh và trùng lắp chức năng, chưa đảm bảo được sự điều
hành tập trung, thống nhất. Bên cạnh đó, hệ thông pháp luật còn chồng chéo,
nhiều chỗ bất hợp lý gây khó khăn không ít cho các nhà đầu tư và các nhà tài
trợ ODA.
Tuy vẫn còn nhiều hạn chế nhưng nhìn chung nước ta đang có điều kiện
thuận lợi cho việc thu hút nguồn vốn ODA và nâng cao tính hiệu quả của nó.
Chúng ta cần phát huy những điểm thuận lợi và giảm thiểu những mặt hạn
chế để nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA phục
vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội.

II- THỰC TRẠNG GIẢI NGÂN NGUỒN VỐN ODA Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1993 - 1999
1-Đánh giá chung về tình hình giải ngân ODA
1.1-Tình hình cam kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status