Bài thảo luận nhóm 4:
Thành viên nhóm:
1- Vũ Hải Dương
2- Lê Văn Điềm
3- Nguyễn Thị Hoài
Đề tài:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG TÁI BẢO HIỂM CỦA
CÁC DNBH PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
Đề cương chung
I- Cơ sở lý thuyết về tái bảo hiểm
1- Sự cần thiết khách quan của tái bảo hiểm
2- Bản chất, chức năng của tái bảo hiểm
2.1- Bản chất của tái bảo hiểm
2.2- Chức năng của tái bảo hiểm
3- Các khái niệm tái bảo hiểm, nhận tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm
II- Cơ sở pháp lý cho hoạt động tái bảo hiểm ở Việt Nam
III- Thực trạng hoạt động nhượng tái bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1- Thực trạng hoạt động nhượng tái bảo hiểm của các DNBH phi nhân thọ
2- Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhượng tái bảo hiểm của các doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam hiện nay
2.1- Về phía Nhà nước
2.2- Về phía các doanh nghiệp bảo hiểm
Đề tài:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG TÁI BẢO HIỂM CỦA
CÁC DNBH PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
I-Cơ sở lý thuyết về tái bảo hiểm
1-Sự cần thiết khách quan của tái bảo hiểm
Trong cuộc sống và hoạt động sản xuất kinh doanh thường gặp những rủi ro
những hạn chế của đồng bảo hiểm mà tái bảo hiểm ra đời nhằm khắc phục
những nhược điểm này của nó và được các công ty bảo hiểm sử dụng cho tới
ngày nay.
2- Bản chất, chức năng của tái bảo hiểm
2.1- Bản chất của tái bảo hiểm
Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế. Nó bao gồm các quá trình phân phối lại
nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo của xã hội. Đặc trưng của nó là việc thành lập
mang tính chất tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận dụng các quy
luật thống kê và nguyên tắc cân đối cũng như việc phân phối mang tính chất
riêng rẽ quỹ đó để đáp ứng những nhu cầu có thể dự đoán được trong tương lai
phát sinh ra từ những sự cố bất ngờ gây thiệt hại hay xảy ra.
Phân tích sâu hơn ta thấy khái niệm bảo hiểm chứa đựng hai yếu tố cơ bản
sau:
- Tính tập thể của việc thành lập quỹ dự trữ, có nghĩa là mỗi thành viên tham
gia bảo hiểm đều phải đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm). Phí
này được tính dựa trên quy luật thống kê (bao gồm thống kê tổn thất và mức độ
trung bình của các tổn thất, thống kê các đơn vị rủi ro) và nguyên tắc cân đối
(có nghĩa là tổng số phí thu phải bằng tổng số tiền chi trả bồi thường).
- Tính riêng rẽ của việc phân phối quỹ dự trữ, có nghĩa là chỉ phân phối quỹ cho
những thành viên khi có rủi ro bất ngờ gây thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm
xảy ra. Những rủi ro bất ngờ này về tổng thể phải dự đoán được và hay xảy ra.
Trên đây cũng là những yếu tố cơ bản cần phải chú ý khi tiến hành việc lập,
quản lý và phân phối quỹ tiền tệ thông qua hình thức bảo hiểm. Do có đặc thù
trên nên bảo hiểm có sự đóng góp nhất định vào việc đảm bảo tính liên tục, sự
ổn định và hiệu quả của quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng xã hội. Dựa
theo các rủi ro được bảo hiểm, các ngành kinh tế khác nhau và các quá trình
tiến hành bảo hiểm được chia thành nhiều loại và được tổ chức thành một hệ
thống độc lập của nền kinh tế quốc dân (ở nhiều nước nó còn được gọi là ngành
kinh tế bảo hiểm). Một trong những loại hình đó là tái bảo hiểm.
Đối với các nước có nền kinh tế tập trung như Việt Nam, tái bảo hiểm là
cho các công ty tái bảo hiểm khác, ví dụ như 50% cho công ty tái bảo hiểm B
và 40% cho công ty tái bảo hiểm C.
Thông qua ví dụ trên chúng ta thấy được vai trò và nhiệm vụ của tái bảo
hiểm. Ở đây cần phải phân biệt sự khác nhau của tái bảo hiểm và đồng bảo
hiểm. Mặc dù có điểm giống nhau giữa tái bảo hiểm và đồng bảo hiểm là cùng
có nhiều công ty bảo hiểm tham gia cho cùng một đơn vị rủi ro, nhưng giữa
chúng có nhiều điểm khác nhau. Đó là:
a. Ký hợp đồng:
- Trong tái bảo hiểm : công ty bảo hiểm gốc đứng ra ký hợp đồng bảo hiểm với
người tham gia và sau đó phân chia trách nhiệm cho các công ty tái bảo hiểm
theo sự thỏa thuận giữa họ và các công ty tái bảo hiểm.
- Trong đồng bảo hiểm:
Việc ký hợp đồng do nhiều công ty bảo hiểm tiến hành, mỗi một công ty tham
gia đồng bảo hiểm đều phải ký tên vào giấy chứng nhận bảo hiểm.
b. Trả tiền bồi thường :
- Trong tái bảo hiểm : khi tổn thất xảy ra, trước hết công ty bảo hiểm gốc đứng
ra bồi thường cho người được bảo hiểm, sau đó mới đòi lại công ty tái bảo
hiểm. Ở đây người được bảo hiểm không có quan hệ trực tiếp với công ty tái
bảo hiểm.
- Trong đồng bảo hiểm: khi tổn thất xảy ra các công ty tham gia đồng bảo hiểm
có trách nhiệm trả tiền bồi thường trực tiếp cho người bảo hiểm theo tỷ lệ mà
mình tham gia.
Tùy theo góc độ quan sát của công ty bảo hiểm gốc hay công ty tái bảo
hiểm mà người ta phân chia tái bảo hiểm ra thành 2 phần riêng biệt. Đó là
chuyển tái bảo hiểm và nhận tái bảo hiểm:
- Chuyển tái bảo hiểm (tái bảo hiểm đi): có nghĩa là một công ty bảo hiểm gốc
phân tán rủi ro cho các công ty tái bảo hiểm. Trong trường hợp này, công ty bảo
hiểm gốc phải chuyển phí cho các công ty tái bảo hiểm và nhận được từ họ yếu
tố đảm bảo và ổn định kinh doanh của mình.
- Nhận tái bảo hiểm (tái bảo hiểm nhận: là một công ty tái bảo hiểm nhận một
hiểm đi. Ở đây công ty bảo hiểm xuất khẩu dịch vụ bảo hiểm nhằm ổn định
kinh doanh cho các công ty bảo hiểm khác. Vì vậy chức năng của tái bảo hiểm
nhận giống với chức năng của bảo hiểm đối ngoại là kinh doanh dịch vụ bảo
hiểm nhằm tăng thu ngoại tệ.
Tổng kết lại ta có thể rút ra kết luận: Đối với nhà nước thì tái bảo hiểm có 3
chức năng chủ yếu:
- Đảm bảo tính ổn định và sự chắc chắn cho quá trình KD và SX của các đơn vị
kinh tế.
- Đảm bảo tính ổn định của ngân sách ngoại tệ nhà nước
- Tăng thu nhập quốc dân
Thông qua nhiệm vụ và chức năng trên ta thấy bảo hiểm có một ý nghĩa
quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của một đất nước. Đảm bảo kinh
doanh cho công ty bảo hiểm có nghĩa là đảm bảo được sự kinh doanh và sản
xuất của các đơn vị kinh tế, từ đó tạo điều kiện tốt cho họ phát triển kinh doanh.
Đảm bảo tính ổn định của ngân sách ngoại tệ nhà nước có nghĩa là đảm bảo
được kế hoạch chi tiêu ngoại tệ nhằm phát triển sản xuất một cách đồng bộ.
Tăng thêm thu nhập quốc dân tức là mở rộng được kinh doanh và sản xuất,
nâng cao đời sống của nhân dân.
3- Các khái niệm liên quan
Tái bảo hiểm: Là 1 sự bảo hiểm mới, được thực hiện bởi 1 hoạt động bảo
hiểm mới cho cùng 1 rủi ro đã được bảo hiểm trước nhằm bồi thường cho người
bảo hiểm đối với những cam kết trước đó của họ và cả 2 hợp đồng này đều
đang diễn ra cùng 1 thời gian. Hay nói 1 cách khác tái bảo hiểm là sự phân tán
rủi ro mà người bảo hiểm phải gánh chịu cho những người bảo hiểm khác.
Nhượng tái bảo hiểm là tái bảo hiểm đi , có nghĩa là công ty bảo hiểm
gốc phân tán rủi ro cho các công ty tái bảo hiểm và nhận được yếu tố đảm bảo
ổn định kinh doanh của mình.
Nhận tái bảo hiểm có nghĩa là 1 công ty tái bảo hiểm nhận 1 phần rủi ro
đã được bảo hiểm từ 1 công ty gốc. công ty nhận tái bảo hiểm sẽ nhận được
Vinare
- NĐ số 74/Cp ngày 14/6/1997 của chính phủ sửa đổi bổ sung 1 số điều quy
định tại NĐ số 100/CP liên quan đến tái bảo hiểm bắt buộc
Ở NĐ này quy định về tái bảo hiểm bắt buộc được bổ sung thêm rằng việc
tái bảo hiểm bắt buộc phải dựa trên cơ sở đảm bảo lợi ích bình đẳng của 2 bên
và khả năng của Vinare , theo hướng dẫn cụ thể của bộ tài chính. Bổ sung này
đã giải quyết được thực tế là khả năng nhân tái bảo hiểm của Vinare có hạn,
không phải trường hợp nào cũng có thể nhận tái bảo hiểm 20%
Do vậy tỉ lệ tái bảo hiểm bắt buộc tuỳ từng trường hợp có thể thay đổi theo
thoả thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và Vinare
- TT 78/1998/TT-BTC (9/6/1998) quy định về hoạt động kinh doanh tái bảo
hiểm :
+ Lần đầu tiên tại thông tư này các khái niệm về doanh nghiệp bảo hiểm hoạt
động kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, nhận tái bảo hiểm theo chỉ
định được làm rõ
+Quy định về tái bảo hiểm ngoài phần tái bảo hiểm bắt buộc: trong thông tư
có bổ sung thêm quy định về trách nhiệm chứng minh của Vinare đối với việc
ưu tiên tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước trong trường
hợp cần thiết
+Riêng đối với tái bảo hiểm ngoài phần bắt buộc thì thông tư khuyến khích
các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước tái bảo hiểm cho nhau, cơ sở khả năng
tài chính của các doanh nghiệp đó và lợi ích của 2 bên trước khi tái bảo hiểm ra
nước ngoài
+Quy định tỉ lệ tái bảo hiểm chỉ định tối đa cho các tổ chức nước ngoài là
50% giá trị hoạt động bảo hiểm gốc (trừ trường hợp Vinare từ chối nhận tái bảo
hiểm và 40% giá trị hợp đồng bảo hiểm gốc cho 1 tổ chức nước ngoài)
Đây là 1 quy định phù hợp tránh hiện tượng các tổ chức nước ngoài ép
buộc các công ty bảo hiểm trong nước nhượng tái tái bảo hiểm chỉ định với 1 tỉ
lệ quá cao, gây thiệt hại cho kinh tế cho các doanh nghiệp bảo hiểm gốc
Tuy nhiên bộ tài chính đã không có chế tài cụ thể và không kiểm soát chặt
- Luật sửa đổi Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 được Quốc hội
thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010:
Điều 9 Luật KDBH bỏ cơ chế tái bảo hiểm bắt buộc, theo đó DNBH có thể
nhượng và nhận tái bảo hiểm cho các DNBH khác, kể cả DNBH, tổ chức nhận
tái bảo hiểm ở nước ngoài. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn tài chính cho thị
trường bảo hiểm Việt Nam khi không còn quy định tái bảo hiểm bắt buộc, cần
thiết bổ sung quy định trường hợp tái bảo hiểm ra nước ngoài, DNBH phải tái
bảo hiểm cho các DNBH, tổ chức bảo hiểm nước ngoài đạt hệ số tín nhiệm theo
hướng dẫn của Bộ Tài chính.
III- Thực trạng hoạt động nhượng tái bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1- Thực trạng hoạt động nhượng tái bảo hiểm của các DNBH phi nhân thọ
Thị trường bảo hiểm Việt Nam được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng, đặc
biệt hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra cho các DNBH Việt Nam nhiều cơ hội và
điều kiện kinh doanh an toàn và hiệu quả. Gần đây thị trường bảo hiểm phát triển
khá tốt, đạt mức tăng trưởng vào khoảng 23- 25 % một năm. So với năm 1965, chỉ
có doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất 100% vốn nhà nước là Bảo Việt. Đến nay hiện
trên thị trường bảo hiểm có 57 doanh nghiệp, trong đó gồm 29 doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ, 14 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 12 doanh nghiệp môi giới
bảo hiểm và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Bên cạnh sự phát triển của thị trường bảo hiểm, thị trường tái bảo hiểm là
nhân tố quan trọng thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển ở hiện tại và
trong tương lai. Với hệ thống các văn bản quy định pháp luật về kinh doanh bảo
hiểm ngày càng được hoàn thiện và cùng với đó là hội nhập nền kinh tế thế giới,…
thị trường tái bảo hiểm Việt Nam diễn ra sôi động, đáp ứng nhu cầu phân tán, dàn
trải rủi ro, đảm bảo an toàn tài chính cho các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị
trường.
Từ khi cơ chế tái bảo hiểm bắt buộc được bãi bỏ, theo đó DNBH có thể
nhượng và nhận tái bảo hiểm cho các DNBH khác, kể cả doanh nghiệp bảo hiểm
nước ngoài,tổ chức nhận tái bảo hiểm ở nước ngoài. Tuy nhiên, để bảo đảm an toàn
thu được tăng 125%, nhượng tái bảo hiểm trong nước tăng 121%, nhượng
tái bảo hiểm ra nước ngoài tăng 125,4%.
Dễ dàng nhận thấy rằng các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
nhượng tái bảo hiểm cho các công ty, tổ chức bảo hiểm, tái bảo hiểm nước
ngoài nhiều hơn nhượng tái cho thị trường trong nước. Sở dĩ như vậy, bởi vì:
Mặc dù khi nhượng tái bảo hiểm trong nước, các DNBH có những thuận lợi
như cùng chung vị trí địa lí, văn hóa, ngôn ngữ và có quan hệ gần gũi, hiểu
biết lẫn nhau nên tạo điều kiện cho tái bảo hiểm diễn ra nhanh chóng, dễ
dàng, chi phí thấp hơn; việc thanh toán TBH cũng rất thuận tiện và nhanh
chóng. Nhưng thị trường tái bảo hiểm trong nước có rất nhiều hạn chế so với
các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm nước ngoài như:
+ Các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm trong nước hạn chế về năng
lực khả năng tài chính => Khả năng nhận tái bảo hiểm thấp
+ Chuyên môn nghiệp vụ tái bảo hiểm còn yếu kém, ít kinh nghiệm
+ Tính đến thời điểm này, sau hàng chục năm phát triển ngành tái bảo
hiểm mới có 2 công ty tái hoạt động với tư cách pháp nhân độc lập là Vinare và
PVI Re. Các DN bảo hiểm khác đều có bộ phận tái bảo hiểm với tư cách là một
hoạt động kinh doanh phụ thêm bên cạnh mảng kinh doanh cốt lõi với mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận cho công ty.
Do đó, phần lớn phí nhượng tái bảo hiểm của Việt Nam chảy ra nước ngoài.
Có thể nhận thấy con số nhượng tái bảo hiểm trong nước tăng theo thời gian
nhưng có một thực trạng cần xem xét đó là dòng phí nhượng tái bảo hiểm
trong nước hàm chứa tỉ lệ rủi ro cao hơn so với dòng phí nhượng tái bảo
hiểm ra nước ngoài. Nguyên nhân của tình trạng này là:
+ Khi nhận tái bảo hiểm các hợp đồng bảo hiểm của Việt Nam, các công ty
bảo hiểm nước ngoài tuân theo quy trình đánh giá rủi ro nghiêm ngặt mà trong đó
các dự án nếu muốn được bảo hiểm sẽ phải đạt những tiêu chuẩn nhất định. Do đó,
độ rủi ro của các hợp đồng tái bảo hiểm mà các công ty này nhận tái có thể được
định trước và đảm bảo không gây thua lỗ cho công ty bảo hiểm.
Trong khi đó, các công ty trong nước thường ít tuân theo những quy trình
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam hiện nay
Với những vai trò to lớn của hoạt động tái bảo hiểm đối với người bảo hiểm,
người được bảo hiểm và xã hội thì việc nâng cao hiệu quả của thị trường tái bảo
hiểm Việt Nam nói chung và hoạt động nhượng tái bảo hiểm của các doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam nói riêng là rất quan trọng. Từ những đặc điểm đã
phân tích trên cơ sở thực trạng hoạt động nhượng tái, chúng em xin đưa ra một số ý
kiến giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhượng tái bảo hiểm của các
DNBH phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn hiện nay như sau:
2.1- Về phía Nhà nước
- Nhà nước cần thực hiện tốt công tác quản lý, tạo được môi trường pháp lý thuận
lợi, đồng thời có những cơ chế, chính sách ưu đãi để ngành bảo hiểm có được
những bước phát triển ổn định và đúng hướng; tạo lập và duy trì một môi trường
kinh doanh an toàn, ổn định, bình đẳng và thuận lợi, trước hết ở việc xây dựng một
khuôn khổ pháp lý phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường, đồng thời đổi
mới phương thức và nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, tiến dần tới thực hiện các nguyên tắc và chuẩn mực quản lý bảo
hiểm quốc tế.
- Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước phải
mở cửa thị trường theo các hiệp định và cam kết quốc tế, ngành bảo hiểm đang
đứng trước thách thức và vận hội mới, đòi hỏi công tác quản lý Nhà nước phải có
những cải cách phù hợp. Do vậy, việc đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao trình
độ của đội ngũ quản lý Nhà nước về lĩnh vực bảo hiểm là rất cấp thiết.
- Đồng thời, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động kinh
doanh bảo hiểm để thị trường phát triển lành mạnh, an toàn, phù hợp với yêu cầu
hội nhập; bảo đảm tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh
doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
2.2- Về phía các doanh nghiệp bảo hiểm
- Đối với một DN bảo hiểm, năng lực về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, kinh
doanh… là những yếu tố rất quan trọng tạo nên sức mạnh. Nếu không tự hoàn
thiện và nâng cao năng lực, các DN bảo hiểm trong nước sẽ khó có thể đứng vững