BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
*****
HOÀNG THỊ HUỆ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO NGHỀ LÁI XE Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
NGHỀ KINH TẾ - CÔNG NGHỆ VICET
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Nghệ An - 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
*****
HOÀNG THỊ HUỆ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO NGHỀ LÁI XE Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ
KINH TẾ - CÔNG NGHỆ VICET
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Văn Hùng
Nghệ An – 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, Tôi đã nhận được sự hướng dẫn
khoa học, sự chỉ bảo tận tình của Thầy giáo, PGS. TS. Hà Văn Hùng – người đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn Tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Xin được
kính gửi tới Thầy tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc.
Tôi cũng rất cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Sau đại học, các thầy cô giáo
giảng dạy chuyên ngành Giáo dục học đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình
thực hiện đề tài.
QLCL: Quản lý chất lượng.
QLĐT: Quản lý đào tạo.
QLGD: Quản lý giáo dục.
QTDH: Quá trình dạy học.
MỤC LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đào tạo nghề cho người lao động có một vị trí quan trọng trong chiến
lược phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia trên thế giới. Thực hiện tốt việc
đào tạo nghề sẽ giúp cho mỗi quốc gia có được đội ngũ công nhân kỹ thuật có
trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi, khắc phục được tình trạng thừa thầy,
thiếu thợ, đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy rõ vai trò quan trọng
của đào tạo nghề. Điều này được thể hiện trong việc hoạch định các chiến lược
KT - XH của đất nước, đó là luôn đặt con người và vấn đề giải quyết việc làm
vào vị trí trọng tâm, lấy lợi ích của người lao động làm điểm xuất phát của mọi
chương trình, kế hoạch phát triển của mình.
Thanh Hóa là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung bộ với diện tích lớn, dân
số đông, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm cao. Điều kiện tự nhiên - xã hội
của tỉnh rất thuận lợi cho việc giao thương bằng các loại phương tiện vận tải như
ô tô để phát triển kinh tế. Cùng với sự phát triển về kinh tế thì nhu cầu sử dụng ô
tô nói riêng và các phương tiện giao thông vận tải nói riêng ngày càng gia tăng.
Để đáp ứng nguồn nhân lực và nhu cầu của tỉnh, Trường CĐN VICET đã tập
trung đào tạo đội ngũ HV lái xe phục vụ yêu cầu phát triển KT - XH và giải
quyết nhu cầu đi lại của nhân dân trên địa bàn
Lái xe là nghề đặc thù được cả xã hội và hệ thống chính trị quan tâm, tiêu
chí bảo đảm chất lượng trong đào lái xe luôn là yêu cầu cao của các cơ quan
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề lái xe
ở trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Công nghệ VICET.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Các hoạt động quản lý đào tạo nghề lái xe tại trường Cao đẳng nghề Kinh
tế - Công nghệ VICET.
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề lái xe ở
trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Công nghệ VICET .
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp quản lý đảm bảo tính khoa học, đồng bộ
và khả thi thì sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo nghề lái xe ở trường Cao
đẳng nghề Kinh tế - Công nghệ VICET.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống cơ sở lý luận về công tác quản lý nâng cao chất lượng đào
tạo nghề lái xe tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Công nghệ VICET.
5.2. Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý nâng cao
chất lượng đào tạo nghề lái xe tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế -
Công nghệ VICET.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề lái
xe tại trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Công nghệ VICET.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tập hợp, phân loại tài liệu, nghiên cứu các tri thức khoa học có trong các
văn bản của Đảng, Nhà nước, của ngành giáo dục đào tạo và các tài liệu khoa
học liên quan.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Phương pháp điều tra: áp dụng phương pháp An – két
trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Công nghệ VICET.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đào tạo nghề là quá trình tổ chức dạy và học nhằm truyền đạt một khối
lượng kiến thức, kỹ năng, thái độ về một nghề nghiệp cụ thể nào đó người học
có thể sử dụng trong quá trình lao động theo sự phân công lao động xã hội [9].
Nghề sinh ra và phát triển theo tiến bộ xã hội, của khoa học kỹ thuật.
Ngày nay, do sự nhanh chóng của khoa học, công nghệ, nhiều nghề trở nên lạc
hậu, bị mai một, nhiều nghề mới phát sinh và phát triển. Vì vậy, đào tạo nghề trở
thành một nhu cầu quan trọng, thường xuyên trong mọi xã hội.
Đào tạo nghề là vấn đề đã và đang thu hút rất nhiều sự quan tâm của các
nhà khoa học và những người hoạch định chính sách. Đã có nhiều công trình
khoa học, các hội thảo khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ của các nhà khoa
học không chỉ trong nước mà còn trên thế giới nghiên cứu về vấn đề đào tạo
nghề cho người lao động ở nhiều góc độ, phạm vi rộng hẹp khác nhau. Thực tiễn
lịch sử loài người cho thấy, từ khi con người biết hợp sức nhau lại để tự vệ hoặc
mưu sinh thì lao động của số đông con người cần có sự phối hợp và điều khiển trở
thành một tất yếu khách quan để thực hiện được mục tiêu chung đã định. Khi
nghiên cứu về hiện tượng này C. Mác đã viết: "Bất cứ lao động xã hội hay cộng
đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực
nhất định đến sự quản lý, quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và
hoàn thành chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ
của nó". Như vậy, hoạt động quản lý đã xuất hiện rất sớm và khoa học quản lý cũng
như hoạt động nghiên cứu khoa học quản lý sớm hình thành và phát triển, đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLCL và quản lý CLĐT nghề của
nhiều tác giả của các quốc gia khác nhau trên thế giới tiến hành.
Tác giả Freeman (1994), trong tác phẩm “Đảm bảo chất lượng trong giáo
6
tục cải tiến CLĐT nhằm thỏa mãn yêu cầu của người học và đáp ứng nhu cầu thị
trường lao động.
Theo Petros Kefalas và các cộng sự (2003), một hệ thống ĐBCL bao gồm
các tiêu chuẩn chất lượng: chương trình học tập hiệu quả, đội ngũ CBGV, khả
năng sử dụng cơ sở hạ tầng sẵn có, phản hồi tích cực từ HV và sự hỗ trợ từ các
bên liên quan và thị trường lao động [42].
Trong “Sổ tay hướng dẫn và thực hiện” (2004) của tổ chức ĐBCL mạng
lưới chất lượng các nước Đông Nam Á đã nêu rõ: Mô hình ĐBCL ở các nước
Đông Nam Á rất đa dạng. Nhưng điểm chung là hầu hết các cơ quan ĐBCL
quốc gia đều do nhà nước thành lập, được nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu
thực hiện nhiệm vụ kiểm định [37].
Anna Maria Tammaro (2005), trong báo cáo về các mô hình ĐBCL trong
LIS cho biết: Ba mô hình ĐBCL xuất hiện từ các hướng dẫn và các tiêu chuẩn
khác nhau của LIS đó là: Định hướng chương trình; Định hướng quá trình giáo
dục; Định hướng kết quả học tập [35].
Tại Việt Nam, đào tạo nghề có lịch sử phát triển khá lâu dài, gắn liền với
sự phát triển của các làng nghề, cơ sở sản xuất nông nghiệp. Khoa học quản lý
tuy được nghiên cứu muộn nhưng tư tưởng về quản lý cũng như "Phép trị nước
an dân" đã có từ lâu đời. Trong "Bình Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi (1380 - 1442)
đã viết: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân" đủ thấy rằng các minh quân nước Việt
Nam từ xa xưa đã biết lấy dân làm gốc trong quản lý đất nước.
Lịch sử công tác đào tạo nghề ở Việt Nam được chia thành các giai đoạn:
- Giai đoạn 1969 - 1975: Đây là giai đoạn bắt đầu hình thành một số trường
dạy nghề ở miền Bắc. Tính đến hết năm học 1974 - 1975, miền Bắc đã có 185
trường dạy nghề với quy mô đào tạo hệ dài hạn lên đến 160.000 học sinh.
- Giai đoạn 1975 - 1986: Trong giai đoạn này đào tạo nghề Việt Nam đã có
những bước tiến đáng kể: Hệ thống các trường sư phạm kỹ thuật và hệ thống
trung tâm dạy nghề ở các tỉnh, quận, huyện trong phạm vi cả nước được hình
thành…để đào tạo nghề ngắn hạn cho người lao động theo phương châm: "Nhà
8
(khối ngành kĩ thuật)” do tác giả Trần Khánh Đức làm chủ nhiệm đề tài đã hệ
thống được cơ sở lí luận và thực tiễn đưa ra quan niệm khá đầy đủ về CLĐT và
ĐBCL đào tạo, các tiêu chí và phương pháp đánh giá CLĐT so sánh những mô
hình QLCL đào tạo đang được các nước phát triển đang vận dụng hiện nay [12].
Theo tác giả Phan văn Kha (2004), trong tác phẩm “Nghiên cứu đề xuất mô
hình quản lí CLĐT sau đại học ở Việt Nam”, Hệ thống chất lượng được xem
như một phương tiện cần thiết để thực hiện chức năng QLCL. Để xây dựng
được hệ thống chất lượng cần phải xác định được tất cả các yếu tố tác động và
quyết định đến chất lượng, đồng thời đưa ra các tiêu chí, các qui trình, thủ tục
cần phải áp dụng để triển khai các yếu tố đó nhằm đạt được kết quả và chất
lượng mong muốn [20].
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí (2008) trong tác phẩm “Giáo dục nghề
nghiệp đáp ứng thị trường lao động”, một hệ thống ĐBCL đào tạo thường phải
đáp ứng 3 yêu cầu chính sau: Xây dựng được một sơ đồ các vấn đề cần quản lí
(chuỗi các công đoạn/qui trình); Xây dựng được các qui trình, thủ tục thực hiện
cho từng công đoạn/qui trình đó và đảm bảo điều kiện cho việc thực hiện được
và có thể kiểm định khi cần thiết; Có những tiêu chí cần thiết để đối chiếu kết
quả đạt được so với các tiêu chuẩn đã qui định trong mục tiêu ở đầu vào và đầu
ra của mỗi công đoạn/qui trình [30].
Trong tác phẩm “Mô hình quản lí CLĐT tại Khoa Sư phạm Đại học Quốc
gia Hà Nội”, Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), đã nhấn
mạnh: QLCL đào tạo phải được thực hiện ở mọi khâu, mọi nơi, mọi lúc, từ đầu
vào, quá trình dạy học và đầu ra cho tới nơi làm việc của HV sau tốt nghiệp [8].
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính (2000), trong tác phẩm “Nghiên cứu xây
dựng bộ tiêu chí đánh giá CLĐT dùng cho các trường đại học Việt Nam” thì các
CSĐT cần có các điều kiện ĐBCL đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra.
Có thể nhận thấy, các công trình trên đã đề cập đến các vấn đề lý luận rất
cơ bản về khoa học quản lý như bản chất của hoạt động quản lý, các thành phần
cấu trúc, các giai đoạn của hoạt động quản lý, đồng thời chỉ ra các phương pháp
10
thống mà người quản lý mong muốn”. Hà Sỹ Hồ cho rằng: “Quản lý là một quá
trình tác động có định hướng (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các tác
động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường,
nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển
tới mục đích đã định” [15]. Theo Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một công việc
vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật”. Ông viết “Quản lý một hệ
thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là
vào những con người nhằm đạt hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đề ra”. Theo tác
giả Đặng Thành Hưng, khái niệm quản lí phản ánh một dạng lao động trí tuệ
của con người có chức năng bảo đảm và khuyến khích những nỗ lực của những
người khác để thực hiện thành công công việc nhất định. Quản lý là công tác
phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một
tổ chức Quan niệm hiện đại về quản lí thừa nhận đó là toàn bộ các hoạt động
huy động, tổ chức, thực thi các nguồn lực vật chất và tinh thần, sử dụng chúng
nhằm tác động và gây ảnh hưởng tích cực đến những người khác để đạt được
những mục tiêu của tổ chức hay cộng đồng [19].
Như vậy, có thể nói hoạt động quản lý là tất yếu nảy sinh khi con người
lao động tập thể và tồn tại ở mọi loại hình tổ chức, mọi xã hội. Do đó, khái niệm
quản lý được nhiều tác giả đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn:
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là
hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến
khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận
hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8].
- Theo Nguyễn Văn Bình thì: “Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục
tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động
của những người khác” [3].
Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật
của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
11
được mục tiêu đó bằng nhiều biện pháp khác nhau.
- Kiểm tra: Là hình thức thu thập thông tin phản hồi về mức độ thực hiện
các nhiệm vụ được giao. Các thông tin đó có thể là định tính có thể là định
lượng. Trong chu trình quản lý, kiểm tra là giai đoạn cuối cùng không thể thiếu
được, có vai trò quan trọng để điều chỉnh, để hoàn thành hoạt động ở các giai
đoạn trước.
Bản chất của hoạt động kiểm tra trong quản lý là quá trình xem xét thực
tế, đánh giá thực trạng so với mục tiêu, phát hiện các mặt: tích cực, sai lệch, vi
phạm để đưa ra kết luận điều chỉnh. Biểu thị mối liên hệ và tác động trực tiếp
Biểu thị mối liên hệ ngược hoặc thông tin phản hồi trong quá trình
quản lý.
Hình 1.: Chức năng quản lý trong chu trình quản lý.
Kế hoạch
Kiểm tra
Thông
tin
Tổ chức
Chỉ đạo
13
1.2.2. Quản lý giáo dục
* Quản lý giáo dục
QLGD là một loại hình quản lý xã hội. QLGD là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật giữa chủ thể quản lý và khách thể
quản lý nhằm đạt được mục tiêu giáo dục dự kiến của từng cấp quản lý.
* Nội dung quản lý giáo dục
QLGD là một quá trình với các thành tố, mục tiêu đào tạo, phương pháp
đào tạo; CSVC, thiết bị đào tạo; lực lượng đào tạo (thầy); đối tượng đào tạo
(trò); kết quả đào tạo. Các thành tố của quá trình GD&ĐT là một thể thống nhất,
chúng có tác động tương hỗ lẫn nhau [2] [8].
1.2.3. Dạy học thực hành và Quản lí dạy học thực hành
Quá trình dạy học trong giáo dục và đào tạo nói chung và trong đào tạo
nghề nói riêng thường được phân chia ra một cách tương đối thành hai quá trình
bộ phận là dạy học lí thuyết và dạy học thực hành. Dấu hiệu quan trọng của quá
trình dạy học đặc biệt là dạy thực hành trong giáo dục chuyên nghiệp là dạy học
không phải chủ yếu là truyền đạt, cung cấp thông tin mà phải chủ yếu là hình
thành kĩ năng, rèn luyện kĩ xảo, phát triển khả năng tìm tòi, phát hiện, quản lý và
ử lí thông tin thành sản phẩm có ý nghĩa đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp.
Dạy lí thuyết nghề là truyền đạt và lĩnh hội hệ thống tri thức chung và tri
thức lí thuyết nghề nghiệp, trên cơ sở đó phát triển năng lực trí tuệ cũng như giáo
dục cơ sở thế giới quan khoa học, hình thành những phẩm chất đạo đức cho HV.
Dạy học thực hành nghề có nhiệm vụ chủ yếu là truyền đạt và tiếp thu kĩ năng, kĩ
xảo, hình thành ý thức thái độ nghề nghiệp và những kinh nghiệm thực tiễn của
xã hội. Dạy thực hành là một quá trình giáo dục và giáo dưỡng được tổ chức có
kế hoạch là một qua trình giảng dạy, học tập và lao động. Quá trình trình ấy cùng
với quá trình giảng lý thuyết và hoạt động ngoài giờ tạo nên một thể thống nhất
trong đào tạo nghề. Rõ ràng là sự phân chia tương đối QTDH trong đào tạo nghề
như vậy là dựa vào chức năng, nhiệm vụ của dạy lí thuyết và dạy thực hành nghề.
Hai quá trình thường được bổ ung cho nhau, thống nhất với nhau, được tổ chức
15
thực hiện xen kẽ, thay đổi và kế thừa nhau. Hiện nay chúng ta đang có xu hướng
thực hiện thống nhất quá trình dạy lí thuyết chuyên môn nghề với quá dạy trình
thực hành nghề. Hình thức đào tạo theo Môdul và MES mà chúng ta đang triển
khai thực hiện chính là làm ranh giới tương đối giữa dạy lí thuyết nghề và dạy
thực hành nghề gắn bó chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên sự khác nhau trong phương
chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân
loại.
Từ điển tiếng Việt đưa ra định nghĩa “Nghề là công việc chuyên làm, theo
sự phân công của xã hội” [31].
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao
động vừa mang tính xã hội (Sự phân công của xã hội), vừa mang tính cá nhân
(Nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi
để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và của cá nhân.
Bất cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: Tri
thức nghề, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại.
Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi con người phải có một quá trình đào
tạo chuyên biệt để có những kiến thức, chuyên môn nhất định. Khi tìm hiểu về
khái niệm nghề cần quan tâm tới đặc điểm chuyên môn nghề và phân loại nghề vì
nó là cơ sở để xác định nội dung đào tạo nghề và cấp trình độ đào tạo. Đặc điểm
chuyên môn của nghề gồm các yếu tố:
- Đối tượng lao động nghề.
- Công cụ và phương tiện của lao động nghề.
- Qui trình công nghệ.
- Tổ chức quá trình lao động nghề.
- Các yêu cầu tâm sinh lý của người học nghề cũng như yêu cầu về đào tạo
nghề.
Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tổ chức đào tạo.
Tuy nhiên do xuất phát từ yêu cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau
nên phân loại nghề có nhiều loại: Nghề dạy học, nghề điêu khắc, nghề tiện, nghề
17
điện, nghề trồng rừng
Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội là phương
tiện để sinh sống và dưới góc độ đào tạo nghề là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng,
thái độ mà người lao động cần có để thực hiện các hoạt động trong một lĩnh vực lao
động nhất định.
người nhằm phát triển tay nghề (dạy nghề) và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp
(nhân cách) của họ, thể hiện trên 3 mặt: Kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp, phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực
quốc gia.
Lý luận dạy nghề với tư cách là một bộ môn của giáo dục học nghề
nghiệp, là lý thuyết của của dạy học trong đào tạo nghề nghiệp và cũng chính là
lý thuyết của dạy học nói chung. Dạy học là quá trình giáo dục và giáo dưỡng
có kế hoạch, có mục tiêu do giáo viên tổ chức và chỉ đạo trong quá trình dạy
học.
Dạy thực hành nghề là một quá trình sư phạm giải quyết các nhiệm vụ do
giáo viên thực hành và học sinh học nghề tổ chức thực hiện một cách khoa học
có mục đích nhằm tạo những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho người công nhân
tương lai. Như vậy trong quá trình dạy học thì cả người dạy lẫn người học đều
tham gia vào quá trình ấy, sự chỉ đạo của giáo viên được thể hiện ở những điểm
sau:
- Xác định mục đích và nôi dung của việc dạy.
- Xác định nhiệm vụ của việc dạy.
- Xác định tiến trình phương pháp và tổ chức dạy.
- Xác định các phương tiện giảng dạy.
Quá trình dạy thực hành nghề nói riêng là một hệ thống hoàn chỉnh các
yếu tố sau:
- Mục tiêu dạy học.
- Nội dung dạy học.
- Phương pháp dạy học.
19
- Phương tiện dạy học.
- Hình thức tổ chức dạy học.
- Hoạt động dạy học.
- Hoạt động học tập.
- Kết quả dạy học.
đầy đủ CSVC, không cần bộ máy chuyên trách mà dựa vào điều kiện sãn có của
doanh nghiệp. Chương trình đào tạo gồm hai phần: Lý thuyết và thực hành sản
xuất. Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách;
phần thực hành được tiến hành ở các phân xưởng do các kỹ sư hoặc công nhân
lành nghề hướng dẫn.
- Các trường chính quy: Đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển trên cơ sở
kỹ thuật hiện đại, các Bộ hoặc các Ngành thường tổ chức các trường dạy nghề tập
trung, quy mô lớn, đào tạo công nhân có trình độ cao, chủ yếu là đào tạo đội ngũ
công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên có trình độ cao. Thời gian đào tạo tùy theo nghề
đào tạo, HV sau khi tốt nghiệp ra trường được cấp bằng nghề.
Khi tổ chức các trường dạy nghề cần phải có bộ máy quản lý, đội ngũ giáo
viên chuyên trách và CSVC riêng cho đào tạo. Để nâng cao CLĐT phải đảm bảo
các điều kiện sau đây:
+ Phải có đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm
giảng dạy.
+ Phải được trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho giảng dạy và học tập,
các phòng thí nghiệm, xưởng trường. Nhà trường cần tổ chức các phân xưởng sản
xuất vừa phục vụ cho giảng dạy, vừa sản xuất của cải vật chất phục vụ xã hội.
Nếu không có điều kiện tổ chức xưởng sản xuất thì nên để gần các doanh nghiệp
lớn của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho dạy và học. Các tài liệu và sách giáo
khoa phải được biên soạn thống nhất cho các nghề, các trường.
- Các trung tâm dạy nghề: Đây là loại hình đào tạo ngắn hạn, thường dưới
một năm. Chủ yếu là đào tạo phổ cập nghề cho thanh niên và người lao động.
21