Hình thành và củng cố kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học văn học việt nam trung đại - Pdf 29

1
B GIO DC V O TO
TRNG I HC VINH
TRN TH DUNG
HèNH THNH V CNG C K NNG SNG CHO
HC SINH TRUNG HC PH THễNG QUA DY HC
VN HC VIT NAM TRUNG I
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
CHUYấN NGNH: lý luận và phơng pháp dạy học Bộ môn văn và tiếng việt
M S: 60.14.01.11
NGI HNG DN KHOA HC:
TS. PHM TUN V
NGH AN- 2014
MỤC LỤC
2
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDKNS: Giáo dục kỹ năng sống
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
THPT: Trung học phổ thông
PPDH: Phương pháp dạy học

3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Xã hội ngày càng văn minh - hiện đại, thế giới đang bước vào kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên của khoa học công nghệ. Những tiến bộ vượt bậc của
xã hội hiện đại đang và sẽ mang lại cho loài người những tiện ích hữu dụng.
Nhưng, cũng chính ở thế kỷ 21 này, con người đang phải đối diện với những
thách thức to lớn từ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và đặc biệt là mối
quan hệ giữa người với người. Với sự thay đổi đó, xã hội nói chung và ngành

góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học văn học
Việt Nam trung đại nói riêng.
Từ những vấn đề trên, có thể thấy việc cung cấp kĩ năng sống cho học
sinh qua giờ dạy học văn, đặc biệt là văn học trung đại Việt Nam là hết sức
quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên cho đến nay, chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này. Từ thực tế đó,tôi thực hiện đề tài
này với mong muốn đưa ra một cái nhìn hệ thống các phương pháp rèn luyện
kĩ năng sống cho các em qua giờ dạy, học văn văn học Việt Nam trung đại.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là hình thành và
củng cố kỹ năng sống, đề xuất những phương pháp rèn luyện kỹ năng sống
cho học sinh THPT qua giờ dạy, học văn học Việt Nam trung đại.
3.2. Với mục đích đó, đề tài đặt ra nhiệm vụ:
Thứ nhất, xác lập những cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc hình thành
và củng cố kỹ năng sống qua giờ dạy học văn học Việt Nam trung đại.
Thứ hai, xác lập những nguyên tắc và phương pháp rèn luyện kỹ năng
sống cho học sinh THPT qua giờ dạy học văn học Việt Nam trung đại.
Thứ ba, thiết kế một số giáo án thể nghiệm. Trình bày một số thực
nghiệm tập trung kiểm nghiệm những nghiên cứu về đề tài.
2
3. Lịch sử vấn đề
Dựa vào nguồn tài liệu bao quát được và trong phạm vi quan tâm của
đề tài, tôi điểm lại một số vấn đề cơ bản sau:
3.1. Những ý kiến bàn về rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên
Trong cuốn Phương pháp giảng dạy kỹ năng sống của Bùi Văn Trực
và Phạm Thế Hưng [71], các tác giả đã nêu lên những vấn đề chung của giáo
dục KNS, các phương pháp giảng dạy KNS và một số bài giảng mẫu. Đây là
tài liệu tham khảo để giáo viên có thể giảng dạy hiệu quả KNS. Bên cạnh đó,
giáo viên có thể tham khảo thêm tài liệu Giáo dục kỹ năng sống trong các
môn học ở tiểu học [7]. Tài liệu này gồm hai phần: Phần thứ nhất là một số

dục kỹ năng sống có hiệu quả; cũng theo hướng đó, Trần Minh Hằng trong
bài Giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên hiện nay [26] đã đề cập đến một số
vấn đề như: khái niệm kỹ năng sống, thực trạng KNS của sinh viên hiện nay
và một số biện pháp giáo dục KNS cho sinh viên; từ góc nhìn tâm lý lứa tuổi,
Nguyễn Khắc Hùng có bài viết Giáo dục kỹ năng sống, một yếu tố ngăn ngừa
tội phạm ở trung học phổ thông [32] nêu lên những đặc thù tâm lí lứa tuổi
trung học phổ thông, từ đó lựa chọn nội dung tổ chức thích hợp, phát huy tính
tích cực chủ động của các em trong hoạt động ngoài giờ lên lớp theo định
hướng của mục tiêu giáo dục kỹ năng sống; Bùi Văn Minh trong bài Giáo
dục kỹ năng sống cho thanh niên, sinh viên trường Cao đẳng Hải Dương -
một yêu cầu cấp thiết [42] đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục cho rằng để
giúp thanh niên, sinh viên trở thành những công dân tốt, làm việc hiệu quả,
bên cạnh những kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, cần trang bị cho
họ những kỹ năng xã hội, kỹ năng mềm đa dạng, theo tác giả, phải đưa giáo
dục kỹ năng sống cho sinh viên vào chương trình đào tạo chính khóa; cũng
cách nhìn ấy, Đặng Thị Vân và Nguyễn Huyền Thương của trường Đại học
Nông nghiệp Hà Nội có bài Nhận thức của cha mẹ về tầm quan trọng và biện
pháp giáo dục kỹ năng sống cho thiếu niên [75] đã khai thác nhận thức của cha
mẹ về tầm quan trọng cũng như các biện pháp, hình thức mà họ sử dụng nhằm
4
giáo dục kỹ năng sống cho con; Ngô Công Hoàn với bài Cách tiếp cận nghiên
cứu nghiên cứu kỹ năng sống [29] đã chỉ ra cơ sở khoa học về con người và kỹ
năng sống, bên cạnh đó là cách tiếp cận kỹ năng sống; trong bài Giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học ở Lào Cai,
Nguyễn Thị Hài [25] đã nêu lên một số hạn chế về kỹ năng sống của học sinh
phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Lào Cai và một số hình thức giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh nơi đây; Ngô Anh Tuấn và Bùi Thị Hải Lý có bài Xây
dựng quy trình đào tạo kỹ năng mềm tại khoa đào tạo chất lượng cao - Trường
Đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh [74] đã đề cao việc trang bị
kỹ năng mềm song song kỹ năng chuyên môn (kỹ năng cứng), đồng thời xây

ngoài môn Ngữ văn chưa được chú ý đúng mức cả về nội dung và phương
pháp giáo dục thích hợp. Nguyễn Quang Ninh trong bài Về vấn đề nội dung
và phương pháp giảng dạy một số bộ môn khoa học xã hội và nhân văn với
việc góp phần giáo dục nhân cách cho học sinh phổ thông trung học [46] đã
đưa ra ý tưởng lồng ghép giáo dục KNS cho học sinh, đặc biệt là giáo dục
nhân cách thông qua các bộ môn khoa học xã hội, trong đó có môn Ngữ văn.
Gần đây đã có một số Luận văn thạc sĩ bước đầu bàn về giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh qua giờ dạy, học văn. Trong số đó, đáng chú ý là luận
văn Rèn luyện kỹ năng mềm cho học sinh THCS qua dạy học văn học nước
ngoài [59] của Nguyễn Chính Thành. Luận văn đã trình bày khá rõ cơ sở để
hình thành kỹ năng mềm cho học sinh THCS qua dạy văn học nước ngoài,
một số nguyên tắc, phương pháp rèn luyện kỹ năng mềm và một số giáo án
thể nghiệm ở chương trình Ngữ văn trung học cơ sở.
Điểm lại một số công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan, chúng tôi
nhận thấy cho đến nay, vấn đề rèn luyện kỹ năng sống qua giờ dạy học tác
phẩm văn học trung đại Việt Nam ở trường PT chưa có công trình nào nghiên
cứu chuyên biệt. Những bài viết, những tài liệu tham khảo mới chỉ là định
hướng bước đầu. Từ thực tế đó, tôi thực hiện đề tài Hình thành và củng cố kĩ
năng sống cho học sinh THPT qua dạy, học văn học Việt Nam trung đại với
6
mong muốn góp một tiếng nói vào một vấn đề đang được nhiều người quan
tâm hướng tới, nhất là đối với học sinh ở trường THPT.
4. Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung các kỹ năng sống chủ yếu và phương pháp hình
thành,củng cố các kỹ năng sống đó từ việc dạy học văn học Việt Nam trung
đại ở THPT
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, tôi sử dụng phương pháp lý thuyết
và thực nghiệm khoa học.
6. Đóng góp mới của đề tài

độ, giá trị và kĩ năng giúp con người giải quyết có hiệu quả những tình huống,
những vấn đề đáp ứng hoạt động của cuộc sống một cách tích cực
Kĩ năng sống là một phạm trù rộng bao hàm nhiều vấn đề của cuộc sống,
đó là những vấn đề phát sinh trong mối quan hệ giữa con người và con người,
con người với thiên nhiên nhiên, con người với sự phát triển kinh tế - xã hội
Những người có kĩ năng sống là những người có sự trải nghiệm hiệu quả nhất,
giúp giải quyết hoặc đáp ứng những nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn
tại và phát triển của con người.
Cũng có thể hiểu kĩ năng sống là hành trang luôn đi theo con người,
giúp con người có cuộc sống tốt đẹp hơn hướng con người đến cái chân,
thiện, mỹ của cuộc sống. Kĩ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên,
thông qua giáo dục hoặc do tự rèn luyện của con người. Hiện nay, khái niệm
về kĩ năng sống vì thuộc về lĩnh vực hành vi của con người nên có nhiều quan
niệm khác nhau:
Những quan niệm nêu trên đều cùng chứa những nội hàm sau:
- Là khả năng thực hiện hoạt động hay hành động phù hợp.
- Là năng lực ứng xử tích cực trước những thách thức của đời sống.
8
- Chỉ có được một khi được rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm, thông qua
giáo dục và tự rèn luyện của con người.
Với những nội dung như vậy có thể đưa ra một khái niệm như sau: Kĩ
năng sống là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình và người khác
phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát, quản lí có
hiệu quả các nhu cầu và thách thức trong cuộc sống, đồng thời giúp con người
giải quyết có hiệu quả những khó khăn, thách thức trong cuộc sống.
1.1.1.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trung học phổ thông
Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội:
Học sinh cắp sách đến trường với một mục tiêu quan trọng nhất là học
chữ, “học lấy cái chữ” nhà trường cũng có mục đích quan trọng nhất là dạy chữ

đang có xu hướng gia tăng, như hiện tượng đánh, chửi nhau, dùng những lời
lẽ không đạo đức của học sinh đối với giáo viên
Giáo dục kĩ năng sống sẽ giúp các em thích nghi với cuộc sống hiện đại
ngày nay, đòi hỏi mỗi con người cần có nhiều hơn các kĩ năng sống “nghệ
thuật sống”, những người vừa có kiến thức vừa có cách sống sẽ nhanh và sẽ
thành công hơn, thậm chí trong nhiều công việc nghệ thuật sống còn quan
trọng hơn cả tri thức, với mục tiêu đào tạo con người mới với đầy đủ đức, tài
phục vụ cho đất nước; ngành giáo dục nước ta ngoài việc đào tạo tri thức cần
chú ý nhiều hơn đến giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cũng là một cách bồi dưỡng cho
học sinh kĩ năng làm việc mà các em rất cần trong tương lai, đây cũng là cách
hình thành nhân cách, rèn luyện đạo đức cho học sinh.
Giáo dục kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ
thông, và phù hợp với xu thế giáo dục của thế giới.
Có thể đưa ra các lợi ích của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
như sau:
10
Về mặt sức khỏe: Xây dựng hành vi lành mạnh tạo khả năng bảo vệ sức
khỏe cho mình và cho mọi người trong cộng đồng.
Về mặt giáo dục: Mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy trò, sự hứng
thú tự tin, chủ động sáng tạo học tập cuả học sinh, tăng cường sự tham gia của
học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục.
Về mặt văn hóa - xã hội: Thúc đẩy hành vi mang tính xã hội, giảm bớt
tỉ lệ phạm pháp trong thanh thiếu niên, giảm tỉ lệ nghiện ma túy và bị lạm
dụng tình dục ở tuổi vị thành niên.
Về mặt chính trị: Giải quyết một cách tích cực nhu cầu về quyền của trẻ
em. Các em xác định được bổn phận và nghĩa vụ của mình đối với bản thân,
gia đình và xã hội.
Qua các nội dung trên có thể khẳng định rằng giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh THPT hiện là vấn đề quan trọng đòi hỏi cần tiến hành ngay

Đầu tiên là ý thức về hình ảnh cơ thể. Ngay từ tuổi thiếu niên các em đã chú ý
đến hình dáng bên ngoài của mình và đến tuổi thanh niên các em vẫn còn chú
ý. Thái độ này được duy trì trong suốt thời kì thanh niên. Thứ hai là khả năng
tự đánh giá bản thân. Cũng như thiếu niên, thanh niên khao khát muốn biết họ
là người như thế nào? có năng lực gì ? Vì vậy tự đánh giá là một nét tâm lí
điển hình của lứa tuổi này. Cuối cùng là tính tự trọng. Đây là một trong những
tính cách nổi bật của tuổi thanh niên so với các lứa tuổi khác. Mức độ tự trọng
ở thanh niên có từ mức độ cao và mức độ thấp. Tự trọng cao là sự đánh giá
đúng mức về bản thân, biết bảo vệ danh dự của mình một cách phù hợp trong
hoàn cảnh cụ thể. Tính tự trọng thấp là sự coi thường, thiếu tin tưởng vào bản
thân, tự hạ thấp mình. Những thanh niên có tính tự trọng thấp thường gặp
nhiều khó khăn trong giao tiếp và cản trở sự phát triển nhân cách của lứa tuổi
này. Cách tốt nhất để giúp những thanh niên này không phải là phê phán họ
mà cần tổ chức cho họ hoạt động và giao tiếp, để thông qua đó chúng có thể
trãi nghiệm thực tế. Bằng con đường tự trải nghiệm họ sẽ có thái độ đúng đắn
về bản thân mình.
12
Sự phát triển trí tuệ ở học sinh THPT có tính chủ định được phát triển
mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức. Về tri giác, thanh niên có độ nhạy cảm
cao, tri giác có mục đích đạt tới mức độ rất cao. Quan sát trở nên có hệ thống
và toàn diện hơn. Thanh niên có thể điều khiển được hoạt động của mình theo
kế hoạch chung và chú ý đến mọi khâu. Tuy nhiên tri giác của học sinh THPT
cần có sự hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên cần hướng dẫn các em quan sát
vào một nhiệm vụ nhất định và yêu cầu các em không nên kết luận vội vàng
khi chưa tích lũy đầy đủ các sự kiện cần quan sát. Về trí nhớ, ở tuổi thanh
niên, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, mặt khác
vai trò của ghi nhớ lôgíc trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt.
Đặc biệt các em đã tạo được tâm thế phân hóa trong ghi nhớ. Các em đã biết
tài liệu nào cần nhớ chính xác, tài liệu nào chỉ cần hiểu mà không cần nhớ. Về
chú ý, học sinh THPT có nhiều thay đổi. Năng lực di chuyển và phân phối chú

cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt,
năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn
còn giúp HS có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời
sống nội tâm của con người.
Chúng ta đều biết, trong các môn học trong nhà trường, môn Ngữ văn là
môn giúp học sinh phát triển khả năng ngôn ngữ nhiều nhất học sinh , phát
triển tư duy, năng lực liên tưởng và sáng tạo Chính ngôn ngữ mới là công cụ
vàng, vạn năng giúp thành công trong các hoạt động kinh doanh và giao tiếp
đời sống.
Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp HS có năng lực
ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người.
Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp HS bồi
dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu
lành mạnh để hoàn thiện nhân cách.
14
Vì thế, Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giáo
dục các kĩ năng sống cho HS.
1.1.2.2. Quan điểm giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ văn
- Bám sát những mục tiêu giáo dục KNS, đồng thời đảm bảo mạch KT-
KN của giờ dạy Ngữ văn.
- Tiếp cận GDKNS theo hai cách: nội dung và phương pháp dạy học,
trong đó nhấn mạnh đến cách tiếp cận PP. Nghĩa là thông qua nội dung và
PPDH để giáo dục KNS cho học sinh chứ không phải tích hợp vào nội dung
bài dạy. Rèn luyện KNS cho HS thông qua các giờ học bộ môn.
- Đưa những nội dung GD tiêu biểu cho các dạng bài học, bên cạnh đó
có “độ mở” tạo điều kiện cho GV có thể phát huy tính linh hoạt trong việc
vận dụng các tình huống GD.
- Giáo dục KNS trong môn học Ngữ văn, theo đặc trưng của môn học, là
giáo dục theo con đường “ mưa dầm thấm lâu” nhẹ nhàng, tự nhiên, không
gượng ép.

+ Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt,
hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày.
+ Có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng
đắn trong cuộc sống.
+ Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác
trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống (tệ
nạn xã hội, HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần, thể xác ); giúp HS
phòng ngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân.
- Về thái độ:
+ Hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các KNS mà bản thân đã
rèn luyện được đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện các
KNS đó.
+ Hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lối
sống lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình, cộng đồng.
16
+ Có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà
trường và xã hội; có ý thức định hướng nghề nghiệp
1.2. Cở sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ
thông qua giờ dạy văn
1.2.1.1. Các biểu hiện về kỹ năng sống của học sinh hiện nay
Kĩ năng sống của học sinh THPT hiện nay còn:
- Đa phần các em chưa có kĩ năng xác định mục tiêu một cách rõ ràng.
- Kĩ năng hoạt động nhóm chỉ ở mức trung bình thậm chí yếu.
- Các em hầu như chưa tìm ra hướng giải quyết khi gặp khó khăn trong
học tập, cuộc sống và các vấn đề tâm lí.
- Hiện tượng bạo lực học đường ngày càng tăng.
- Khả năng giao tiếp chủ động còn hạn chế.
- Việc xác định vấn đề quan trọng của cuộc sống nhiều khi còn chưa rõ,
chưa đúng với chuẩn mực.

1.2.2. Những thuận lợi, khó khăn của việc dạy học văn học Việt Nam
trung đại ở trung học phổ thông hiện nay
Văn học Việt Nam trung đại vừa có những tính chất phổ biến của văn
học nói chung, vừa có những tính chất đặc thù như là những sản phẩm
tinh thần ra đời trong hoàn cảnh xã hội có những quan hệ đặc thù, có đặc
điểm riêng trong quan niệm về tự nhiên, về xã hội và về con người. Vì thế
trong quá trình dạy và học, giáo viên và học sinh sẽ bắt gặp một số thuận
lợi và khó khăn khi truyền đạt và khi tiếp nhận văn bản.
1.2.2.1. Những thuận lợi
Văn học Việt Nam trung đại là một bộ phận văn học sử dụng chữ viết
từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX. Xét trong nội bộ lịch sử văn học Việt
Nam, đây là nền văn học lâu đời nhất. Đối với văn học Việt Nam trung
18
đại là nền văn học viết ra đời sớm nhất, có thời gian tồn tại dài nhất nên
có vai trò to lớn đối với việc hình thành và nuôi dưỡng những truyền
thống của văn học Việt Nam, có sứ mệnh quan trọng trong việc phản ánh
đời sống của đất nước, dân tộc và con người Việt Nam. Bởi vậy, trong
chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 10 và Ngữ văn 11
nói chung và phần văn học Việt Nam trung đại nói riêng được biên soạn
sau nhiều lần chỉnh lý và hợp nhất đã tiếp thụ được nhiều ưu việt và sửa
chữa được nhiều hạn chế của phần này trong các bộ sách trước. Các bài
khái quát về văn học Việt Nam trung đại vừa tinh giản vừa tập trung làm
rõ được những nội dung chính yếu. Trong thời lượng được quy định, các
tác giả biên soạn sách giáo khoa đã đưa vào những thể loại, những tác giả,
những văn bản đặc sắc của văn học Việt Nam trung đại. Những văn bản
được đưa vào dạy học là những văn bản đã được sàng lọc kỹ qua thời
gian. Đó là những tác phẩm tiêu biểu về chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa
nhân đạo trong văn học Việt Nam trung đại vì thế rất gần gũi với người
Việt hôm nay. Đây là một thuận lợi cho giáo viên và học sinh khi được
dạy và học những tác phẩm hay, đặc sắc của nền văn học nước nhà.

vẫn rất sơ sài, ít tác dụng đối với việc đọc - hiểu, hoặc đọc thêm văn bản
văn học Việt Nam trung đại. Điều này ảnh hưởng đến việc cung cấp kiến
thức thể loại cho học sinh.
Ngoài ra, một điều dễ nhận thấy là hiện nay rất ít học sinh yêu thích
các tác phẩm văn học Việt Nam trung đại. Qua khảo nghiệm của chúng tôi
ở ba trường trung học phổ thông Nguyễn Đức Mậu, Quỳnh Lưu 1 trong
địa bàn huyện Quỳnh Lưu, hầu hết các học sinh đều cho rằng các văn bản
văn học Việt Nam trung đại ra đời cách đây rất lâu trong điều kiện vật
chất, tinh thần có nhiều điểm khác biệt lớn với hôm nay nên các em cảm
thấy xa lạ và khó cảm thụ hết được cái hay cái đẹp, nhất là những tác
20
phẩm được viết bằng chữ Hán, các em phải học qua các bản dịch với
những từ cổ, với những điển tích, điển cố mà không phải từ nào cũng
được giải thích một cách dễ hiểu. Đây cũng là một khó khăn hết sức thực
tế mà mỗi giáo viên đều có thể gặp phải khi truyền thụ tác phẩm văn học
cổ cho học sinh.
Văn học Việt Nam trung đại là một trong những bông hoa rực rỡ
trong vườn văn học nước nhà, nó góp phần làm cho nền văn học Việt Nam
phong phú. Thế nhưng để thưởng thức hương thơm và vẻ đẹp của nó thật
không dễ chút nào bởi nó đòi hỏi người dạy và người học phải có đầy đủ
vốn hiểu biết về lịch sử thời đại, vốn chữ nghĩa, khả năng cảm thụ sâu
sắc. Vì thế, trước những khó khăn trên, thiết nghĩ người giáo viên cần
phải cố gắng hơn trong việc giảng dạy, truyền đạt kiến thức cũng như thổi
niềm đam mê cho học sinh, để các em có niềm tự hào về nền văn học Việt
Nam trung đại và yêu thích hơn các tác phẩm văn học ra đời trong thời kì
xã hội phong kiến cách xa các em bao thế kỉ.
Như vậy, văn học thời trung đại Việt Nam đóng mọi vai trò hết sức quan
trọng là nền tảng vững chắc cho sự phát triển và sáng tạo thời kỳ sau. Trải qua
sự phát triển gần mười thế kỷ đã có những cống hiến và đóng góp rất thiết
thực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Làm giàu và đẹp hơn

“gần người hơn”. Đọc Truyện Kiều, ta xót xa thương cảm cho số phận cay
đắng, nghiệt ngã của người con gái tài sắc. Đó là dấu hiệu của một tâm hồn
nhân ái, giàu lòng trắc ẩn. Môn Ngữ văn còn có vai trò quan trọng trong việc
rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, cách thức tạo lập các loại văn
bản phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnh vực của mỗi người trong
22

Trích đoạn Rốn luyện kỹ năng sống thể hiện mối liờn hệ giữa bản thõn với chớnh mỡnh Khỏi niệm phương phỏp dạy học Một số phương phỏp hỡnh thành và củng cố kỹ năng sốngcho học sinh THPT qua dạy học văn học Việt Nam trung đạ ĐỌC HIỀU VĂN BẢN Tỡm hiểu thỏi độ, tõm trạng của tỏc giả khi vào phủ chỳa ”.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status