Đề tài ‘’Tăng trưởng của ngành sản xuất công nghiệp ở nước ta trong những năm qua. Thực trạng và giải pháp " - Pdf 68


Luận văn Đề tài ‘’Tăng trưởng của ngành sản xuất công nghiệp ở
nước ta trong những năm qua. Thực trạng và giải pháp
" TiÓu luËn: Kinh tÕ ph¸t triÓn
1

LỜI MỞ ĐẦU

kinh tế là 7,5%, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,3%, công nghiệp và xây
dựng tăng 10,8%, dịch vụ tăng 6,2%; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng 38-
39%, nông lâm ngư nghiệp 20-21%, các ngành dịch vụ 41-42%.
- Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp:
+ Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng bình quân 13%/năm;
+ Ngành điện tăng trưởng 13,1%/năm, năm 2005 dự kiến điện sản xuất đạt
49 tỷ Kwh;
+ Ngành than tăng trưởng 6,8%/năm, năm 2005 dự kiến sản lượng than
sạch khoảng 15 triệu tấn và xuất khẩu khoảng 3,5 triệu tấn/năm;
+ Ngành dầu khí tăng trưởng khoảng 4-5%/năm, năm 2005 dự kiến đạt sản
lượng 22 - 22,5 triệu tấn dầu quy đổi và xuất khẩu khoảng 12 - 16 triệu
tấn/năm;
+ Ngành thép tăng trưởng khoảng 14-15%/năm, năm 2005 dự kiến đạt sản
lượng 3,3 triệu tấn thép xây dựng, 1 - 1,4 triệu tấn phôi thép và 0,7 triệu tấn
thép các loại khác;
+ Ngành xi măng tăng trưởng khoảng 13%/năm, năm 2005 dự kiến đạt sản
lượng sản xuất 23-24 triệu tấn xi măng;
+ Ngành giấy tăng trưởng khoảng 10%/năm, năm 2005 dự kiến đạt sản
lượng 605 ngàn tấn giấy;
+ Ngành cơ khí được lựa chọn là một trong những ngành mũi nhọn tập
trong phát triển vào các nhóm sản phẩm: cơ khí phục vụ nông lâm ngư nghiệp,
xây dựng, công nghiệp nhẹ và thiết bị toàn bộ; cơ khí đóng tàu; cơ khí chế tạo
TiÓu luËn: Kinh tÕ ph¸t triÓn
3
máy công cụ; công nghiệp ôtô, xe máy; cơ khí chế tạo vật liệu và thiết bị điện;
+ Tổng giá trị xuất khẩu hàng công nghiệp tăng bình quân 16%/năm, năm
2005 dự định đạt 19,5 tỷ USD, trong đó hàng dệt may chiếm khoảng 4 tỷ USD,
hàng da giày chiếm khoảng 3,5 tỷ USD, hàng linh kiện điện tử chiếm khoảng
1,5 tỷ USD.
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng trên trong kế hoạch 5 năm 2001 -

Khó khăn:
* Tình hình thế giới: Tính bất định, khó lường và rủi ro của tình hình thế
giới gia tăng. Năm 2003 xảy ra bệnh dịch sars, dịch cúm gia cầm cũng ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, giá một số vật t, nguyên
liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất tăng đột biến và kéo dài (từ năm 2003 đến nay)
nh giá xăng dầu, sắt thép, phân bón, sợi, nguyên liệu nhựa đã ảnh hưởng đến
sản xuất trong nước và xuất khẩu. Cuộc chiến ở I-rắc và sự mất giá của đồng
đô-la có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội.
* Tình hình trong nước:
- Việc thực hiện các cam kết mở cửa thị trường theo lộ trình giảm thuế
quan chung cept (afta) đã được thực hiện từ năm 2000, từ 01/01/2003 đa thêm
khoảng 760 mặt hàng đang nằm trong danh mục tạm thời vào danh mục cắt
giảm ngay và xoá bỏ hoàn toàn các hạn chế định lượng (quota, giấy phép). Điều
này làm tăng cạnh tranh ở thị trường trong nước do hàng hoá nhập khẩu từ các
nước asean.
- Các chi phí dịch vụ hạ tầng nh điện, nước, viễn thông, cảng biển, chi phí
vận tải ở Việt Nam còn cao. Những vấn đề trên làm ảnh hưởng nhiều tới quá
trình sản xuất công nghiệp và đặc biệt là sức cạnh tranh của hàng công nghiệp.
- Vốn tín dụng đầu tư nhà nước cha đáp ứng nhu cầu đầu tư của hầu hết
các ngành nên trong những năm qua một số dự án bị triển khai chậm ảnh hưởng
đến việc tăng năng lực sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường.
2.2. Đánh giá chung tình hình công nghiệp trong 3 năm 2001-2003
TiÓu luËn: Kinh tÕ ph¸t triÓn
5
2.2.1. Thành tựu đạt được:
- Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp: 3 năm qua, ngành công nghiệp
duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và vợt chỉ tiêu của Đại hội IX đề
ra (13%/năm). Tính theo giá cố định năm 1994, giá trị SXCN năm 2001 đạt
227,3 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6% so với năm 2000, năm 2002 đạt 261,1 nghìn tỷ
đồng, tăng 14,9 % so với năm 2001 và năm 2003 đạt 302,9 nghìn tỷ đồng, tăng

đơn vị tính: nghìn tỷ đồng
2000 2001 2002 2003 ( sơ bộ) 3 năm 2001 - 2003
Tổng số 198,3 227,3 261,1 302,9 790,4
Quốc doanh 82,9 93,4 104,3 117,1 314,8
Ngoài quốc doanh 44,1 53,6 63,9 75,9 193,5
Đầu t nước ngoài 71,3 80,3 92,8 109,9 282,1
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2002, NXB Thống kê - Hà nội
2003
2.2.2. Những mặt còn tồn tại
- Sự phát triển của công nghiệp tuy đạt tốc độ cao, nhưng cha thật vững
chắc biểu hiện ở chỗ giá trị gia tăng cha nhiều, đặc biệt ngành may mặc xuất
khẩu được nhiều về giá trị nhưng phần lớn sản xuất bằng vật tư, nguyên phụ
liệu nhập khẩu từ nước ngoài.
- Khai thác khoáng sản tuy đã giảm về tỷ trọng trong công nghiệp nhưng
vẫn còn lớn và hầu nh được xuất khẩu ở dạng cha qua chế biến thành sản phẩm.
- Sự phát triển của một số ngành vẫn còn lộn xộn, không theo quy hoạch
và một số lĩnh vực phát triển không theo ý muốn gây lãng phí và tiêu cực cho
nền kinh tế, ví dụ nh ngành xe máy.
- Các dự án đầu tư lớn, quan trọng thuộc ngành công nghiệp thực hiện
chậm gây thất thoát lãng phí đáng kể: chi phí tăng, vốn đầu tư chậm được thu
hồi.
Những hạn chế trong phát triển công nghiệp nêu trên cần được chú trọng
TiÓu luËn: Kinh tÕ ph¸t triÓn
7
với những giải pháp hữu hiệu trong thời gian tới
2.3. Đánh giá từng phân ngành công nghiệp:
(Chúng ta sơ qua về một vài ví dụ về các ngành)
2.3.1. Ngành điện:
Đáp ứng nhu cầu về năng lượng điện là điều rất quan trọng đảm bảo thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong 3 năm qua,

3
khí; sản lượng
dầu khí quy đổi đạt 20,97 triệu tấn, tăng 12% so với năm 2002.
Rõ ràng là ngành dầu khí đang đứng trước thách thức rất lớn, sản lượng
khai thác dầu thô khó gia tăng trong thời gian tới do nguồn tài nguyên bị hạn
chế, (mỏ dầu lớn nhất nước là Bạch Hổ đang phải giảm dần sản lượng khai
thác, dự kiến mỗi năm phải giảm khai thác từ 1-2 triệu tấn. Đây là mức độ giảm
rất lớn mà khó có nguồn khác thay thế nên trong 10 năm tới.
2.3.3. Ngành than:
Trong 3 năm 2001- 2003, ngành than đều thực hiện vợt mức kế hoạch đề
ra, sản lượng than sạch các năm nh sau: năm 2001 đạt 13,4 triệu tấn, tăng
15,4% so với năm 2000; năm 2002 đạt 16,3 triệu tấn, tăng 21% so với năm
2001; năm 2003 đạt 19 triệu tấn, tăng 16,5% so với năm 2002 và đã hoàn thành
sớm hơn 2 năm so với mục tiêu của Đại hội Đảng IX đề ra cho năm 2005.
Về đầu tư: Bên cạnh việc đầu tư phục vụ duy trì và phát triển mỏ, ngành
đã đầu tư một số dự án lớn nh nhiệt điện Na Dương, Cao Ngạn, và chuẩn bị đầu
tư nhiệt điện Cẩm Phả nhằm sử dụng hợp lý hơn tài nguyên quốc gia. Sự tăng
trưởng của ngành than khá cao trong 3 năm qua đã góp phần không nhỏ trong
việc tăng trưởng của một số ngành nh điện, xi măng và vật liệu xây dựng. Tuy
nhiên, ngành than cần xem xét đáng giá tính hiệu quả của việc xuất khẩu than
và cần tìm giải pháp để tiêu thụ than chất lượng thấp ở trong nước thay cho xuất
khẩu.
2.3.4. Ngành thép:
Trong 3 năm qua, ngành thép có tốc độ tăng trưởng cao về sản xuất thép
xây dựng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước. Sản lượng thép cán năm 2001
đạt 1,9 triệu tấn, tăng 20% so với năm 2000; năm 2002 đạt 2,44 triệu tấn, tăng
28% so với năm 2001; năm 2003 đạt 2,68 triệu tấn, tăng 9,8% so với năm 2002.
Công suất cán thép xây dựng đến cuối năm 2003 là 4 triệu tấn/năm đủ đáp ứng
TiÓu luËn: Kinh tÕ ph¸t triÓn
9

đổi mới công nghệ kết hợp với đầu tư mở rộng nâng cao năng lực sản xuất,
giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Một số ngành công
nghiệp đã có được công nghệ tương đối hiện đại nh dầu khí, điện lực, bu chính
viễn thông, may, sản xuất đồ uống, lắp ráp ôtô, xe máy, thiết bị điện, hàng điện
tử dân dụng, săm lốp ô tô, ắc qui, đồ nhựa, chế biến lương thực thực phẩm, xi
măng (lò quay). Do đó, các sản phẩm này đã được thị trường trong nước và
ngoài nước chấp nhận. Điều đó chứng tỏ sản phẩm đã có khả năng cạnh tranh.
- Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu trong
nước đã được thực hiện ở một số ngành công nghiệp như dệt, chế biến sữa,
thuốc lá, chính sách nội địa hóa trong ngành công nghiệp ô tô, xe máy là một
trong những biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm
công nghiệp. Sử dụng nguồn lao động rẻ, trong nước cũng là một hướng tận
dụng lợi thế của Việt Nam để tăng sức cạnh tranh.
2.4.2. Những nguyên nhân hạn chế sức cạnh tranh của sản phẩm công
nghiệp
- Kết quả của các biện pháp trên là rất đáng kể, làm tăng khả năng cạnh
tranh của ngành công nghiệp. Tuy nhiên, ở đây vẫn còn nhiều bất cập: Vẫn còn
nhiều nơi, nhiều chỗ độc quyền, dựa dẫm vào chính sách bảo hộ của Nhà nước,
đặc biệt là khối doanh nghiệp nhà nước; sự quản lý còn nhiều lãng phí nên đã
làm giảm kết quả của các giải pháp trên. Sự độc quyền phần lớn nằm ở khu vực
tiện ích, dịch vụ công, nếu chi phí ở đây cao thì tất cả mọi lĩnh vực sản xuất đều
bị ảnh hưởng. Điều này cần được đặc biệt lưu ý trong tiến trình hội nhập kinh
tế.
- Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp trong 3 năm 2001-2003
đã có tác động mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, huy động mọi
nguồn lực tham gia đầu tư phát triển sản xuất. Tuy nhiên, các chính sách này
vẫn thiên về bảo hộ sản xuất trong nước như bảo hộ về vốn đầu tư, hạn ngạch,
chính sách thuế, phụ thu nên nhiều doanh nghiệp đã ỷ lại, trông chờ vào Nhà
TiÓu luËn: Kinh tÕ ph¸t triÓn
11

thép; sản phẩm may; sản phẩm giày dép; một số sản phẩm thiết bị điện; máy
chuyên dùng, dây và cáp điện, máy động lực cỡ nhỏ dới 30 mã lực, xe đạp, xe
gắn máy, đồ mỹ nghệ.
- Nhóm sản phẩm công nghiệp cạnh tranh có điều kiện: Những sản phẩm
cần thực hiện các giải pháp giảm chi phí mới có khả năng cạnh tranh đến năm
2006. Nhóm sản phẩm này gồm 25 sản phẩm trong đó có xi măng (lò quay);
giấy in, viết; phôi thép, thép xây dựng; một số sản phẩm nhựa PVC; một số
chủng loại động cơ diezel; tầu chở hàng đến 11.500 DWT; phân lân chế biến.
2.5. Thực hiện vốn đầu tư trong công nghiệp và các chương trình, dự án
quan trọng
Nguyên nhân thực hiện vốn đầu tư thấp là do nhiều dự án lớn được dự
kiến triển khai trong kỳ kế hoạch nhưng tiến độ thực hiện chậm như: Nhà máy
lọc dầu số 1, các dự án điện chạy than, xi măng (xi măng Hải Phòng mới, Tam
Điệp), thép (dự án cán nóng thép tấm, dự án phôi thép phía Bắc), giấy (dự án
cải tạo nhà máy giấy Bãi Bằng, dự án giấy Thanh Hoá, dự án bột giấy kon
Tum), phân bón (đạm Cà Mau, dap, đạm từ than). Các dự án lớn bị chậm do
nguyên nhân chủ yếu là dự án quá phức tạp, quá mới vợt qua khả năng tiếp
nhận của nước ta về mặt vốn, trình độ quản lý, sự bất đồng ý kiến, nguy cơ dẫn
đến tiêu cực cao.
Một số dự án đầu tư hoàn thành đã đa vào sản xuất được đánh giá cụ thể
trong từng ngành công nghiệp như dự án đầu tư nguồn điện, lới điện 500Kv,
220 Kv, đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn, các dự án thuộc ngành thép, dệt
may, chế biến cao su...
Đánh giá vốn đầu tư ngành công nghiệp giai đoạn 2001-2003
Đơn vị: tỷ đồng
Số
TT
Ngành công nghiệp Vốn thực hiện
2001 - 2003
KH 2001-2005 Tỷ lệ TH,%

của Thủ tướng Chính phủ). Khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu sản
phẩm thông qua thưởng xuất khẩu theo giá trị, chủng loại sản phẩm và thị
TiÓu luËn: Kinh tÕ ph¸t triÓn
14
trường xuất khẩu mới cũng tạo ra động lực mạnh mẽ tăng khả năng xuất khẩu
sản phẩm công nghiệp;
- Thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh đối với một
số ngành như: đóng tàu, dệt may, các sản phẩm cơ khí trọng điểm, phân bón d-
ới hình thức cho vay tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp 3%, ưu đãi về thuế, xây
dựng cơ sở hạ tầng (Quyết định 55/2001/QĐ-TTg ngày 23/4/2001; Quyết định
số 1420/QĐ-TTg ngày 02/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ). Điều đó đã
khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị và
nâng cao được năng lực sản xuất.
- Khuyến khích phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới công
nghệ như: triển khai các chương trình trọng điểm về công nghệ thông tin, công
nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và công nghệ tự động hoá; chính sách khuyến
khích doanh nghiệp tự đầu tư phát triển khoa học và công nghệ dới hình thức hỗ
trợ một phần vốn đầu tư cho việc phát triển công nghệ bằng nguồn vốn ngân
sách. Xây dựng chương trình hành động phát triển và đẩy mạnh ứng dụng khoa
học công nghệ trong sản xuất (Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg ngày
31/12/2002).
3. Dự kiến thực hiện 2 năm 2004-2005:
3.1. Một số nhận định về thị trường trong và ngoài nước:
Hai năm 2004-2005 là giai đoạn cuối cùng ngành công nghiệp Việt Nam
thực hiện lộ trình afta và tiến hành những bước đi quan trọng chuẩn bị gia nhập
wto.
Sự tác động của tình hình kinh tế thế giới đối với nước ta ngày càng rõ nét
và càng lớn do chính sách kinh tế mở và hội nhập quốc tế. Biến động tình hình
kinh tế thế giới, khu vực sẽ ngày càng ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế Việt
Nam. Các ngành công nghiệp chế biến phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status