Tăng trưởng của ngành sản xuất công nghiệp ở nước ta trong những năm qua. Thực trạng và giải pháp - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Sản xuất công nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đưa nước ta
đi tới một nền kinh tế phát triển, với vai trò to lớn như vậy song sản xuất công
nghiệp cũng đã trải qua những thời kỳ thách thức trong vấn đề tăng trưởng kinh
tế nước ta.
Trải qua thời kỳ 2000 – 2005 Việt nam đã trở thành một trong những nước đang
trên đà phát triển đó cũng là nhờ một phần vào sản xuất công nghiệp, nhưng để
đánh giá đúng tầm nhìn và sự khó khăn, nỗ lực vươn lên của Việt nam thì thời
gian qua sản xuất công nghiệp có xu hướng thay đổi về nhiều mặt song đều tập
trung vào một khía cạnh đó là phát triển kinh tế vững mạnh, sao cho vào giai đoạn
tới 2006-2010 Việt nam sẽ là một trong những nước phát triển mạnh, nhưng muốn
được như vậy thì chúng ta phải làm gì để củng cố lại sản xuất công nghiệp, sao
cho phù hợp với xu thế những năm tới đây, chính vì vậy mà em xin chọn đề tài:
‘’Tăng trưởng của ngành sản xuất công nghiệp ở nước ta trong những năm
qua. Thực trạng và giải pháp.
Tuy bản thân em có nhiều cố gắng song bài viết không tránh khỏi những sai
sót, vậy em mong có sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong bộ môn và
các bạn đọc để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin cảm ơn!
Hà nội: Ngày 26/11/2004
Trang 1
CHƯƠNG I
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5
NĂM 2001-2005
1. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005 đối với ngành công
nghiệp:
- Mục tiêu chung: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của nền kinh
tế là 7,5%, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,3%, công nghiệp và xây dựng
tăng 10,8%, dịch vụ tăng 6,2%; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng 38-39%, nông
lâm ngư nghiệp 20-21%, các ngành dịch vụ 41-42%.
- Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp:

2.1. Những thuận lợi và khó khăn
Thuận lợi:
* Tình hình thế giới: Từ năm 2000, kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi sau
khủng hoảng kinh tế - tài chính, đặc biệt là các nền kinh tế Đông Nam á và các
nước nics.
* Tình hình trong nước:
- Tình hình chính trị - xã hội ổn định và kinh tế trong nước tiếp tục duy trì đ-
ược tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, tạo điều kiện để duy trì tăng
trưởng công nghiệp. Ngoài ra, việc triển khai các chương trình hành động thực hiện
các Nghị quyết Trung ương 3, 5 và 9 (khoá IX) tạo ra môi trường đầu tư và kinh
doanh thuận lợi và hiệu quả hơn cho phát triển công nghiệp.
- Việc mở rộng quan hệ quốc tế với các nước, ký kết và thực hiện các Hiệp
định thơng mại và đầu tư trong đó có Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ, Việt - Nhật,
thực hiện chương trình thu hoạch sớm asean- Trung Quốc... tiếp tục thúc đẩy quá
trình đầu tư và xuất nhập khẩu, tạo đà tăng trưởng công nghiệp đặc biệt là các
ngành dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ.
- Các chính sách phát triển và khung khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh đã
và đang được hoàn chỉnh tạo môi trường tốt hơn cho các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế. Đặc biệt là Luật Doanh nghiệp, Luật Khuyến khích đầu tư trong
nước, Luật Đầu t nước ngoài sửa đổi đã phát huy tác dụng tích cực trong thực tế.
Khó khăn:
* Tình hình thế giới: Tính bất định, khó lường và rủi ro của tình hình thế giới
gia tăng. Năm 2003 xảy ra bệnh dịch sars, dịch cúm gia cầm cũng ảnh hưởng đến
Trang 3
tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, giá một số vật t, nguyên liệu nhập khẩu
phục vụ sản xuất tăng đột biến và kéo dài (từ năm 2003 đến nay) nh giá xăng dầu,
sắt thép, phân bón, sợi, nguyên liệu nhựa đã ảnh hưởng đến sản xuất trong nước và
xuất khẩu. Cuộc chiến ở I-rắc và sự mất giá của đồng đô-la có ảnh hưởng đến nhiều
lĩnh vực kinh tế xã hội.
* Tình hình trong nước:

điểm. Các địa phương có tỷ trọng sản xuất công nghiệp lớn vẫn duy trì
được tốc độ tăng trưởng khá cao như: Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Hải
Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Các số liệu sau đây cho thấy rõ hơn một số đánh giá, nhận xét về tình hình
phát triển công nghiệp trong 3 năm qua:
Giá trị sản xuất công nghiệp 2000- 2003 phân theo thành phần kinh tế.
(Giá so sánh năm 1994)
đơn vị tính: nghìn tỷ đồng
2000 2001 2002 2003 ( sơ
bộ)
3 năm 2001 - 2003
Tổng số 198,3 227,3 261,1 302,9 790,4
Quốc doanh 82,9 93,4 104,3 117,1 314,8
Ngoài quốc doanh 44,1 53,6 63,9 75,9 193,5
Đầu t nước ngoài 71,3 80,3 92,8 109,9 282,1
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2002, NXB Thống kê - Hà nội 2003
2.2.2. Những mặt còn tồn tại
- Sự phát triển của công nghiệp tuy đạt tốc độ cao, nhưng cha thật vững chắc
biểu hiện ở chỗ giá trị gia tăng cha nhiều, đặc biệt ngành may mặc xuất khẩu được
nhiều về giá trị nhưng phần lớn sản xuất bằng vật tư, nguyên phụ liệu nhập khẩu từ
nước ngoài.
- Khai thác khoáng sản tuy đã giảm về tỷ trọng trong công nghiệp nhưng vẫn
còn lớn và hầu nh được xuất khẩu ở dạng cha qua chế biến thành sản phẩm.
- Sự phát triển của một số ngành vẫn còn lộn xộn, không theo quy hoạch và
Trang 5
một số lĩnh vực phát triển không theo ý muốn gây lãng phí và tiêu cực cho nền kinh
tế, ví dụ nh ngành xe máy.
- Các dự án đầu tư lớn, quan trọng thuộc ngành công nghiệp thực hiện chậm
gây thất thoát lãng phí đáng kể: chi phí tăng, vốn đầu tư chậm được thu hồi.
Những hạn chế trong phát triển công nghiệp nêu trên cần được chú trọng với

năm 2001, khai thác 2,1 tỷ m
3
khí. Tổng lượng khai thác dầu khí quy đổi đạt 18,7
triệu tấn, tăng 1,6% so với năm 2001.
Năm 2003: Khai thác dầu thô đạt 17,27 triệu tấn, 3,7 tỷ m
3
khí; sản lượng dầu
khí quy đổi đạt 20,97 triệu tấn, tăng 12% so với năm 2002.
Rõ ràng là ngành dầu khí đang đứng trước thách thức rất lớn, sản lượng khai
thác dầu thô khó gia tăng trong thời gian tới do nguồn tài nguyên bị hạn chế, (mỏ
dầu lớn nhất nước là Bạch Hổ đang phải giảm dần sản lượng khai thác, dự kiến mỗi
năm phải giảm khai thác từ 1-2 triệu tấn. Đây là mức độ giảm rất lớn mà khó có
nguồn khác thay thế nên trong 10 năm tới.
2.3.3. Ngành than :
Trong 3 năm 2001- 2003, ngành than đều thực hiện vợt mức kế hoạch đề ra,
sản lượng than sạch các năm nh sau: năm 2001 đạt 13,4 triệu tấn, tăng 15,4% so với
năm 2000; năm 2002 đạt 16,3 triệu tấn, tăng 21% so với năm 2001; năm 2003 đạt
19 triệu tấn, tăng 16,5% so với năm 2002 và đã hoàn thành sớm hơn 2 năm so với
mục tiêu của Đại hội Đảng IX đề ra cho năm 2005.
Về đầu tư: Bên cạnh việc đầu tư phục vụ duy trì và phát triển mỏ, ngành đã
đầu tư một số dự án lớn nh nhiệt điện Na Dương, Cao Ngạn, và chuẩn bị đầu tư
nhiệt điện Cẩm Phả nhằm sử dụng hợp lý hơn tài nguyên quốc gia. Sự tăng trưởng
của ngành than khá cao trong 3 năm qua đã góp phần không nhỏ trong việc tăng
trưởng của một số ngành nh điện, xi măng và vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, ngành
than cần xem xét đáng giá tính hiệu quả của việc xuất khẩu than và cần tìm giải
pháp để tiêu thụ than chất lượng thấp ở trong nước thay cho xuất khẩu.
2.3.4. Ngành thép:
Trong 3 năm qua, ngành thép có tốc độ tăng trưởng cao về sản xuất thép xây
dựng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước. Sản lượng thép cán năm 2001 đạt 1,9
triệu tấn, tăng 20% so với năm 2000; năm 2002 đạt 2,44 triệu tấn, tăng 28% so với

phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Một số ngành công nghiệp đã có được
công nghệ tương đối hiện đại nh dầu khí, điện lực, bu chính viễn thông, may, sản
xuất đồ uống, lắp ráp ôtô, xe máy, thiết bị điện, hàng điện tử dân dụng, săm lốp ô
tô, ắc qui, đồ nhựa, chế biến lương thực thực phẩm, xi măng (lò quay). Do đó, các
sản phẩm này đã được thị trường trong nước và ngoài nước chấp nhận. Điều đó
chứng tỏ sản phẩm đã có khả năng cạnh tranh.
Trang 8
- Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu trong nước
đã được thực hiện ở một số ngành công nghiệp như dệt, chế biến sữa, thuốc lá,
chính sách nội địa hóa trong ngành công nghiệp ô tô, xe máy là một trong những
biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp. Sử
dụng nguồn lao động rẻ, trong nước cũng là một hướng tận dụng lợi thế của Việt
Nam để tăng sức cạnh tranh.
2.4.2. Những nguyên nhân hạn chế sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp
- Kết quả của các biện pháp trên là rất đáng kể, làm tăng khả năng cạnh tranh
của ngành công nghiệp. Tuy nhiên, ở đây vẫn còn nhiều bất cập: Vẫn còn nhiều nơi,
nhiều chỗ độc quyền, dựa dẫm vào chính sách bảo hộ của Nhà nước, đặc biệt là
khối doanh nghiệp nhà nước; sự quản lý còn nhiều lãng phí nên đã làm giảm kết
quả của các giải pháp trên. Sự độc quyền phần lớn nằm ở khu vực tiện ích, dịch vụ
công, nếu chi phí ở đây cao thì tất cả mọi lĩnh vực sản xuất đều bị ảnh hưởng. Điều
này cần được đặc biệt lưu ý trong tiến trình hội nhập kinh tế.
- Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp trong 3 năm 2001-2003 đã
có tác động mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, huy động mọi nguồn lực
tham gia đầu tư phát triển sản xuất. Tuy nhiên, các chính sách này vẫn thiên về bảo
hộ sản xuất trong nước như bảo hộ về vốn đầu tư, hạn ngạch, chính sách thuế, phụ
thu nên nhiều doanh nghiệp đã ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước, không chủ động đổi
mới công nghệ, thiết bị, cải tiến quản lý, sản phẩm làm ra có giá thành cao.
- Cơ cấu sản xuất công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng
công nghiệp chế biến nhưng rất chậm. Trong thời gian qua, ngành công nghiệp phát
triển theo chiều rộng, cha chú trọng đầu tư và phát triển theo chiều sâu, cha nâng

2.5. Thực hiện vốn đầu tư trong công nghiệp và các chương trình, dự án
quan trọng
Nguyên nhân thực hiện vốn đầu tư thấp là do nhiều dự án lớn được dự kiến
triển khai trong kỳ kế hoạch nhưng tiến độ thực hiện chậm như: Nhà máy lọc dầu số
1, các dự án điện chạy than, xi măng (xi măng Hải Phòng mới, Tam Điệp), thép (dự
án cán nóng thép tấm, dự án phôi thép phía Bắc), giấy (dự án cải tạo nhà máy giấy
Bãi Bằng, dự án giấy Thanh Hoá, dự án bột giấy kon Tum), phân bón (đạm Cà
Mau, dap, đạm từ than). Các dự án lớn bị chậm do nguyên nhân chủ yếu là dự án
quá phức tạp, quá mới vợt qua khả năng tiếp nhận của nước ta về mặt vốn, trình độ
quản lý, sự bất đồng ý kiến, nguy cơ dẫn đến tiêu cực cao.
Trang 10
Một số dự án đầu tư hoàn thành đã đa vào sản xuất được đánh giá cụ thể trong
từng ngành công nghiệp như dự án đầu tư nguồn điện, lới điện 500Kv, 220 Kv, đ-
ường ống dẫn khí Nam Côn Sơn, các dự án thuộc ngành thép, dệt may, chế biến cao
su...
Đánh giá vốn đầu tư ngành công nghiệp giai đoạn 2001-2003
Đơn vị: tỷ đồng
Số
TT
Ngành công nghiệp Vốn thực
hiện 2001 -
2003
KH
2001-2005
Tỷ lệ TH,%
Tổng số 164706 400000 41.1%
1. Ngành điện 51862 97913 53.0%
2. Ngành than 2906 3428 84.8%
3. Ngành xi măng 10630 34796 30.5%
4. Ngành thép 4189 9980 42.0%

ngày 02/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ). Điều đó đã khuyến khích các doanh
nghiệp mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị và nâng cao được năng lực sản
xuất.
- Khuyến khích phát triển hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới công
nghệ như: triển khai các chương trình trọng điểm về công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu và công nghệ tự động hoá; chính sách khuyến khích
doanh nghiệp tự đầu tư phát triển khoa học và công nghệ dới hình thức hỗ trợ một
phần vốn đầu tư cho việc phát triển công nghệ bằng nguồn vốn ngân sách. Xây
dựng chương trình hành động phát triển và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ
trong sản xuất (Quyết định số 188/2002/QĐ-TTg ngày 31/12/2002).
3. Dự kiến thực hiện 2 năm 2004-2005:
3.1. Một số nhận định về thị trường trong và ngoài nước:
Hai năm 2004-2005 là giai đoạn cuối cùng ngành công nghiệp Việt Nam thực
hiện lộ trình afta và tiến hành những bước đi quan trọng chuẩn bị gia nhập wto.
Sự tác động của tình hình kinh tế thế giới đối với nước ta ngày càng rõ nét và
càng lớn do chính sách kinh tế mở và hội nhập quốc tế. Biến động tình hình kinh tế
thế giới, khu vực sẽ ngày càng ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế Việt Nam. Các
ngành công nghiệp chế biến phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu sẽ
gặp nhiều thách thức, khó khăn hơn do biến động giá. Tuy nhiên, cơ hội tham gia
các thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng, đặc biệt là thị trường Mỹ.
Thị trường trong nước
Trang 12
Với trên 80 triệu dân và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế được duy trì ở
mức cao như những năm vừa qua được coi là một thị trường đầy triển vọng về các
sản phẩm công nghiệp và là một điều kiện tiền đề quan trọng cho sự phát triển của
ngành công nghiệp trong nước. Hiện nay, nhiều sản phẩm công nghiệp chế biến
như: thực phẩm chế biến, chế tạo cơ khí, điện, điện tử dân dụng, hàng dệt may, bia,
sữa, dầu ăn, chất tẩy rửa, săm lốp xe đạp, xe máy, lốp ô tô máy kéo, giày dép..., đã
chiếm được thị trường trong nước và dần cạnh tranh được với hàng ngoại nhập.
Dự báo nhu cầu trong nước một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2005

Trích đoạn Các giải pháp liên quan đến quản lý Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status