TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài
:
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT
NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
Lớp : QTKD THƯƠNG MẠI 47 A
Khóa : 47
Hệ : CHÍNH QUY
Hà Nội: 05- 2009
2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
***
BẢN CAM ĐOAN
Kính gửi: Trường Đại học Kinh tế quốc dân;
Khoa Thương mại & Kinh tế quốc tế
Tên em là:Nguyễn Thị Hồng Liên
Lớp: Thương mại 47 A
Khoa: Thương mại và Kinh tế quốc tế
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp (05/01/2009 đến 07/05/2009) tại Vụ
Xuất nhập khẩu - Bộ Công thương em đã nghiên cứu và thực hiện chuyên đề:
“Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế”
Em xin cam đoan những nội dung được trình bày trong chuyên đề thực tập
tốt nghiệp của em là hoàn toàn không có sự sao chép từ tài liệu chuyên môn,
trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới, vì vậy các biến động tài chính
của thế giới ít nhiều sẽ tác động đến kinh tế Việt Nam. Gần đây nhất là cuộc
khủng hoảng tài chính Mỹ, tuy Việt Nam không bị tác động trực tiếp, song do
nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn, chiếm tới 30% tổng sản lượng, chu chuyển
vốn thị trường thế giới và trong bối cảnh hội nhập thì mọi quốc gia ít nhiều
đều bị ảnh hưởng, đặc biệt là nền kinh tế tăng trưởng quá nóng như Việt Nam.
Việt Nam là nền kinh tế rất mở với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt hơn
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
3
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
4
160% GDP. Xuất khẩu chiếm tới 70-80 % GDP. Khủng hoảng tài chính Mỹ,
chính sách thắt chặt tiền tệ, biến động tỷ giá trở thành gánh nặng ảnh hưởng
tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu của Việt Nam không tránh
khỏi bị giảm sút do sự eo hẹp của thị trường tài chính (do khủng hoảng) dẫn
đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của
Việt Nam giảm. Do đó vấn đề phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa đang
là một yêu cầu có tính cấp bách đối với các doanh nghiệp. Vì vậy em chọn đề
tài : “ Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” nhằm đưa ra những giải pháp phát triển thị
trường xuất khẩu trong tình hình hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: - Thời gian : giai đoạn 2001-2008
- Đối tượng : Thị trường xuất khẩu hàng hóa chủ lực
của Việt Nam
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường xuất khẩu hàng
hóa trong nền kinh tế thị trường.
Chương II: Phân tích thực trạng thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt
Nam trong thời gian qua.
Chương III: Giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của
phú. Cho nên, người tiêu thụ được quyền tự do lựa chọn tối đa, họ không bị
ép buộc mua bất cứ hàng hóa dịch vụ nào ngoại trừ những thứ phải cung ứng
cho lợi ích xã hội. Họ quyết định ai sản xuất, sản xuất cái gì thông qua lá phiếu đồng
tiền .
Hai là, trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động mua bán đều theo giá
cả thị trường. Sự vận động của giá cả thị trường là do cung cầu hàng hóa quyết
định.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
5
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
6
Ba là, tiền tệ hóa các mối quan hệ kinh tế. Điều này thể hiện các doanh
nghiệp lấy chỉ tiêu hiệu quả để lựa chọn đối tác, lựa chọn bạn hàng.
Bốn là, trong nền kinh tế thị trường, sản xuất và bán hàng hóa theo nhu
cầu thị trường. Do đó, nghiên cứu thị trường là công việc quan trọng đầu tiên
và thường xuyên trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, có như
vậy hàng hóa mới bắt nhịp được nhu cầu của con người cũng ngày càng đa
dạng, phong phú và luôn biến đổi.
Năm là kinh tế thị trường là nền kinh tế mở. Nền kinh tế mở là một nền
kinh tế có giao dịch với các nền kinh tế khác. Nền kinh tế này trái với một nền
kinh tế đóng cửa trong đó không có xuất khẩu, không có nhập khẩu, không có
các dòng di chuyển vốn.Trong nền kinh tế thị trường có các hoạt động mua,
bán hàng hóa và dịch vụ trên thị trường sản phẩm thế giới; mua và bán các tài
sản vốn trên thị trường tài chính thế giới.
Sáu là cạnh tranh là môi trường kinh tế thị trường. Cạnh tranh được xác
định là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường với nguyên tắc ai hoàn
thiện hơn, thỏa mãn nhu cầu tốt hơn và hiệu quả hơn người đó sẽ chiến thắng,
sẽ tồn tại và phát triển. Duy trì cạnh tranh bình đẳng và đúng luật là nhiệm vụ
của Chính phủ. Các doanh nghiệp phải xác định cho mình một chiến lược
cạnh tranh, trong đó phản ánh được các yếu tố ảnh hưởng của môi trường
cung về hàng hóa, dịch vụ do các cá nhân, doanh nghiệp là người bán tạo nên,
chính sự tác động qua lại với nhau giữa cung và cầu về hàng hóa tạo nên quy
luật cung cầu chi phối hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.
Thứ ba, thành phần không thể thiếu được tham gia thị trường của DNTM
là các hàng hóa, sản phẩm cụ thể, đối tượng để mua bán trao đổi.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
7
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Thành phần tham gia thị trường của DNTM Các yếu tố cấu thành thị trường của DNTM
Hiện tại
Tiềm năng
Người mua
(Khách hàng
Người bán
Sản phẩm
(hàng hóa)
+ Chất lượng
+ Phương thức thanh toán
+ Dịch vụ…
Doanh nghiệp
Đối thủ cạnh tranh
Hiện có
Mới
Cầu hàng hóa
Cung hàng hóa
Giá cả
Cạnh tranh
8
Một khi trên thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán và nhiều
loại hàng hóa tương tự nhau về chất lượng, giá cả, tất yếu nảy sinh sự cạnh
trường ứng với mức giá nhất định.
1.2.2.3. Giá cả
Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Sự tương tác
giữa người mua với người mua, người bán với người bán, và người bán với
người mua hình thành giá cả thị trường. Giá cả thị trường là một đại lượng
biến động do sự tương tác của cung và cầu trên thị trường của một loại hàng
hóa/dịch vụ, ở địa điểm và thời điểm cụ thể.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
9
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
10
1.2.2.4. Sự cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
nhằm giành giật các nguồn lực hay thị trường tiêu thụ nhằm thu lợi nhuận.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh diễn ra liên tục, không có đích cuối
cùng. Cạnh tranh sẽ bình quân hóa các giá trị cá biệt để hình thành giá cả thị
trường. Vì vậy, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy các DNTM không ngừng
cải tiến hoạt động kinh doanh để tồn tại và phát triển.
Trong hoạt động kinh doanh, khi nghiên cứu thị trường phải nghiên cứu
đầy đủ, toàn diện tất cả các yếu tố cấu thành nên thị trường của doanh nghiệp.
1.2.3. Các quy luật và chức năng của thị trường
1.2.3.1. Các quy luật của thị trường
Xét cả một quá trình và xét trên tổng thể, thị trường vận động không phải
là hỗn loạn, ngẫu nhiên mà vận động có quy luật. Những quy luật chung của
thị trường là:
a. Quy luật giá trị
Đây là quy luật kinh tế của kinh tế hàng hóa. Khi nào còn sản xuất và lưu
thông hàng hóa thì quy luật giá trị còn phát huy tác dụng. Quy luật giá trị yêu
cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị lao động xã hội
cần thiết trung bình để sản xuất và lưu thông hàng hóa và trao đổi ngang giá.
người bán tạo nên sự vận động của thị trường và trật tự của thị trường. Nhà
kinh doanh không thể lẩn tránh cạnh tranh mà phải chấp nhận cạnh tranh, đón
trước cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu.
1.2.3.2. Các chức năng của thị trường
a. Chức năng thừa nhận
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
11
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
12
Hàng hóa có bán được hay không phải thông qua chức năng thừa
nhận của thị trường, của khách hàng của doanh nghiệp. Nếu hàng hóa bán
được, tức là được thị trường thừa nhận. Để được thị trường thừa nhận,
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phải nghiên cứu nhu cầu khách hàng.
Hàng hóa phải phù hợp với nhu cầu của khách hàng về chất lượng, số
lượng, sự đồng bộ quy cách, cỡ loại, bao bì, giá cả, thời gian và địa điểm
thuận tiện cho khách hàng.
b. Chức năng thực hiện
Chức năng này đỏi hỏi hàng hóa và dịch vụ phải được thực hiện giá trị
trao đổi, hoặc bằng tiền, bằng hàng, bằng các chứng từ có giá khác. Hàng hóa
bán được tức là có sự dịch chuyển hàng hóa từ người bán sang người mua.
Chức năng thực hiện giá trị và chức năng thừa nhận của thị trường có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Chức năng thừa nhận phải thông qua thực
hiện để thể hiện trong đời sống thực tế, chức năng thực hiện chỉ diễn ra trên
cơ sở chức năng thực hiện đã trở thành hiện thực.
c. Chức năng điều tiết và kích thích
Qua hành vi trao đổi hàng hóa/dịch vụ trên thị trường, thị trường sẽ
điều tiết và kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển hoặc ngược lại.
Hàng hóa và dịch vụ bán hết nhan sẽ kích thích người bán đẩy mạnh hoạt
động sản xuất, tạo nguồn hàng, thu mua hàng hóa để cung cấp ngày càng
nhiều hơn hàng hóa và dịch vụ cho thị trường. Ngược lại, nếu hàng hóa và
cần thiết, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Vì vậy nó có tác động nhiều
mặt đến sản xuất, đến tiêu dùng xã hội.
Vai trò của thị trường đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở năm điểm sau:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
13
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
14
Một là, bảo đảm điều kiện cho sản xuất phát triển liên tục với quy mô
ngày càng mở rộng và bảo đảm hàng hóa cho người tiêu dùng phù hợp với thị
hiếu, nhu cầu một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi và dịch vụ văn minh.
Hai là, nó thúc đẩy nhu cầu, gợi mở nhu cầu, đưa đến cho người tiêu dùng
sản xuất và tiêu dùng cá nhân những sản phẩm mới. Nó kích thích sản xuất ra
sản phẩm chất lượng cao và gợi mở nhu cầu hướng tới các hàng hóa chất
lượng cao, văn minh và hiện đại.
Ba là, dự trữ các hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội, giảm
bớt dự trữ ở các khâu tiêu dùng, bảo đảm việc điều hòa cung cầu.
Bốn là, phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ tiêu dùng sản xuất và
tiêu dùng cá nhân ngày càng phong phú, đa dạng, văn minh.
Năm là, thị trường hàng hóa dịch vụ ổn định có tác dụng to lớn để ổn
định sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân.
1.2.4.2. Đối với doanh nghiệp thương mại
Thị trường vừa là trung tâm của các hoạt động kinh doanh, vừa là mục
tiêu, vừa là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động của
doanh nghiệp đều hướng vào thị trường. Bắt đầu từ tổ chức bộ máy, đầu tư cơ
sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ đến
các hoạt động Marketing đều nhằm mục đích đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị
trường.
Thị trường hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Căn cứ
vào kết quả điều tra, thu thập thông tin thị trường để quyết định kinh doanh
mặt hàng gì? Cho ai? Bằng phương thức kinh doanh nào?
Hàng tư liệu tiêu dùng là hàng phục vụ cho tiêu dùng cá nhân như lương
thực, thuốc chữa bệnh, quần áo.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 15 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
15
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
16
Thị trường dịch vụ: là thị trường mà đối tượng mua bán của nó là các
dịch vụ. Dịch vụ là những hoạt động có ích của con người tạo ra những “sản
phẩm” dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc
chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn
minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người. Các đặc điểm
của “sản phẩm dịch vụ” đó là: không thể xác định cụ thể bằng các tiêu chuẩn
hoặc các chỉ tiêu chất lượng một cách rõ ràng, “sản phẩm dịch vụ” không thể
dự trữ, chất lượng phụ thuộc vào sự tương tác qua lại giữa người làm dịch vụ
và người được phục vụ, hoạt động dịch vụ đỏi hỏi phải được đáp ứng ở đúng
địa điểm và thời điểm cần thiết.
Thị trường sức lao động: Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì:
“Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được
mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao
động, cũng như mức độ tiền công”. Khái niệm này nhấn mạnh đến các
dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm được trả công. Nói
một cách chi tiết hơn, thị trường lao động là tập hợp những quan hệ kinh
tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và
người sử dụng nó (người thuê lao động) về vấn đề chỗ làm việc cụ thể,
nơi và hàng hóa và dịch vụ sẽ được làm ra. Quá trình sử dụng sức lao
động, lao động sẽ được hình thành trong sản xuất chứ không phải trên thị
trường. Đối với người nắm giữ sức lao động sẽ được tạo ra cơ hội để nhận
chỗ làm việc, nơi mà anh ta có thể làm việc, thể hiện khả năng, và nhận
thụ nhập để tái sản xuất sức lao động của mình. Đối với người thuê lao
động sẽ có cơ hội tăng lợi nhuận kinh tế. Trên thị trường sẽ hình thành
quốc tế là thị trường bao gồm nhiều quốc gia, nhiều khu vực khác nhau. Để
hoạt động trên thị trường này, doanh nghiệp phải hiểu biết tập quán tiêu dùng,
luật pháp và thông lệ quốc tế.
1.2.5.4. Căn cứ vào tính chất sản phẩm khác nhau trên thị trường
Căn cứ vào tính chất sản phẩm khác nhau trên thị trường, thị trường bao
gồm thị trường của các sản phẩm thay thế và thị trường của các sản phẩm bổ
sung. Thị trường của các sản phẩm thay thế là thị trường của những sản
phẩm có giá trị sử dụng tương tự nhau, có thể thay thế nhau. Kinh doanh trên
thị trường này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm được thời gian thay thế, tốc độ
thay thế, giá cả của hàng hóa thay thế để làm chủ mọi diễn biến của thị
trường.Thị trường của các sản phẩm bổ sung là thị trường của những sản
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
18
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
19
phẩm liên quan tới nhau trong tiêu dùng. Kinh doanh trên thị trường này phải
quan tâm đến biến động về giá cả của các sản phẩm có liên quan để điều
chỉnh kịp thời.
1.3. Thị trường xuất khẩu hàng hóa
1.3.1. Các khái niệm
1.3.1.1. Khái niệm hàng hóa xuất khẩu
Theo quy ước của Liên hợp quốc và WTO thì hàng hóa xuất khẩu là
những sản phẩm hàng hóa hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở
sản xuất, gia công và các khu chế xuất với mục đích để tiêu thụ tại thị trường
nước ngoài ( xuất khẩu), đi qua hải quan. Hàng tạm nhập tái xuất cũng được
coi là hàng hóa xuất khẩu. Hàng hóa quá cảnh không thuộc diện của khái
niệm hàng hóa xuất khẩu.
Hàng hóa xuất khẩu là hàng hóa khác biệt so với hàng hóa tiêu dùng ở
trong nước. Những hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng
ở nước nhập khẩu. Chất lượng của hàng hóa phải đáp ứng được các thông số
thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giới hạn ở những thị trường
nước ngoài.
1.3.2. Phân loại thị trường xuất khẩu hàng hóa.
Có nhiều tiêu thức phân loại thị trường xuất khẩu hàng hóa, theo em, có
các tiêu thức sau:
Căn cứ vào vị trí địa lý: Thị trường châu lục (Châu Mỹ, Châu Âu, Châu
Á…); thị trường khu vực (thị trường ASEAN, Bắc Mỹ, Trung Đông, Tây Phi,
Nam Á…); thị trường nước và vùng lãnh thổ (Đài Loan, Hồng Kông, Mỹ )
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 20 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
20
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
21
Căn cứ vào dung lượng và sức mua của thị trường: Thị trường xuất khẩu
có sức mua lớn; thị trường xuất khẩu có sức mua trung bình; thị trường xuất
khẩu có sức mua thấp.
Căn cứ vào kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại giữa nước
xuất khẩu và nước nhập khẩu: Thị trường xuất siêu; thị trường nhập siêu
Căn cứ vào mức độ mở cửa của thị trường, mức bảo hộ, tính chặt chẽ và
khả năng xâm nhập thị trường: thị trường “dễ tính”, thị trường “khó tính”
Căn cứ vào sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp của nước xuất khẩu: Thị trường xuất khẩu có ưu
thế cạnh tranh; Thị trường xuất khẩu không có ưu thế cạnh tranh.
Căn cứ vào loại hình cạnh tranh trên thị trường: Thị trường độc quyền,
thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo.
Một dạng của thị trường cạnh tranh không hoàn hảo đã được nhiều nước
ứng dụng thành công khi tìm kiếm thị trường là thị trường ngách.
Thị trường ngách đóng vai trò rất quan trọng cho các nước đang phát
triển theo chiến lược hướng về xuất khẩu, những nước mà khả năng cạnh
tranh của hàng hóa còn kém so với các hàng hóa hiện đang có mặt trên thị
trường quốc tế. Về khái niệm, thị trường ngách là một khoảng trống hay
lợi ích như trên, mà còn giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh,
tăng nguồn thu ngoại tệ, góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam tới bạn bè
quốc tế. Đặc biệt kinh doanh trên thị trường quốc tế có nhiều biến động khó
dự đoán, việc phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa giúp cho
doanh nghiệp phân tán được rủi ro trong kinh doanh. Doanh nghiệp thâm
nhập thị trường thế giới, tìm kiếm và tạo lập thị trường ổn định, từ đó có điều
kiện thuận lợi để xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển kinh tế đất nước.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 22 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
22
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
23
Trong nhiều trường hợp như nhu cầu nội địa nhỏ bé hoặc cạnh tranh
trong nước quá gay gắt dẫn đến việc kinh doanh trong thị trường nội địa
khó khăn thì việc đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường quốc tế là một hướng
kinh doanh mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp. Phát triển thị
trường xuất khẩu sẽ đem lại cho các doanh nghiệp nâng cao khả năng
khai thác lợi thế so sánh do sản xuất trong nước mang lại, giúp doanh
nghiệp tăng thị phần, tăng doanh số bán, lợi nhuận tạo điều kiện phát
triển trong tương lai.
2.2. Hướng phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa
Việc phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa cớ thể được thực hiện về
khía cạnh mặt hàng, theo chiều rộng và chiều sâu. Khi định hướng cho phát
triển thị trường hàng hóa xuất khẩu, một nước có thể phát triển theo chiều
rộng, chiều sâu, hoặc cùng một lúc phát triển cả hai hướng này.
Phát triển về mặt hàng có thể thực hiện về lượng và chất: Thứ
nhất, việc đưa ra ngày càng nhiều sản phẩm dựa trên nhu cầu đa dạng,
mong muốn thỏa mãn và khả năng thanh toán của con người trong một xã
hội phát triển. Sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ đã cho phép
các doanh nghiệp ứng dụng vào sản xuất những sản phẩm đa dạng để đáp
ứng nhu cầu của con người. Đây là việc phát triển mặt hàng thông qua
Thị trường quốc tế chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố khác
nhau, thường là đa dạng và phong phú hơn nhiều so với thị trường nội địa.
Việc định dạng các nhân tố này cho phép doanh nghiệp xác định rõ những
nội dung cần tiến hành nghiên cứu, nó cũng là căn cứ để lựa chọn thị
trường, cách thức thâm nhập thị trường và các chính sách marketing khác.
Việc nghiên cứu thị trường xuất khẩu được tiến hành theo các nhóm nhân
tố ảnh hưởng sau: Nghiên cứu các nhân tố mang tính toàn cầu ( tập quán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 24 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
24
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
25
thương mại, thuế quan, hàng rào phi thuế quan…); nghiên cứu các nhân tố
thuộc môi trường kinh tế ( cấu trúc công nghiệp, phân phối thu nhập, động
thái nền kinh tế); nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường chính trị - luật
pháp; nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường văn hóa; nghiên cứu các
nhân tố thuộc môi trường cạnh tranh; nghiên cứu nhu cầu thị trường
( lượng tăng giảm của tổng mức nhu cầu, sản lượng sản phẩm có thể tiêu
thụ, doanh số…); nghiên cứu cơ cấu thị trường; nghiên cứu hành vi khách
hàng; nghiên cứu cách thức tổ chức thị trường nước ngoài và nghiên cứu
về khả năng lập xí nghiệp ở nước ngoài.
2.3.2. Phân tích, đánh giá khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp
Quyết định xuất khẩu hay không và liệu các công ty đã sẵn sàng bắt
đầu xuất khẩu hay chưa, điều này phụ thuộc vào việc xem xét các yếu sau:
Một là, các mục tiêu ở tầm quản lý: Ban quản trị có mục tiêu hướng
tới xuất khẩu hay không, cam kết xuất khẩu ở mức độ nào? Hai là kinh
nghiệm xuất khẩu: Công ty đã có kinh nghiệm xuất khẩu chưa hay dựa
vào kinh nghiệm kinh doanh trong nước? Ba là quản lý nhân sự: Công ty
đã có nguồn nhân lực để thực hiện xuất khẩu chưa? Bốn là năng lực tài
chính: Công ty có khả năng tăng sản lượng khi nhu cầu đối với hàng xuất
khẩu tăng đột biến không