BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HƯƠNG
TÍCH HỢP TRI THỨC LÝ LUẬN VĂN HỌC
TRONG DẠY HỌC ĐỌC VĂN VÀ LÀM VĂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HƯƠNG
TÍCH HỢP TRI THỨC LÝ LUẬN VĂN HỌC
TRONG DẠY HỌC ĐỌC VĂN VÀ LÀM VĂN
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60. 14. 01. 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. ĐINH TRÍ DŨNG
NGHỆ AN - 2014
4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc
1.2.1. Khái niệm tri thức lí luận văn học 25
1.2.2. Tri thức lí luận văn học là tri thức cơ sở để học tốt các phân môn Ngữ văn trong
nhà trường THPT 26
1.2.3. Tri thức lý luận văn học cần thiết để mở rộng kiến thức của văn học nói chung
29
1.3. Cơ sở thực tiễn 31
1.3.1. Chương trình Ngữ Văn ở trường THPT hiện nay 31
1.3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và cũng cố tri thức lý luận
văn học cho học sinh THPT huyện miền núi Quỳ Châu 33
1.3.3. Thăm dò ý kiến về tri thức lý luận văn học của học sinh THPT huyện miền núi
Quỳ Châu 38
Tiểu kết: Ở chương này, chúng tôi đã tập trung vào việc giới thuyết về khái niệm tích hợp, bản
chất của giáo dục tích hợp và sự chi phối của nó tới chương trình Ngữ văn ở trường THPT.
Chúng tôi cũng trình bày khái niệm và những nét khái quát về đặc điểm phần lí luận văn học
trong chương trình Ngữ văn THPT và những thuận lợi cũng như khó khăn đặt ra trong việc dạy
tích hợp nhằm hình thành và củng cố tri thức lí luận văn học vào dạy đọc văn và làm văn. Đây
chính là những điểm tựa về mặt lí thuyết để từ đó chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu những
nguyên tắc, phương pháp định hướng học sinh vận dụng tri thức lí luận văn học vào dạy học
Ngữ văn ở trường THPT miền núi huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. 39
Chương 2
ĐỊNH HƯỚNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
TÍCH HỢP TRI THỨC LÝ LUẬN VĂN HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN QUỲ CHÂU 40
2.1. Định hướng đối với việc tích hợp tri thức lý luận văn học trong dạy học đọc văn và làm văn
ở trường THPT 40
2.1.1. Chú ý đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 40
2.1.2. Bám sát chương trình, sách giáo khoa 42
2.1.3. Sáng tạo, linh hoạt trong tích hợp tri thức lý luận văn học 43
2.2. Những nội dung tri thức lí luận văn học cần tích hợp 45
2.2.1. Các tri thức mang tính nguyên lý chung 45
3.2.1. Đối tượng thực nghiệm 129
3.2.2. Mục đích thực nghiệm 129
3.2.3. Phương pháp thực nghiệm 130
3.2.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm 130
3.2.5. Kết luận và đề xuất 132
Tiểu kết: Kết quả thực nghiệm trên tuy vẫn còn hạn chế, song chúng tôi thấy việc vận dụng tri
thức lí luận vào dạy đọc - hiểu thơ trữ tình là điều mang tính khả thi và có thể thực hiện được
đối với tất cả các khối lớp và cấp học (ngay cả cấp THCS). 132
KÊT LUẬN 134
TÀI LIỆU THAM KHẢO 137
8
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
CH : Câu hỏi
ĐC : Đối chứng
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
Nxb : Nhà xuất bản
PPDH : Phương pháp dạy học
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
TC&SGK : Chương trình và sách giáo khoa
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TN : Thực nghiệm
TPVC : Tác phẩm văn chương.
VHDG : Văn học dân gian
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hiện nay, chương trình, sách giáo khoa cũng như phương pháp
nhằm hướng tới mục tiêu đó.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Xưa nay, lí luận văn học được coi là một bộ môn khoa học có nhiệm vụ
tổng kết ở cấp độ lí thuyết những quan điểm, kiến thức và phương pháp chung
nhất từ sáng tác phê bình… trở thành chỉ đạo cho các ngành hoạt động học
văn trong đó có việc dạy văn. Cuốn Lí luận văn học mà Phương Lựu chủ biên
đã xác định đây là một bộ môn chính trong giảng dạy văn học và có ý nghĩa
rất quan trọng: “Giúp cho sinh viên khoa Ngữ văn của các trường đại học sư
phạm giỏi môn văn, giúp cho người thầy giáo dạy văn ở trường trung học phổ
thông dạy tốt môn Văn, và đặc biệt là giúp cho học sinh phổ thông hình thành
và phát triển năng lực văn” [38, 642]. Trong điều kiện văn học phát triển
mạnh mẽ, đa dạng phong phú, vai trò chỉ đạo của lí luận văn học ngày càng
trở nên quan trọng, thiết thực đối với giáo viên và học sinh. Khẳng định vai
trò ý nghĩa của lí luận văn học trong dạy học mà từ trước đến nay đã có rất
nhiều nghiên cứu, bài viết bàn về nó.
Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong Lí luận văn học ở trường phổ thông - bài
toán nghịch lí và phép giải thuận lí, khi nói về lí luận văn học đã nhận xét: “Lí
luận văn học ở cả hai phương diện trong việc tạo ra năng lực của học sinh. Một
mặt, nó giúp người học những tri thức cần thiết nhằm tiếp nhận các sự kiện văn
học bao gồm: tác phẩm, tác giả, trào lưu, xu hướng (khả năng giải mã), mặt
khác, nó cũng giúp học sinh năng lực sản sinh văn bản đúng (khả năng kí mã)
11
[21, 27]. Cùng với việc thay SGK Ngữ Văn THCS, năm 2002, trong cuốn Đổi
mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở trung học cơ sở, tác giả Đỗ Ngọc Thống
cũng bàn về đổi mới phương pháp dạy học đọc - hiểu văn bản. Người viết chỉ
rõ đổi mới phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản là nhằm tích cực hóa hoạt
động của người học, đồng thời vận dụng phương pháp chủ động vào dạy giờ
đọc hiểu cũng như đưa ra những kiến nghị về giải pháp cụ thể.
Huỳnh Như Phương trong bài Để lí luận văn học trở thành một môn
học thực sự có ích cho học sinh cũng bàn về vấn đề “những quan điểm lí luận
học Lí luận văn học ở phổ thông trung học - tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 8
- 1997 cho rằng: “Việc dạy học lí luận văn học chủ yếu là phải kết hợp giữa lí
thuyết và thực hành, gắn lí luận với các ví dụ được phân tích khoa học. Dạy
học lí luận văn học phải được tiến hành thông qua việc dạy học các phân môn
văn học khác và ngược lại”.
Tác giả Lê Thị Hương trong Tạp chí giáo dục số 159 (quý I/2007) đã
có ít nhiều vấn đề mà luận văn muốn hướng tới: Tích hợp kiến thức lí luận
văn học với việc phân tích tác phẩm văn học trong dạy văn ở THPT. Bài viết
đã đưa ra mộ số vấn đề như: Cơ sở lí luận của việc tích hợp; Nguyên tắc tích
hợp lí luận văn học trong phân tích tác phẩm (về nội dung và phương pháp).
Vấn đề đưa ra trong bài viết như là bản lề có tính chất gợi mở và phần nào
định hướng để chúng tôi tiếp tục triển khai và làm rõ hơn vấn đề vận dụng tri
thức lí luận văn học vào dạy đọc hiểu và làm văn ở trường THPT.
Cùng với việc đổi mới chương trình, SGK Ngữ Văn THPT và phương
pháp dạy học Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xuất bản nhiều tài liệu tham khảo
tương ứng để giúp giáo viên nắm bắt kịp thời và chính xác tinh thần của đổi
mới dạy học nhằm nâng cao chất lượng. Tuy nhiên do đặc thù là loại sách công
13
cụ, những cuốn SGV cũng chỉ là những định hướng cho dạy học đọc hiểu ở
những bài cụ thể chứ chưa có tính chất tổng quát về hệ thống phương pháp tích
hợp, nhất là vấn đề vận dụng (tích hợp) tri thức lí luận trong dạy đọc hiểu và
làm văn. Ngoài SGV, Bộ Giáo dục và Đào tạo còn cung cấp thêm bộ bốn cuốn
Thiết kế bài giảng Ngữ văn THPT xuất bản từ năm 2006 đến năm 2008, tương
đương với chương trình sách giáo khoa THPT. Sau này có thêm Tài liệu chuẩn
kiến thức cho bộ môn Ngữ văn các lớp. Loại tài liệu này đã xác định những nội
dung trọng tâm của phân môn văn cần hình thành cho học sinh. Đây chính là
cơ sở để giáo viên xây dựng bài dạy theo nguyên tắc tích hợp.
Trong quá trình dạy học và khảo sát, chúng tôi chưa bắt gặp tài liệu nào
tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, đầy đủ về hoạt động vận dụng tri
thức lí luận văn học trong dạy đọc hiểu và làm văn ở trường THPT theo tinh
Nhóm phương pháp lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại, so sánh
Nhóm thực nghiệm: Điều tra, phỏng vấn, thực nghiệm sư phạm.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đi sâu tìm hiểu vấn đề: ”Tích hợp tri thức lý luận văn học trong
dạy Đọc Văn và Làm Văn ở trường THPT huyện Quỳ Châu,Tỉnh Nghệ An và
đề xuất một số định hướng cách thức thực hiện mang tính khả thi nhằm nâng
cao hiệu quả dạy học Đọc Văn và Làm Văn trong nhà trường THPT hiện nay.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp tri thức lý luận
văn học trong dạy học Đọc Văn và Làm Văn ở trường THPT.
Chương 2: Nội dung và phương pháp tích hợp tri thức lý luận văn học
trong dạy học Đọc Văn và Làm Văn ở trường THPT huyện Quỳ Châu.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP TRI THỨC
LÝ LUẬN VĂN HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỌC VĂN VÀ LÀM VĂN
Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm tích hợp
Tích hợp là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng La tinh (Integration)
với nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ
phận riêng lẻ. Theo từ điển Tiếng Anh - Anh (Oxford Advanced Learner’s
Dictionary), từ Intergrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với
nhau trong một tổng thể. Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau
nhưng được kết hợp với nhau nhằm đạt đến mục đích và hiệu quả hoạt động.
Như vậy, tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà hợp, sự kết hợp. Nội
hàm khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là
năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một
nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn
được đề cập đến trong các môn học hoặc các phần của bộ môn đó. Trong
chương trình Ngữ văn THPT, môn Ngữ văn năm 2002 của Bộ GD&ĐT, khái
niệm tích hợp cũng được hiểu là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ
mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối
hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc.
1.1.2. Bản chất của giáo dục tích hợp
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế
trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây
17
dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp
được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và
quá trình dạy học.
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích
hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết
những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với học
sinh so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ. Tích
hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người
học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết
các vấn đề của cuộc sống hiện đại. Nhiều nước trong khu vực Châu Á và trên
thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học và cho rằng quan điểm
này đã đem lại hiệu quả nhất định. Nó trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại
mang tính tích cực trong phát triển học sinh một cách toàn diện trong quá trình
học tập, hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, thông qua những hoạt
động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp các kiến thức, kĩ
năng và các thao tác để lĩnh hội tri thức một cách độc lập. Năng lực này là một
hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp, phối hợp các kiến thức và kĩ năng chứ
không phải là sự tác động các kĩ năng riêng lẻ lên một nội dung.
Trong dạy học, tích hợp nhấn mạnh cách dạy tìm tòi sáng tạo và cách
đã được hoàn chỉnh thêm một bước, quan điểm tích hợp đã được thể hiện
trong CT&SGK và các hoạt động dạy học ở tiểu học và triển khai ở THCS.
Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều giáo viên. Một số đã
có nhận thức ban đầu nhưng còn hạn chế về kĩ năng vận dụng. Chúng ta phải
hiểu tích hợp là tư tưởng, là nguyên tắc, là quan điểm hiện đại trong giáo dục.
Hiểu đúng và làm đúng quá trình tích hợp có thể đem lại những hiệu quả cụ
19
thể đối với từng phân môn trong một thể thống nhất của các môn học ở bậc
tiểu học cũng như THCS và THPT.
Cuộc sống là một bộ đại bách khoa toàn thư của tri thức, kinh nghiệm
và phương pháp. Mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là
những tình huống tích hợp. Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào
của lí luận và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp và phối hợp kinh
nghiệm kĩ năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau. Rèn được khả năng
tích hợp sẽ giúp học sinh học tập thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến
thức, kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và
hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau trong cuộc sống hiện đại.
Phương pháp dạy học tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện
đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều
nước trên thế giới. Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn
đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự
được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông,
chủ yếu ở bậc Tiểu học và THCS. Trước đó, tinh thần giảng dạy tích hợp mới
chỉ thực hiện ở mức độ thấp như liên hệ, phối hợp các kiến thức kĩ năng thuộc
các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề giảng dạy.
Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm
và áp dụng đổi mới CT&SGK bậc THPT. Các môn học trong nhà trường đều
lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương
trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy. Trong lĩnh vực
lí luận và phương pháp dạy học, bài toán đang đặt ra cho bộ môn Ngữ văn là
Ngay từ tổ chức nội dung chương trình cũng như SGK, các nhà biên
soạn đã bám sát quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo, đồng thời lựa
21
chọn phương pháp giảng dạy phù hợp là yêu cầu đặt ra trong việc dạy học
Ngữ văn hiện nay. Điều đó, đòi hỏi giáo viên phải có những thay đổi về cách
thức dạy học và tiến trình giờ học. Giáo viên nói chung và giáo viên THPT
nói riêng, trong thời gian qua đã quá quen với lối giảng dạy tách rời từng phân
môn theo từng giờ với từng cuốn sách riêng biệt. Yêu cầu mới là dạy ba phân
môn trong từng bài học như một thể thống nhất, trong đó mỗi giờ Văn học,
Tiếng Việt, Tập làm văn vừa giữ được bản sắc riêng vừa hoà nhập với nhau
để cùng hình thành cho học sinh những kỹ năng, năng lực tổng hợp. Đây là
một việc làm tuy quen nhưng lại lạ. Quen là vì bản chất của việc học tập môn
Văn - Tiếng Việt trong nhà trường vẫn có sự phối hợp dạy giữa ngôn từ Tiếng
việt để hiểu văn và ngược lại. Lạ là vì giờ đây một bài học Ngữ văn lại bao
gồm cả ba mạch kiến thức, kỹ năng Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn. Tuy nhiên,
không phải lúc nào cũng tích hợp được cả ba phân môn trong mỗi bài học, bởi
có những kiến thức, kỹ năng của phân môn này không thể tìm thấy sự đồng
quy với những phân môn khác. Lúc đó, giáo viên cần tổ chức dạy chúng như
những yếu tố độc lập theo cách riêng.
Quan điểm tích hợp hiện nay mà sách giáo khoa sử dụng là sự kế thừa
và nâng cao các chỉ dẫn tích hợp đã nói đến trong lịch sử dạy - học môn Ngữ
văn nói chung, ở THPT nói riêng với các cơ sở lí luận mới. Điểm mới của
chương trình, sách giáo khoa hiện hành là bồi dưỡng cho giáo viên lý thuyết
về tích hợp, để giáo viên có ý thức tích hợp một cách có cơ sở khoa học và đạt
hiệu quả cao. So với các môn học khác môn Ngữ văn có điều kiện thuận lợi
để thực hiện tích hợp, vì:
- Môn Ngữ văn là môn học vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ
thuật. Ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm là phương tiện, công cụ giao tiếp của
cả phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn.
- Dù là bài Văn, Tiếng Việt hay Làm văn đều có tính chất chung của cả
23
- Dạy - học Ngữ văn theo hướng tích hợp, quan niệm về văn bản sẽ
rộng hơn, các ngữ liệu được lựa chọn đều mang tính gợi ý, không bắt buộc
phải tuân theo, các câu hỏi, bài tập đa dạng, có độ phân hoá, vừa có tính tích
hợp, vừa chú trọng nêu vấn đề, liên tưởng, các câu hỏi đọc - hiểu văn bản
quan tâm hơn tới những yếu tố làm cơ sở cho việc đọc hiểu văn bản chứ
không dừng ở những cảm nhận chung. Ngoài ra, có rất nhiều câu hỏi, bài tập
mở, gắn với những tình huống trong cuộc sống, tạo tiền đề cho học sinh có
những phương án trả lời đa dạng, phù hợp với vốn sống và ngôn ngữ của học
sinh. Với hệ thống câu hỏi và bài tập đó, giáo viên có thể vận dụng để tổ chức
các hình thức học tập khác nhau, có thể sử dụng phương tiện dạy hỗ trợ để
tăng cường khả năng tư duy và năng lực làm việc độc lập hay hợp tác của học
sinh trong học tập.
Những thay đổi như vậy là phù hợp với đặc trưng môn học, theo kịp
với những tiến bộ về khoa học, đáp ứng đúng những đòi hỏi của thực tiễn dạy
- học ở Việt Nam.
Tóm lại, tích hợp trong môn Ngữ văn có thể hiểu là sự hợp nhất ba
phân môn Văn - Tiếng Việt - Làm văn, “hoà trộn” trong nhau, học cái này
thông qua cái kia và ngược lại. Cả ba phân môn đều dựa vào một văn bản
chung để khai thác, hình thành kiến thức và rèn luyện kỹ năng theo yêu cầu
của mỗi phần trong hệ thống kiến thức của cả ba phần có mối liên hệ chặt chẽ,
phụ thuộc vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau và làm sáng tỏ cho nhau, tránh được sự
chồng chéo và thiếu tính thống nhất.
Đối với bộ môn Ngữ văn ở trường phổ thông, các nhà biên soạn đã tổ
chức các bài dạy - học tích hợp theo nguyên tắc: tích hợp ngang, tích hợp dọc.
Tích hợp ngang: Là kiểu tích hợp trong từng thời điểm, tức là kiểu
tích hợp trong một tiết học, một bài học kiến thức của ba phân môn: Văn
học - Tiếng Việt - Làm văn. “Tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng
24
kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc