Phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế QT - Pdf 94

1
MỞ ĐẦU

1/ Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu hàng đầu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2001 – 2010 ở Việt Nam là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn đònh. Muốn
vậy, tới năm 2010 Việt Nam cần huy động khoảng 150-160 tỷ USD vốn đầu tư
toàn xã hội. Đây thực sự là bài toán nan giải vì trong suốt giai đoạn 1990-2000,
Việt Nam chỉ huy động được gần 65 tỷ USD. Cho nên trong những năm còn lại
Việt Nam cần huy động tối đa các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển kinh
tế với chủ trương “Vốn trong nước là quyết đònh, vốn nước ngoài là quan trọng”.
Mặt khác, khi kinh tế tăng trưởng, đời sống người dân được nâng lên thì
nhu cầu được bảo vệ trước những rủi ro của các chủ thể, cá nhân trong nền kinh
tế cũng tăng. Một khi rủi ro đã xảy ra yêu cầu tức thì phải có một khoản tài chính
bù đắp để giúp các chủ thể, cá nhân nhanh chóng ổn đònh sản xuất, ổn đònh đời
sống từ đó mới tạo động lực cho nền kinh tế phát triển ổn đònh và tăng trưởng hơn
nữa.
Để vừa đảm bảo nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế vừa giữ cho nền kinh
tế tăng trưởng ổn đònh, Chính phủ cần thực hiện nhiều chính sách đồng bộ. Một
trong những chính sách đó là quan tâm và tạo điều kiện để phát triển thò trường
bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam nói riêng.
Hơn thế nữa, trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế Việt Nam
đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Ngành bảo hiểm Việt Nam
cũng đang trong quá trình hội nhập này. Với các Hiệp đònh thương mại song
phương, đa phương và sắp tới khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới WTO đòi hỏi Chính phủ từng bước xóa bỏ dần tiến đến xóa bỏ hoàn toàn hạn
2
chế gia nhập thò trường bảo hiểm của các công ty bảo hiểm nước ngoài. Điều này
sẽ làm cho ngành bảo hiểm có cơ hội thu hút nhiều vốn cho phát triển đồng thời
đa dạng hóa các sản phẩm với chất lượng ngày càng cao, giá thành lại hạ, cũng
như tranh thủ được kinh nghiệm, công nghệ kinh doanh và kỹ năng quản lý tiến

nền kinh tế thế giới, để từ đó luận án đưa ra các giải pháp tối ưu trong việc phát
triển an toàn, bền vững thò trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong giai đoạn
hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong đề tài là phương
pháp duy vật biện chứng và lòch sử. Trong quá trình nghiên cứu có kết hợp giữa
lý luận và thực tiễn thông qua điều tra, khảo sát. Ngoài ra, luận án còn sử dụng
phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,
phương pháp đồ thò… để đánh giá bản chất của đối tượng nghiên cứu. 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
NHÂN THỌ TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1.Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ

1.1.1. Lòch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới
Bảo hiểm nhân thọ (BHNT) là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người
tham gia bảo hiểm, mà trong đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc
người thụ hưởng) một số tiền nhất đònh khi có những sự kiện đã đònh trước xảy ra
(người được bảo hiểm bò chết hoặc còn sống đến một thời điểm nhất đònh), còn
người tham gia phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. Nói cách khác, bảo
hiểm nhân thọ là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên quan đến sinh mạng, cuộc
sống và tuổi thọ của con người.
Hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới ra đời năm 1583, do công dân
London là ông William Gybbon tham gia. Phí bảo hiểm ông phải đóng lúc đó là
32 bảng Anh, khi ông chết cũng trong năm đó, người thừa kế của ông được hưởng
400 bảng Anh. Tuy nhiên, BHNT sau đó bò cấm do nó không có đầy đủ cơ sở kỹ
thuật. Chỉ đến thế kỷ 17, khi Pascal, Ferma và sau đó là Bernoulli chứng minh

phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm
trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm
như đã thỏa thuận trước, khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra. Nội dung tiết kiệm
khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ: người bảo hiểm đảm
6
bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số tiền rất lớn
ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ, nếu người được bảo hiểm
bò các rủi ro về sức khỏe hay tính mạng.
- BHNT đáp ứng nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm
HĐBH tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một STBH
khi họ bò tử vong. Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố
như trang trải nợ nần, giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ…
- BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện nhất đònh
Ở các nước phát triển, BHNT đã ra đời và phát triển hàng trăm năm nay.
Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được
BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó. Để lý giải vấn đề
này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát
triển là điều kiện kinh tế – xã hội phải phát triển. Ngoài ra, môi trường pháp lý
cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT. Ở một số nước
phát triển như Anh, Pháp, Đức… Chính phủ thường có chính sách thuế ưu đãi mục
đích là nhằm tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hưu
trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ nhà nước. Cũng vì những mục đích
trên mà một số nước Châu Á như Ấn Độ, Hồng Kông, Singapore… không đánh
thuế đối với các nghiệp vụ BHNT. Sự ưu đãi này là đòn bẩy tích cực để BHNT
phát triển.
1.1.3. Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cơ bản
Căn cứ vào biến cố còn sống hay tử vong trong thời gian tham gia bảo
hiểm mà BHNT được chia ra làm ba loại sản phẩm chính sau: BHNT trong
trường hợp tử vong, BHNT trong trường hợp sống, BHNT hỗn hợp.
7

Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trường hợp
người được bảo hiểm bò tử vong hay còn sống. Yếu tố tiết kiệm và bảo vệ đan
xen nhau vì thế nó được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới.
Khi triển khai BHNT hỗn hợp, các công ty bảo hiểm có thể đa dạng hóa
loại sản phẩm này bằng cách đưa ra hợp đồng có thời hạn khác nhau, hợp đồng
chia lãi, không chia lãi và các loại hợp đồng khác tùy theo tình hình kinh tế.
1.1.4. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm nhân thọ
1.1.4.1. Nguyên tắc số đông
Nguyên tắc số đông (Quy luật số đông) là nguyên tắc hoạt động cơ bản
nhất của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng.
Theo quy luật này, số lần thực hiện phép thử càng lớn, kết quả thu được từ
phép thử sẽ tiến dần về xác suất lý thuyết xảy ra biến cố đang xem xét. Nhắc lại
trò chơi con xúc xắc:
Người ta tung một con xúc xắc 20 lần, 100 lần, 1000 lần và cuối cùng là
10.000 lần. Mỗi lần tung ra, người ta chú ý đến việc xuất hiện một con số nhất
đònh, chẳng hạn số 6. Các kết quả được ghi nhận như sau:

Số lần tung ra Số lần xuất hiện Tần suất xuất hiện
20
100
1000
10.000
2
12
175
1653
0,100
0,120
0,175
0,165

TÁI BẢO HIỂM 30%
CÔNG TY
TÁI BẢO HIỂM 20%
CÔNG TY
BẢO HIỂM GỐC
NGƯỜI ĐƯC BẢO
HIỂM

Hình 1.1. Mối quan hệ trong tái bảo hiểm
Tái bảo hiểm là hoạt động không thể thiếu trong quá trình kinh doanh và
tồn tại của một công ty bảo hiểm vì các lý do sau:
- Tăng cường khả năng nhận bảo hiểm: Trong quá trình kinh doanh, công ty bảo
hiểm có thể nhận được những yêu cầu cấp đơn bảo hiểm với số tiền bảo hiểm
vượt quá khả năng của mình trong việc đền bù khi rủi ro xảy ra. Để có thể đảm
bảo cho những rủi ro lớn và cung cấp được mọi dòch vụ mà khách hàng yêu cầu,
cần thiết phải tiến hành tái bảo hiểm cho những phần vượt quá mức giữ lại cho
một hoặc nhiều công ty bảo hiểm hay tái bảo hiểm khác trên thò trường.
- Góp phần ổn đònh tỷ lệ bồi thường: công ty bảo hiểm gốc có thể tránh sự biến
động trong các khoản chi bồi thường trong một năm và qua nhiều năm bằng việc
tái bảo hiểm.
- Lợi ích “vó mô”: một lợi ích cuối cùng của lý do tái bảo hiểm là chi phí rủi ro
được dàn trãi trong toàn thò trường bảo hiểm thế giới. Rất nhiều các công ty tái
bảo hiểm hàng đầu ở các nước như: Đức, Thụy Sỹ, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Anh
bằng việc tái bảo hiểm cho các công ty này và một số công ty khác, rủi ro không
chỉ tác động vào một nền kinh tế mà rủi ro của một chủ thể trong một quốc gia đã
được số đông những người tham gia bảo hiểm trên toàn thế giới cùng gánh chòu.
1.1.4.2. Nguyên tắc khoán
11
Trong đa số các nghiệp vụ về bảo hiểm con người, số tiền bảo hiểm, các
khoản trợ cấp được ấn đònh trước trên hợp đồng. Những khoản tiền này được xác

hiểm mà mỗi khách hàng tham gia bảo hiểm phải trả, hay còn gọi là đònh phí bảo
hiểm. Nếu công ty bảo hiểm đưa ra mức phí phù hợp với khả năng thanh toán của
các đối tượng tham gia, khi đó sản phẩm được thiết kế chắc chắn sẽ được thò
trường chấp nhận. Xuất phát từ tầm quan trọng của khâu đònh phí trong quá trình
thiết kế sản phẩm, nội dung của phần này sẽ tập trung đi vào xem xét cách thức
đònh phí sản phẩm của các công ty BHNT.
1.2.1.1. Khái niệm
Đònh phí sản phẩm BHNT là nhằm xác đònh giá bán của sản phẩm BHNT.
Theo logic thông thường thì giá bán sản phẩm sẽ được xác đònh sau khi nhà sản
xuất biết được giá thành sản phẩm của mình. Nhưng trong bảo hiểm, đặc biệt là
BHNT thì phí sản phẩm BHNT lại phải được đưa ra trước trên cơ sở những dự
báo về xác suất tử vong, lãi suất đầu tư, lạm phát, tình hình tai nạn… Từ đó công
ty bảo hiểm nhân thọ có thể gặp phải rủi ro đó là phí sản phẩm đã xác đònh và thu
không đủ chi trả cho bên được bảo hiểm nếu có những biến động lớn xảy ra trong
nền kinh tế làm số liệu dự kiến sai lệch quá nhiều so với số liệu thực tế.
1.2.1.2. Cơ cấu phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Phí bảo hiểm thực tế người tham gia bảo hiểm nộp cho công ty bảo hiểm
gọi là phí toàn phần, phí toàn phần trong BHNT được tính khái quát như sau:
Phí toàn phần = Phí thuần + Phí hoạt động
• Phí hoạt động: loại phí này gồm các khoản:
13
- Chi phí cho các hợp đồng mới: khoản chi này bao gồm các chi phí như hoa hồng
đại lý, chi phí kiểm tra y tế… các chi phí này phát sinh khi phát hành HĐBH.
- Chi phí thu phí bảo hiểm: gồm các chi phí trả cho người đi thu phí và các khoản
khác phát sinh khi thu phí.
- Chi phí quản lý: khoản chi phí này phát sinh trong suốt thời hạn bảo hiểm để
quản lý hợp đồng, như chi phí ấn chỉ, quản lý hợp đồng bằng máy vi tính, chi phí
theo dõi thường xuyên và các chi phí gián tiếp khác…
• Phí thuần: là số phí được dùng để trả tiền cho các hợp đồng khi xảy ra các
biến cố còn sống hay tử vong, khoản phí này được tính toán dựa vào bảng tỷ lệ tử

đoán được thời hạn sống của từng người, nhưng xét trên một tổng thể số đông thì
xác suất số người chết ở một độ tuổi nào đó xuất hiện với một số gần như không
đổi. Một bảng tử vong thực tế được trình bày chi tiết trong phụ lục 1.
Các bảng tử vong thường có những đặc điểm chung là:
+ Tỷ lệ tử vong hầu như tăng dần theo độ tuổi
+ Tỷ lệ tử vong của nữ thường thấp hơn của nam giới
+ Tỷ lệ tử vong của những bảng lập sau thường thấp hơn những bảng lập
trước, vì xu hướng chung là tuổi thọ của con người ngày càng cao, do mức sống
và các điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng cao và tốt hơn.
 Lãi suất trong đònh phí sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Khi đònh phí sản phẩm, các công ty BHNT đã sử dụng một mức lãi suất và
lãi suất này được tính toán trên cơ sở sẽ đầu tư với lãi suất nhỏ và nhỏ hơn rất
nhiều so với lãi suất thực tế của các khoản đầu tư để đảm bảo an toàn, lãi suất
dùng đònh phí sản phẩm BHNT được gọi là lãi suất kỹ thuật.
15
Lãi suất kỹ thuật được xác đònh dựa trên cơ sở lãi suất bình quân các
khoản cho vay của nhà nước, hoặc lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Không thể đònh phí với lãi suất quá cao vì công ty bảo hiểm nhân thọ khó có thể
thực hiện được lãi suất này trên thò trường tài chính.
 Giá trò hiện tại, giá trò tương lai và giá trò giải ước
- Giá trò hiện tại là giá trò cần được đầu tư tại thời điểm hiện tại để thu được một
giá trò nào đó tại một thời điểm nhất đònh trong tương lai.
Giá trò
hiện tại
=
giá trò nhận được
trong tương lai
x (1 + lãi suất)
-thời kỳ đầu tư
- Giá trò tương lai (giá trò đáo hạn) là giá trò thu được tại một thời điểm nào đó

hiểm ở những năm đầu không được xem là lợi nhuận của các công ty BHNT mà
khoản chênh lệch dương này phải được tích lũy lại với mục đích bù đắp cho phần
phí bò thiếu hụt ở những năm sau. Quá trình tích lũy phí ở những năm đầu và sử
dụng khoản phí tích lũy để bù đắp phí thiếu hụt ở những năm sau đã hình thành
nên dự phòng nghiệp vụ của các sản phẩm bảo hiểm tử kỳ. Đồ thò 1.1 và 1.2 sau
đây sẽ minh họa cho lập luận này.

Đồ thò 1.1: Phí san bằng và phí mỗi năm của bảo hiểm tử kỳ
17
1.2.2.2. Các loại quỹ dự phòng nghiệp vụ trong các công ty bảo hiểm nhân
thọ
Quỹ dự phòng nghiệp vụ trong các công ty bảo hiểm nhân thọ bao gồm:
- Dự phòng toán học: là khoản chênh lệch giữa giá trò hiện tại của STBH
phải trả và giá trò hiện tại của phí bảo hiểm thu được trong tương lai, được sử
dụng để trả tiền bảo hiểm đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự
kiện bảo hiểm.
- Dự phòng phí chưa được hưởng: áp dụng đối với các hợp đồng BHNT có
thời hạn dưới một năm, được sử dụng để trả tiền bảo hiểm sẽ phát sinh trong thời
gian còn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm trong năm tiếp theo.
DỰ PHÒNG SẢN PHẨM TỬ KỲ
0
2000
4000
6000
8000
10000
12000
14000
16000


và đây cũng chính là số tiền mà công ty bảo hiểm phải chi trả sau 25 năm.
Như vậy, mỗi người được bảo hiểm đều có lời do ảnh hưởng của tuổi thọ con
người vì sẽ nhận được khoản tiền là 1.000 trong khi chỉ phải trả phí 880 nếu họ
còn sống đến tuổi 65.
 Tác động của nhân tố tài chính
Thực tế, công ty bảo hiểm không giữ trong két sắt số phí này trong suốt 25
năm mà họ đưa số tiền này đi đầu tư, tiền lãi từ hoạt động đầu tư cho phép công
ty bảo hiểm giảm phí.
19
Nếu công ty bảo hiểm chắc chắn có thể đầu tư ở lãi suất 3,5%/năm, trong
suốt 25 năm, lúc này công ty bảo hiểm chỉ cần yêu cầu mỗi người được bảo hiểm
ở tuổi 40 nộp:
880
(1 +3,5%)
25
= 372
là đủ. Đây là khoản phí duy nhất hay nói một cách khác khoản phí này được gọi
là giá trò hiện tại của số tiền 1.000 sau 25 năm vào ngày ký hợp đồng.
 Sai biệt giữa các cam kết
Ngay giai đoạn đầu tiên của hợp đồng, sau khi mỗi người đã trả cho công
ty bảo hiểm 372, đã có sự cân bằng các cam kết của hai bên. Thật vậy, những
người được bảo hiểm đã trả một lần tất cả số phí cho công ty bảo hiểm và như
vậy không phải trả gì nữa trong suốt 25 năm. Trái lại, công ty bảo hiểm sẽ trả
1.000 cho mỗi người còn sống sau 25 năm (trung bình có 88 người trong số 100
người còn sống).
Như vậy, ngay khi hợp đồng diễn ra, các cam kết chung về các thanh toán
tương lai của công ty bảo hiểm đối với người được bảo hiểm là cao hơn các cam
kết về trả phí của người được bảo hiểm đối với công ty bảo hiểm. Trong trường
hợp này, các cam kết của người được bảo hiểm thậm chí đã được thực hiện xong,
trong khi đó những cam kết của công ty bảo hiểm tăng lên theo thời gian. Công ty

= 389
21
bảo hiểm. Như vậy, số dư về giá trò các cam kết của công ty bảo hiểm so với các
cam kết của người được bảo hiểm là: 389 - 0 = 389
- Cứ tiếp tục làm như vậy …
- Vào cuối hợp đồng, sau 25 năm, cam kết đối với mỗi người còn sống sẽ là
1.000, vì vậy số dư của các cam kết là : 1.000 - 0 = 1.000
Trường hợp người được bảo hiểm yêu cầu trả phí làm nhiều lần (phí san
bằng): người được bảo hiểm phải trả hàng năm cho công ty bảo hiểm số phí là:
22,6. Dự phòng toán học trong trường hợp này được biểu diễn qua đồ thò 1.4 sau:

Đồ thò 1.4:
Sự tiến triển quỹ DPTH hợp đồng sinh kỳ phí san bằng
Trong trường hợp này:
- Cam kết của công ty bảo hiểm tăng lên theo đường biểu diễn A
- Cam kết của người được bảo hiểm lại giảm dần theo đường biểu diễn B.
- Quỹ dự phòng toán học là chênh lệch giữa A và B.
1.2.2.4. Phương pháp lập quỹ dự phòng toán học
Có hai phương pháp được sử dụng để xác đònh quỹ dự phòng toán học, đó
là phương pháp quá khứ và phương pháp tương lai.
 Phương pháp quá khứ: phương pháp này căn cứ vào các khoản đã thu
và đã chi của công ty bảo hiểm nhân thọ trong quá khứ tính đến thời điểm lập dự
22
phòng (cuối mỗi năm hợp đồng). Điều này cũng có nghóa cần phải tìm giá trò
tương lai của các khoản đã thu và đã chi vào thời điểm lập dự phòng. Ta thấy
trong quá khứ khoản phí đã thu lớn hơn khoản tiền bảo hiểm đã trả, vì thế dự
phòng toán học theo phương pháp quá khứ được xác đònh bằng cách lấy số tiền
luỹ tích từ số phí bảo hiểm đã thu trừ đi số tiền luỹ tích của các khoản tiền bảo
hiểm đã trả.


hiểm và tính dự phòng toán học là như nhau.
23
1.2.3. Kênh phân phối trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
1.2.3.1. Sự cần thiết của các kênh phân phối trong hoạt động kinh doanh
BHNT
Hệ thống phân phối hay còn gọi là kênh phân phối là một mạng lưới kết
hợp các tổ chức và cá nhân thực hiện tất cả các hoạt động nhằm đưa sản phẩm
đến người tiêu dùng. Việc lựa chọn kênh phân phối của công ty bảo hiểm có mối
quan hệ tương tác với thò trường mục tiêu và sản phẩm mà công ty chào bán.
Trên thực tế, mỗi kênh phân phối chỉ phù hợp với một số sản phẩm nhất đònh và
thò trường mục tiêu nhất đònh.
Lựa chọn kênh phân phối không phải là một quyết đònh nhất thời. Mục
tiêu của phân phối là đưa sản phẩm theo cách vừa hiệu quả đối với công ty bảo
hiểm vừa thích hợp đối với người tiêu dùng. Nhưng điều được coi là hiệu quả và
thích hợp có thể thay đổi khi các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài thay
đổi. Các công ty bảo hiểm thường đònh kỳ điều chỉnh kênh phân phối để duy trì
tính cạnh tranh. Trong nhiều trường hợp, việc điều chỉnh kênh phân phối không
có nghóa là thay đổi toàn bộ hệ thống mà thường bổ sung thêm đặc tính từ các
kênh phân phối khác.
Các công ty bảo hiểm sau khi xác đònh được thò trường mục tiêu thì bộ
phận phát triển sản phẩm sẽ thiết kế ra các sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng trong thò trường đó. Tuy nhiên, việc thiết kế sản phẩm cao cấp sẽ vô
nghóa nếu không có phương thức phân phối tới thò trường này một cách có hiệu
quả.
1.2.3.2. Các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Để đưa sản phẩm BHNT đến người tiêu dùng, các công ty BHNT có thể sử
dụng một hoặc cả hai kênh phân phối sau đây:
24
 Kênh phân phối thông qua trung gian (kênh phân phối gián tiếp): là một hệ
thống bán bảo hiểm trong đó những người bán hưởng lương hoặc hưởng hoa hồng

Bảng 1.1. Tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm từ các kênh phân phối ở Châu Âu
Tỷ lệ doanh thu phí năm 2000
Kênh phân phối
Anh Pháp Đức Ý (2002)
Tâây Ban Nha
Truyền thống 86% 34% 72% 30% 21%
Ngân hàng 12% 60% 23% 70% 72%
Trực tiếp 2% 6% 5% 0% 7%
(Nguồn:
Nghiên cứu kinh tế, 8/2003)
[13]

Bảng 1.2. Tỷ lệ doanh thu phí bảo hiểm từ các kênh phân phối ở Châu Á
Quốc gia Năm
Đội quân bán hàng &
đđại lý chuyên nghiệp
Môi giới
Qua ngân
hàng
Các
kênh
khác
China 2001 Chủ yếu Không đáng kể > 20% -
Hong Kong 2000 Chủ yếu Không đáng kể 15.1% -
India 2000 Chủ yếu Không đáng kể < 5% -
Japan 2001 Chủ yếu Không đáng kể < 1% -
Malaysia 1998 86% 0.6% 6% 4%
Philippine 1998 75% 1.8%
8
3%


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status