1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN QUANG ĐẠO
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN,
NĂNG SUẤT VÀ PHẨM CHẤT GẠO CỦA MỘT SỐ GIỐNG
LÚA THUẦN TRỒNG TRONG VỤ HÈ THU 2014 TẠI HUYỆN
CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
suốt quá trình theo dõi các chỉ tiêu.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, tập thể Cao học khóa XX
chuyên ngành Khoa học cây trồng đã đồng hành, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành
khóa luận.
Mặc dù đã cố gắng để hoàn thành đề tài nghiên cứu, tuy nhiên quá trình theo dõi sẽ
không thể tránh khỏi thiếu sót, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô giáo
và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn./.
Hà Tĩnh, tháng 10 năm 2014
Học viên thực hiện Trần Quang Đạo
các giống thí nghiệm
41
Bảng 3.2. Một số chỉ tiêu về mạ của các giống trước khi cấy
44
Bảng 3.3. Chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng
46
Bảng 3.4. Tốc độ tăng trưởng chiều cao
47
Bảng 3.5. Động thái đẻ nhánh của các giống thí nghiệm
49
Bảng 3.6. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm
50
Bảng 3.7. Tốc độ tăng trưởng nhánh của các giống thí nghiệm.
52
Bảng 3.8. Động thái ra lá của các giống thí nghiệm
54
Bảng 3.9. Tốc độ tăng trưởng về lá của các giống thí nghiệm
55
Bảng 3.10. Một số đặc trưng hình thái của các giống lúa thí nghiệm
56
Bảng 3.11. Khả năng chống đổ ngả.
58
Bảng 3.12. Khả năng chống chịu sâu, bệnh hại chính của giống thí
nghiệm
59
Bảng 3.13. Các yếu tố cấu thành năng suất.
62
Bảng 3.14. Chất lượng gạo của các giống lúa thí nghiệm.
64
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BĐĐN: Bắt đầu đẻ nhánh
BĐT: Bắt đầu trổ
CBVTV: Cục bảo vệ thực vật
CLT: Cây lương thực
CTP: Cây thực phẩm
CHT: Chín hoàn toàn
CPVTKT: Cổ phần vật tư kỹ thuật
CPGCT: Cổ phần giống cây trồng
CMS: Cytoplamic Male Sterility – Bất dục đực tế bào chất
CS: Công sự
CT: Công thức
CV: Coeffient of Variation – Hệ số biến động
D: Dài
DTLĐ: Diện tích lá đòng
Dòng A: Dòng bất dục đực tế bào chất
Dòng B: Dòng duy trì bất dục đực tế bào chất
ĐBB: Độ bạc bụng
Đ/C: Đối chứng
Dòng R: Dòng phục hồi hữu dục
ĐNTĐ: Đẻ nhánh tối đa
ĐTCB: Độ thoát cổ bông
ĐTCL: Độ tàn của lá
ĐTCB: Độ thoát cổ bông
EGMS: Enviromentsesnitive Genic Male Sterility – Bất dục đực di truyền nhân
cảm ứng với điều kiện môi trường
HX: Hồi xanh
HT: Hè Thu
IRRI: International Rice Research Isstitute – Viện nghiên cứu
Hà Tĩnh
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây ngũ cốc có lịch sử trồng trọt
lâu đời. Theo các tài liệu Khảo cổ học của Việt Nam, nghề trồng lúa có từ 4000 - 3000
năm trước Công Nguyên. Cây lúa có nguồn gốc chủ yếu từ vùng đầm lầy Đông Nam
Á, nhưng ngày nay cây lúa đã được trồng nhiều nơi trên thế giới, như Châu Á, Châu
Phi, Châu Mỹ và Châu Đại Dương; trong đó Châu Á vừa là quê hương của cây lúa
cũng là nơi có diện tích, sản lượng lúa lớn nhất.
Lúa là cây lương thực có một vị thế hết sức quan trọng. Trên thế giới có khoảng
40% dân số coi gạo là nguồn lương thực chính (tập trung chủ yếu ở các nước thuộc
khu vực Châu Á) với mức tiêu thụ lúa gạo hàng năm là 180 –200 kg/người/năm. Có
hơn 25% dân số sử dụng trên một nửa khẩu phần lương thực hàng ngày (tập trung chủ
yếu ở các nước thuộc khu vực Châu Âu và Châu Mỹ). Như vậy, lúa gạo đã ảnh hưởng
tới ít nhất 65% trong khẩu phần ăn của dân số thế giới. Đồng thời, trong lúa gạo còn
chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng như các cây lương thực khác. Trong gạo chứa 80%
tinh bột, 7,5% protein, 12% là nước, còn lại là các vitamin và khoáng chất cần thiết
cho cơ thể như các vitamin nhóm B (B1, B2, B6), vitamin PP, vitamin E,…[5]. Chính
vì vậy, Tổ chức Dinh dưỡng Quốc tế đã coi “hạt gạo là hạt của sự sống” và “là lương
thực, dược phẩm có giá trị lớn”.
Gạo không chỉ có chức năng chính là làm lương thực hàng ngày, gạo còn được
sử dụng vào nhiều mục đích khác, như sử dụng trong công nghiệp sản xuất bia rượu,
mạch nha, bánh kẹo, thức ăn gia súc,… đã nâng giá trị của lúa gạo. Tầm quan trọng
của lúa gạo đã được khẳng định từ lâu, tuy nhiên, việc sản xuất lúa gạo không phải lúc
nào cũng thuận lợi mà luôn đứng trước những thách thức to lớn, đặc biệt là trong giai
đoạn hiện nay, đó là sự bùng nổ dân số, quá trình công nghiệp hóa đã làm đất nông
nghiệp ngày một thu hẹp với mức giảm về diện tích hàng năm khoảng 2%, diễn biến
thời tiết khí hậu phức tạp và khó lường, dịch hại gây ra rất nhiều khó khăn cho sản
xuất lúa gạo. Nhằm tăng năng suất lúa trên cùng một đơn vị diện tích trồng lúa, hiện
đã có nhiều biện pháp đưa ra, như tạo ra nhiều giống lúa mới có năng suất cao, và
chống chịu sâu bệnh, phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng sản xuất, nhiều biện
Yêu cầu của đề tài
Đề tài nghiên cứu cần phải đạt được các yêu cầu sau đây:
8
(1) Đánh giá được các đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của 7
giống lúa tham gia thí nghiệm.
(2) Đánh giá được khả năng chống chịu sâu bệnh và khả năng thích ứng với
điều kiện ngoại cảnh.
(3) Đánh giá được một số chỉ tiêu về phẩm chất, chất lượng gạo của một số
giống lúa có khả năng được lựa chọn để sản xuất đại trà.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu khảo nghiệm, đánh giá các đặc tính nông học của 7
giống lúa nhằm xác định được 1-2 giống lúa có khả năng sinh trưởng, phát triển cho
năng suất cao, phẩm chất tốt, sức chống chịu sâu bệnh, để có thể sản xuất đại trà trên
vùng đất lúa của huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu khảo nghiệm 7 giống lúa tại huyện Can lộc sẽ góp phần cung
cấp dẫn liệu về một số đặc điểm nông học của các giống lúa trong điều kiện vùng sinh
thái nông nghiệp huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu khảo nghiệm 7 giống lúa tại huyện Can lộc, đề tài sẽ xác
định được 1-2 giống lúa có khả năng sinh trưởng, phát triển cho năng suất cao, phẩm
chất tốt, sức chống chịu sâu bệnh, để có thể sản xuất đại trà trên vùng đất lúa của
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
phát huy và thể hiện những ưu điểm vượt trội của nó, đặc biệt là tiềm năng năng suất.
Nhiều bộ giống lúa có lá thẳng, có khả năng quang hợp mạnh, bộ rễ phát triển, chỉ số
diện tích lá đòng lớn, cây đứng, đẻ nhánh vừa phải dễ đạt được số bông cần thiết trên
đơn vị diện tích nên đã đưa năng suất lên cao và ổn định.
Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất hiện nay của nhiều địa phương năng suất lúa
đạt chưa cao, chưa xứng với tiềm năng sẵn có vì nhiều nguyên nhân: Mật độ chưa
thích hợp, thiếu phân bón, thiếu nước,…và một nguyên nhân quan trọng khác là còn
thiếu những bộ giống lúa thích nghi với tình hình thực tế của sản xuất và yêu cầu ngày
càng cao của con người đặc biệt là về năng suất, chống chịu và chất lượng gạo. Bên
cạnh đó, nhiều bộ giống đã đưa vào sản xuất những năm trước đó có hiệu quả cao
nhưng hiện tại có nhiều biểu hiện xấu do thoái hóa: Năng suất phẩm chất giảm, khả
10
năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh kém. Chính vì thế, việc bổ sung
các giống lúa thay thế là việc làm cấp bách và cần kịp thời hơn nữa.
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc miền Trung Việt Nam, một điều dễ dàng nhận thấy ở
Hà Tĩnh là khí hậu khắc nghiệt và đất đai cằn cỗi nên việc trồng lúa, thâm canh lúa gặp
nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, sản xuất lúa ở Hà Tĩnh chủ yếu là tự cung tự cấp nên
còn có truyền thống sử dụng nhiều bộ giống địa phương có năng suất và tính ổn định
chưa cao. Đồng thời việc sản xuất lúa còn manh mún, chưa có nhưng vùng chuyên
canh rộng lớn mang tính chất hàng hóa như các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long hay
đồng bằng Sông Hồng,…nên việc đầu tư tiền của vào nghiên cứu nhằm tìm ra các bộ
giống có năng suất cao, chống chịu tốt còn rất hạn chế. Công tác giống tại Hà Tĩnh chủ
yếu thu thập những bộ giống có triển vọng bên ngoài vào, qua công tác khảo nghiệm
nhằm chọn lọc ra những giống phù hợp nhất với điều kiện thực tế ở địa phương để đưa
vào sản xuất.
Trong những năm qua, ý thức được nhiều biến đổi của thời tiết khí hậu bất
thường, biến động của nền kinh tế thị trường thế giới tác động vào Việt Nam mà trước
hết là tác động trực tiếp đến cái ăn của từng người. Đồng thời tình hình sản xuất lúa
gạo đang còn đứng trước nhiều khó khăn hơn nữa: Nhiều giống lúa đang có xu hướng
năm trước.
Khi nghiên cứu về thời điểm và địa điểm xuất hiện của cây lúa nước, tác giả
M.Gee (1984) cho rằng chúng đã xuất hiện cách đây khoảng 4500 năm trước Công
Nguyên ở châu Á. Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, cây lúa nước luôn là
cây lương thực chính trong sản xuất nông nghiệp, tồn tại vững bền cho đến ngày nay.
Như vậy, cây lúa nước có nguồn gốc từ châu Á.
Các di chỉ khảo cổ cho biết rằng thủy tổ của loài lúa tập trung ở dãy Hymalaya
và sau đó rãi rác ở Tây Phi, châu Úc, Nam Mỹ và Tân Guinea [6].
Tổ tiên xa xưa của cây lúa trồng ngày nay là cây lúa hoang dại sống ở châu Á
và châu Phi. Ở châu Á qua các hình thái lúa dại con người đã thuần hóa và tuyển chọn
thành cây lúa châu Á (Oryza Sativa L.). Ở châu Phi cũng từ các hình thái khác nhau
của lúa dại con người cũng đã thuần hóa và tuyển chọn để trở thành cây lúa châu Phi
(Oryza glaberrima). Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng cây lúa nước có nguồn gốc từ
lúa hoang dại.
Ở Việt Nam, miền núi phía Bắc có thể là một trung tâm xuất hiện của các tổ
tiên của loài lúa trồng hàng niên [6]. Hiện nay, vùng Đồng bằng Bắc Bộ là một trong
những vùng sinh thái của cả nước có các nguồn gen đa dạng và phong phú nhất [3].
Tuy nhiên trong nhưng năm gần đây, vấn đề nguồn gốc của cây lúa đã được
thảo luận rất nhiều, với sự tham gia của nhiều nghành khoa học khác nhau như khảo cổ
12
học, di truyền học, sinh thái học,…vẫn còn nhiều bàn luận về nguồn gốc của cây lúa
nhưng người ta vẫn khẳng định lúa là cây trồng cổ, có vai trò quan trọng bậc nhất với
con người .
1.2.2. Phân bố
Cây lúa có thể thích nghi rộng trong nhiều điều kiện khác nhau về sinh thái:
Nhiệt đới xích đạo, cận nhiệt đới, nhiệt đới,… và tại những vùng trồng lúa này lại hình
thành nên nhiều loại hình sinh thái mới khác nhau.
Tuy nhiên đối với lúa trồng châu Á thì khả năng thích ứng rộng hơn, nên đã
sớm du nhập sang châu Âu, châu Đại Dương và kể cả châu Phi. Còn lúa trồng châu
sau:
Lúa rất sớm: Dưới 100 ngày
Lúa sớm: Từ 101 - 120 ngày
Lúa lỡ: Từ 121 - 140 ngày
Lúa muộn: Trên 140 ngày
- Khi phân loại lúa dựa vào địa lý người ta phân thành các nhóm sau: Indica,
Japonica và Javanica (hay Japonica nhiệt đới).
Lúa Indica thường trồng ở khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, có thân cao, dễ đổ
ngã, nhiều chồi, lá ít xanh và cong, kháng được sâu bệnh nhiệt đới.
Lúa Japonica thường được được trồng ở vùng ôn đới hoặc những nơi có độ cao
trên 1.000 m (so với mặt biển), có thân ngắn, chống đổ ngã, lá xanh đậm, thẳng đứng,
hạt gạo thường tròn, ngắn hoặc trung bình,
Lúa Javanica (bulu) hay lúa Javanica nhiệt đới được trồng ở Inđônêxia, có đặc
tính ở giữa 2 loại Japonica và Indica. Hình thức gần giống như lúa Japonica, có lá
rộng với nhiều lông và ít chồi. Thân cứng, chắc,
Ngoài ra còn có loại lúa Oryza glaberrima được trồng ở tây châu Phi cách đây
3.500 năm. Loại lúa này kháng nhiều sâu bệnh và chịu được hạn, nhưng năng suất kém
hơn những loại lúa nêu trên [6].
Dựa vào mối quan hệ giữa kiểu gen và kiểu hình của lúa người ta phân lúa
thành các nhóm sau đây:
Nhóm I: Là loài Indica điển hình, phân bố trên toàn thế giới.
Nhóm II: Gồm các loài ngắn ngày, chịu hạn, lúa vùng cao được gọi là Aus và
phân bố ở tiểu lục địa Ấn Độ.
Nhóm III và IV: Gồm loại lúa ngập nước của Ấn Độ và Bangladesh
Nhóm V: Gồm loại lúa thơm có ở tiểu lục địa Ấn Độ như Basmati 370
Nhóm VI: Bao gồm các loại Japonica và Javanica điển hình.
14
1.4. Đặc điểm thực vật học
Đặc điểm thực vật học là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ cho công tác chọn
15
triển đầy đủ và cũng không bao giờ mầm này phát triển được thành nhánh nếu lá ở
nách đã chết.
Nếu mực nước sâu quá cũng trở ngại cho việc hình thành các mầm nách dưới,
lúa đẻ nhánh chậm. Nếu mực nước quá cao, có khi lúa đẻ nhánh ngay ở trên không và
nhánh đó không đâm rễ được xuống đất nên phải ăn nhờ ở nhánh mẹ, cây yếu và bông
ngắn. Vì vậy trong canh tác lúa, lúc cây lúa bước vào đẻ nhánh phải điều chỉnh mực
nước vừa phải, thường trong giai đoạn này người ta thường rút bớt nước ở mặt ruộng.
Sự đẻ nhánh của cây lúa còn phụ thuộc vào đất xấu hay tốt: Nếu đất xấu cây lúa
sẽ không đẻ nhánh được hoặc đẻ nhánh rất kém, ở những chân đất này thường phải cấy
nhiều dảnh.
Nếu lúa đẻ nhánh muộn thì thời gian đẻ nhánh ngắn lại nên ít nhánh và bông
ngắn. Nên việc cây mạ đúng tuổi, bón phân tập trung, làm cỏ sục bùn sớm,…là những
biện pháp hữu hiệu giúp cây lúa đẻ nhánh sớm, tập trung.
Sự đẻ nhánh hữu hiệu của cây lúa có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó quyết
định đến số bông/m
2
và từ đó quyết định đến năng suất. Do vậy, việc điều khiển làm
sao cho cây lúa đẻ nhiều tập trung là rất cần thiết, thực hiện những biện pháp nhằm
giúp cây lúa đẻ nhánh sớm, tập trung,…là khâu then chốt trong kỷ thuật trồng lúa.
Khi cây lúa kết thúc đẻ nhánh thường nhận thấy sự chuyển màu từ xanh mượt
sang xanh vàng. Lúc này là lúc lúa đứng cái, lá đứng lên, các lóng phát triển rất nhanh,
cây lúa chuẩn bị bước vào làm đòng. Khi cây lúa đứng cái, các nhánh đẻ sau sẽ không
đủ các điều kiện cần thiết để phát triển thành bông lúa. Lúc này cần hạn chế sự đẻ
nhánh của cây lúa bằng các biện pháp như tháo nước vào ruộng, hạn chế bón phân lẻ
tẻ nhiều lần,…
1.4.3. Lá lúa
Cây lúa mẹ có từ 10 – 20 lá tùy theo các giống, nhưng những lá ngoài thường
nhỏ, khô và quắt dần nên trên nhánh mẹ chỉ thường thấy 5 - 6 lá.
1.4.4. Hoa lúa.
Bông lúa là một chùm hoa, trục chính phân ra nhiều nhánh ở mỗi mắt. Các
nhánh này lại được phân chia nữa, thành ra nhiều chẽn, trên mỗi chẽn có nhiều chẽn
con và mỗi chẽn con có một hoa .
Trục chính của bông gồm hai phần là cuống bông và thân bông. Cuống bông
phát triển từ mắt cuối cùng, cùng chổ với lá chẽn và nhô ra khỏi bẹ. Cuống bông và
thân bông nối với nhau bằng một cái mắt, thân nhẵn hay có lông tơ. Có giống cuống
bông được lá chẽn bọc kín, còn có những giống thì thò ra ngoài. Đặc tính này phụ
thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh: Ruộng càng tốt, bông cành phát triển thì cuống
phát trển càng dài và ngược lại,…
17
Hoa lúa là hoa lưỡng tính, có hai bộ phận chính là nhị đực và nhụy cái. Thành
phần của nhị cái là nuốm, vòi nhụy và noãn. Nuốm có có lông để giữ hạt phấn khi rơi
vào. Bầu noãn dày, tròn và mang hai vòi nhụy.
1.5. Phản ứng với điều kiện khí hậu
Cũng như các cây trồng khác, cây lúa cũng có những yêu cầu nhất định với điều
kiện khí hậu như: Nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa,…
1.5.1. Nhiệt độ
Cây lúa là cây ưu nóng. Nhiệt độ ảnh hưởng đến tất cả các quá trình sinh trưởng
và phát triển của cây lúa: Từ thời kỳ nẩy mộng đến ra hoa kết hạt và chín. Nhiệt độ
ảnh hưởng đến cây lúa thể hiện những điểm sau:
- Khoảng nhiệt độ tối thích: Đó là khoảng nhiệt độ mà ở đó cây lúa sinh trưởng
và phát triển tốt nhất, tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển mà có nhiệt độ tối
thích khác nhau: Ví dụ, nhiệt độ tốt nhất cho nẩy mộng là 30 – 36
0
C, còn giai đoạn ra
hoa là 25 – 28
0
C.
nóng ở các tỉnh miền Trung. Nên trong bố trí thời vụ cần cân nhắc phù hợp để cây lúa
18
có thể tránh được nhiệt độ bất thuận trong những thời điểm nhạy cảm ảnh hưởng lớn
nhất đến năng suất.
Với ruộng mạ, nếu gặp rét ít đầu lá mạ sẽ bị vàng, nếu gặp rét nhiều thì cả cây
có thể bị táp vàng, nếu gặp rét nặng có thể chết cả ruộng.
Khi nhiệt độ xuống thấp, sức đẻ nhánh của cây lúa cũng giảm xuống do sinh
trưởng ngừng lại, lúa có thể chuyển sang giỗ sớm, bông ngắn và lép nhiều.
Đặc biệt lúc lúa trổ gặp rét sẽ làm trở ngại cho việc phơi mao vào mẩy ảnh
hưởng rất lớn đến năng suất, do vậy ông cha ta đã từng có câu: “Con đói thì con ăn
khoai, chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng” để khẳng định thêm điều đó.
Nếu nhiệt độ cao quá cũng ảnh hưởng xấu đến cây lúa, nhất là trong trường hợp
nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp và gió thổi mạnh làm lá phát tán nhiều,…
Như vậy, nhiệt độ ảnh hưởng đến năng suất hạt là do ảnh hưởng tới sự đẻ
nhánh, sự hình thành hạt và sự chín. Ở nhiệt độ 20 – 30
0
C, vận tốc tăng trưởng hầu
như tăng tuyến tính với sự tăng nhiệt độ. Ở giai đoạn 3 – 5 tuần sau gieo, nhiệt độ ảnh
hưởng tới vận tốc đẻ nhánh: Do làm tăng vận tốc ra lá và hình thành mầm chồi khi
nhiệt độ tăng trong ngững tối thích.
Biết được sự ảnh hưởng của nhiệt độ đối với các giai đoạn sinh trưởng, phát
triển của cây lúa là cơ sở khoa học quan trọng trong việc bố trí thời vụ thích hợp, nhằm
hạn chế đến mức thấp nhất những rũi ro có thể có.
1.5.2. Ánh sáng
Lúa là cây ưu sáng. Ánh sáng cần cho sự quang hợp để tạo ra chất hữu cơ cần
thiết giúp lúa sinh trưởng, lớn lên.
Ánh sáng cũng cần thiết cho sự đẻ nhánh của cây lúa, ở những chân ruộng ngập
nước sâu sẽ cản trở sự đẻ nhánh của cây lúa vì ánh sáng không chiếu thấu tới gốc lúa.
Cấy thưa ánh sáng chiếu vào gốc lúa nhiều hơn nên cây lúa đẻ nhiều và đẻ dày, tránh
ngập sâu quá để bảo đảm quá trình đẻ nhánh diễn ra thuận lợi.
Giai đoạn lúa đứng cái nhu cầu nước có giảm xuống một thời gian ngắn, nhưng
khi hoa bắt đầu phát triển, phơi mao và vào mẫy thì nhu cầu về nươc lại cao lên. Trung
bình để tạo thành 1 kg hạt cần 300 – 350 kg nước.
Lúc bắt đầu chắc xanh đến chín nhu cầu về nước giảm mạnh, để cho nội nhũ
chín, nước nội thể sẽ được tiêu thụ phần lớn.
Khối lượng nước cần thiết cho lúa trong cả quá trình sinh trưởng có thể giảm
bớt tùy theo chất lượng nước, tùy theo khả năng chịu hạn của giống lúa, tùy theo nhiệt
độ, ánh sáng của thời vụ, và tùy theo nước đó là nước lưu thông hay nước tù đọng.
Nhưng nhìn chung các giống lúa phát tiển nhanh cần nhiều nước hơn các giống lúa
phát triển chậm trên cùng một thời gian. Những giống có năng suất cao cần nhiều nước
20
hơn những giống có năng suất thấp trong cùng một hoàn cảnh về khí hậu, đất đai. Lúa
trên những ruộng tốt, bón phân hợp lý cần ít nước hơn so với trên những chân ruộng
xấu.
Lúa là cây sống ở nước, nhưng hệ số phát tán lại kém hơn nhiều so với các cây
trồng trên cạn, nhưng lúa lại cần nhiều nước vì trong mô và trong tế bào thường chứa
ít nước. Vì vậy chỉ hơi thiếu nước là cây lúa không chịu nổi, quang hợp sẽ giảm đi và
cây ngừng lớn. Đặc biệt cây lúa mẫn cảm nhất với sự thiếu nước từ giai đạn phân bào
giảm nhiễm đến trổ bông. Sự thiếu nước sẽ dẫn đến bất thụ làm giảm năng suất [5].
Có nhiều chuyên gia xếp lúa thành những dạng ưa nước, cần mực nước và
những hạng có thể trồng được trên cạn. Nhưng thực ra những giống lúa trồng trên cạn
được một cách tự nhiên chỉ sinh sống được ở những vùng mưa nhiều.
Ở những vùng nhiệt đới, hạn hạn gây tác hại nghiêm trọng đến sản xuất lúa gạo.
Khi thực vật gặp hạn vừa mất nước vừa bị đốt nóng làm cho nguyên sinh chất bị tổn
thương nặng nề do hệ keo bị thoái hóa,…. Sự thiếu nước ở cây trồng có thể là do sự
tác động sơ cấp tức là kết quả thiếu nước của môi trường, hoặc là do tác động của sự
thiếu nước thứ cấp tức do nhiệt độ thấp, sự đốt nóng hoặc sự tác động bất lợi của
muối,….
1.6.3. Đặc điểm di truyền của cây lúa liên quan đến năng suất
Hiện nay trên thế giới có hơn 200 triệu người thiếu lương thực, bên cạnh đó có
nhiều quốc gia do nền kinh tế phát triển nên nhu cầu về gạo chất lượng ngày một cao.
Song song với việc chọn tạo các giống chất lượng cao thì các giống lúa có năng suất
cao đang là ưu tiên hàng đầu của các nhà khoa học chọn tạo giống.
Năng suất của cây lúa do đa gen quy định, các giống lúa thấp cây thường chống
đổ tốt và cho năng suất cao hơn những giống lúa cao cây. Những giống có bộ lá đứng
thì quần thể ruộng lúa sẽ tiếp nhận ánh sáng một cách tốt hơn nên khả năng quang hợp
tốt hơn, làm cho năng suất lúa tăng cao hơn những bộ giống có bộ lá xòe. Thời gian
sinh trưởng ngắn hoặc dài quá đều không cho năng suất cao. Những giống cho năng
suất cao là những giống có sự thống nhất hài hòa của các yếu tố cấu thành năng
suất,…[1].
1.7. Tình hình sản xuất , tiêu thụ và nghiên cứu lúa trên thế giới
1.7.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ
Lúa là cây lương thực dễ trồng và cho năng suất cao. Tuy nhiên do điều kiện tự
nhiên như địa hình, khí hậu, đất đai,…cũng như điều kiện về kinh tế, khoa học kỹ
thuật,… của mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi nước là khác nhau, nên khả năng phát triển,
cho năng suất của cây lúa cũng khác nhau. Hiện nay trên thế giới có hơn 130 nước
trồng lúa, được phân bố tương đối rộng từ 40
0
Bắc đến 53
0
Nam, vùng phân bố trồng
22
lúa là ở châu Á từ 30
0
Bắc đến 10
0
Nam. Đại bộ phận lúa gạo của thế giới được sản
641,600
Ecuador
371,170
42,178
1.565,535
India
42.500,000
35,906
152.600,000
Indonesia
13.443,443
51,360
69.045,141
Iran
480,000
50,000
2.400,000
Japan
1.581,000
67,388
10.654,.000
Malaysia
692,340
39,725
2.750,404
Myama
8.150,000
40,491
33.000,000
Pakistan
- Sản lượng lúa: Tình hình sản xuất gạo trên thế giới từ năm 2002 đến 2012
luôn tăng trưởng về sản lượng. Sản lượng gạo toàn cầu tăng 3%, so với sản lượng năm
2010 dù một số nước có gặp khó khăn về thiên tai do lũ lụt gây ra. Sự gia tăng này một
mặt do diện tích thu hoạch tăng 2,2% lên 164,6 triệu ha, mặt khác do năng suất tăng
0,8%, tương đương 4,38 tấn/ha. Bất chấp sản lượng lúa gạo tại Thái Lan, Pakistan,
Philippines, Campuchia, Lào, Myanmar bị ảnh hưởng do thời tiết không thuận lợi,
nhưng châu Á vẫn sản xuất được tới 90,3%, tức 651 triệu tấn (hay 435 triệu tấn gạo).
Kết quả này có được chủ yếu nhờ sản lượng tăng mạnh tại Trung Quốc, Ấn Độ,
Pakistan và Việt Nam, trong đó Việt Nam năm 2012 đạt 27,12 triệu tấn, xuất khẩu
7,72 triệu tấn đứng thứ hai sau Ấn Độ, các quốc gia cung cấp gạo thuộc tốp 10 quốc
gia xuất khẩu gạo hàng đầu còn lại là Pakistan, Brazil, Thái Lan Do vậy, Tuy Việt
Nam cung sản lượng gạo đứng thứ hai trong các quốc gia xuất khẩu gạo nhưng cũng
phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ các quốc gia có nguồn cung gạo còn lại.
Chúng ta có thể khẳng định rằng, trong những năm vừa qua mặc dù có những
biến động nhất định về diện tích, năng suất, sản lượng lúa của thế giới, nhưng nhìn
chung sản lượng vẫn tăng lên đáng kể, qua đó thể hiện một nổ lực rất lớn của của các
nhà khoa học và nông dân trồng lúa trên toàn thế giới. Đặc biệt là sự nghiên cứu, tuyển
chọn tìm ra những giống lúa có năng suất cao, phù hợp với điều kiện ngoại cảnh cụ thể
của từng địa phương, từng vùng.
Tuy nhiên, tình hình sản xuất lúa ở các vùng khác nhau trên thế giới là rất
chênh lệch nhau về diện tích, năng suất cũng như sản lượng,
Mặc dù lúa tập trung trồng chủ yếu ở châu Á, nhưng trên thực tế năng suất lúa ở
vùng này không cao, châu Á đúng thứ 4 trên 6 châu lục trồng lúa trong khi đó năng
suất cao chủ yếu tập trung tại những vùng có diện tích trồng lúa ít như châu Úc, châu
Mỹ.
Sự chênh lệch về năng suất, sản lượng và diện tích giữa các vùng trồng lúa trên
thế giới là khá lớn. Vùng có diện tích và sản lượng cao nhất là châu Á, châu Úc là
châu lục tuy đạt năng suất cao nhất (82 tạ/ha) nhưng do diện tích trồng lúa quá nhỏ, ít
hơn châu Á đến 1.498 lần nên sản lượng thu được chỉ là 726.000 tấn/năm, trong khi đó
châu Á đạt 447.367.000 tấn/năm. Châu Mỹ cũng có năng suất lúa khá cao (63 tạ/ha)
Ấn độ là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, tiếp đến là Việt Nam và Thái
Lan. Hiện này tình hình xuất khẩu gạo trên thế giới đang có nhiều biến động lớn, do
trong một thời gian ngắn gần đây thế giới phải trải qua nhiều diễn biến phức tạp: Tình
hình bạo lực trên thế giới leo thang, thiên tai xảy ra nghiêm trọng ở nhiều nước trên
thế giới (động đất ở Trung Quốc, lũ lụt ở Inđônêxia, ) và đặc biệt là giá dầu không
ngừng tăng lên, tất cả những biến động đó đã tác động mạnh mẽ đến tình hình xuất
25
khẩu lúa gạo trên thế giới đăc biệt là giá gạo đã tăng lên mạnh trong một thời gian
ngắn và đang diễn biến hết sức phức tạp.
Bảng 1.2 :Tình hình xuất khẩu gạo của các nước trên thế giới năm 2013
Đơn vị: Triệu tấn
STT
Tên nước
Sản lượng
xuất khẩu
TT
Tên nước
Sản lượng xuất
khẩu
1
Ấn độ
8
6
Urugoay
0,85
2
Việt Nam
7,72
7
1 tháng 7 năm 2012. Ngoài ra, chính phủ có kế hoạch nâng thuế nhập khẩu gạo từ 20%
lên 40%. Điều này có nghĩa là mặt hàng sẽ có mức thuế nhập khẩu 50% và đến 31
tháng 12 năm 2012 sẽ tăng lên 100%. Triển khai các biện pháp này sẽ đánh dấu một sự
thay đổi trong chính sách hải quan của Nige- ria, theo đó trong những năm gần đây
quốc gia này đã có những điều chỉnh giảm về thuế suất phù hợp với lộ trình của
Chương trình thuế quan chung trong Cộng đồng Kinh tế các quốc gia Tây Phi. Trong
khi đó, một số thị trường lớn khác trong khu vực như Senegal sẽ tăng 4% lượng gạo
nhập khẩu lên ở mức 780 nghìn tấn. Cote d’Ivoire và Nam Phi tăng lên ở mức tương
ứng là 900 nghìn và 950 nghìn tấn.