BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HOA
VẬN DỤNG KỸ THUẬT LIÊN VĂN BẢN
TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HOA
VẬN DỤNG KỸ THUẬT LIÊN VĂN BẢN
TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHAN HUY DŨNG
NGHỆ AN - 2014
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5. Phương pháp nghiên cứu 10
6. Đóng góp của luận văn 10
7. Cấu trúc của luận văn 10
học sinh 76
2.3.3. Phá bỏ độc quyền vận dụng kỹ thuật liên văn bản của giáo viên 77
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1. Thực nghiệm thăm dò về ^nh khả thi và hiệu quả của việc vận dụng kĩ thuật liên văn bản
trong dạy đọc - hiểu văn bản văn học ở trường trung học phổ thông 80
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 80
3.1.2. Đối tượng thực nghiệm 80
3.1.3. Nội dung thực nghiệm 80
3.1.4. Phương pháp thực nghiệm 81
3.1.5. Kết quả thực nghiệm 81
3.2. Thiết kế vận dụng kĩ thuật liên văn bản trong dạy học đọc - hiểu văn bản 84
3.2.1. Vận dụng kĩ thuật liên văn bản trong giờ đọc - hiểu về thơ 84
3.2.2. Vận dụng kĩ thuật liên văn bản trong giờ đọc - hiểu về truyện 84
KẾT LUẬN 119
4
TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thế giới đương đại đã bước sang một giai đoạn phát triển mới - giai
đoạn đa văn hóa và toàn cầu hóa. Một cuộc luân vũ mãnh liệt đang diễn ra
trong văn hóa - văn học nghệ thuật thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trong bối cảnh ấy, việc đổi mới chương trình, nội dung - đặc biệt là phương
pháp dạy học đã và đang diễn ra ở các nhà trường phổ thông với tinh thần
“Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác
động đến tình cảm; đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” (Luật
Giáo dục) đang dược thực thi với nhiều cố gắng nỗ lực và không ít gian truân.
Từ những năm đầu thế kỉ XXI, bộ sách giáo khoa Ngữ văn dành cho
học sinh trung học phổ thông đã được biên soạn trên cơ sở nguyên tắc tích
đầu tiên của thế kỷ 21, có sức hút rất lớn với nhiều nhà nghiên cứu, phê bình
văn học. Khái niệm liên văn bản gắn liền với ba tên tuổi: J.Derrida, R.Barthes
và J.Kristeva - các lý thuyết gia tiên phong trong trào lưu Giải cấu trúc và phê
bình Hậu hiện đại. Khái niệm liên văn bản xuất hiện lần đầu tiên trong tiểu
luận “Bakhtine, từ ngữ, đối thoại và tiểu thuyết” do J.Kristeva khởi xướng
vào mùa thu năm 1966, đọc tại seminar do R.Barthes chủ trì. Từ đó đến nay,
học giới quốc tế đã tiếp nhận và vận dụng rộng rãi khái niệm liên văn bản trên
nhiều lĩnh vực.
Những tư tưởng, diễn ngôn được triển khai từ khái niệm liên văn bản
đã trở nên vô cùng phong phú trong đó hàm chứa không ít quan điểm đối lập
đồng thời cũng được làm chỗ dựa để mở rộng sang các địa hạt khác nhau: tôn
giáo, lịch sử, xã hội học
7
Chính sự đồng tình, phát triển hay là đối thoại, phản biện ở một khía
cạnh nào đó đối với khái niệm liên văn bản đã làm nên lịch sử của lý thuyết
liên văn bản.
Ở Việt Nam chúng ta, các công trình, tài liệu giới thiệu lý thuyết liên
văn bản mới chỉ xuất hiện trong hơn chục năm nay. Đó là những bài mang
tính tổng thuật như: Liên văn bản - sự triển hạn đến vô cùng của tác phẩm
văn học của Nguyễn Minh Quân, Văn bản và liên văn bản của Nguyễn Hưng
Quốc, Điểm qua mấy hướng tiếp cận liên văn bản ngoài nước của Nguyễn
Nam Các công trình được dịch ra tiếng Việt như Liên văn bản - sự xuất
hiện của khái niệm về lịch sử và lý thuyết của vấn đề của L.P. Rjanskaya, Văn
bản - Liên văn bản - Lý thuyết liên văn bản của G.K.Kosikov.
Đó còn là một số chuyên luận của R.Barthes, người đóng vai trò quan
trọng trong việc xây dựng và phát triển lý thuyết liên văn bản. Rồi một số
công trình đề cập nhiều đến khái niệm liên văn bản của Trần Đình Sử, Trương
Đăng Dung, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Văn Dân Nhiều công trình dịch thuật,
giới thiệu về chủ nghĩa Hậu hiện đại có mối quan hệ mật thiết với lý thuyết
liên văn bản và kỹ thuật liên văn bản cũng được quảng bá khá sâu rộng.
tích khả năng, điều kiện và ý nghĩa của việc vận dụng kỹ thuật liên văn bản;
tìm hiểu thực tế vận dụng kỹ thuật liên văn bản trong dạy đọc - hiểu văn bản
văn học ở THPT.
3.2. Nghiên cứu phạm vi, nội dung và phương pháp vận dụng kỹ thuật
liên văn bản trong dạy đọc hiểu văn bản văn học ở THPT.
3.3. Tiến hành thực nghiệm để khẳng định khả năng vận dụng kỹ thuật
liên văn bản nhằm nâng cao chất lượng dạy đọc - hiểu văn bản văn học ở
THPT hiện nay.
9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Vận dụng kĩ thuật liên văn bản
vào việc dạy học đọc - hiểu ở trường phổ thông.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng kĩ thuật liên văn bản trong giờ Ngữ văn ở THPT nói chung,
giờ đọc - hiểu văn bản nói riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thuộc hai
nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết.
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết.
- Phương pháp mô hình hóa, quan sát, điều tra, thực nghiệm.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Với đề tài Vận dụng kỹ thuật liên văn bản trong dạy đọc hiểu văn bản
văn học ở trường THPT, người viết cố gắng hệ thống hóa những kinh nghiệm vận
dụng kỹ thuật liên văn bản trong việc dạy đọc hiểu văn bản văn học ở THPT.
6.2. Đồng thời, đề xuất những biện pháp khả thi nhằm vận dụng kỹ
thuật liên văn bản trong dạy đọc hiểu văn bản văn học ở trường THPT, góp
phần từng bước nâng cao chất lượng, hiêu quả của việc dạy học Ngữ văn ở
nhà trường phổ thông hiện nay.
gọi là “văn bản”. Và cũng gần như chừng ấy thời gian; các học gỉa nói chung
và các nhà nghiên cứu - phê bình về lý thuyết ngôn ngữ nói riêng, luôn tìm
mọi phương cách để cho thứ công cụ đặc hữu và phổ biến ấy ngày một linh
diệu, màu nhiệm và đắc dụng hơn.
11
Từ Plato, F.Saussure đến J.Kristeva - ít nhất là từ hơn một thế kỷ qua;
văn bản từng bước, dần tiệm cận rồi hòa nhập với liên văn bản.
Sự ra đời của khái niệm liên văn bản đã làm “thay đổi hẳn nội hàm khái
niệm văn bản để cuối cùng cả hai cơ hồ trở thành hai từ đồng nghĩa: không có
một văn bản nào không phải là một liên văn bản và ngược lại, không có một
liên văn bản nào không tồn tại như một văn bản ” [35].
Liên văn bản là một trong những khái niệm trọng yếu nhất trong các lý
thuyết văn học thế giới từ nửa sau thế kỷ 20 đến nay, có sức hút mạnh mẽ với
các học giả quốc tế nói chung và các lý thuyết gia nghiên cứu phê bình văn
học nói riêng.
Khái niệm liên văn bản gắn liền với ba lý thuyết gia tiên phong trong
trào lưu Giải cấu trúc và Phê bình Hậu hiện đại: J.Derrida, R.Barthes và
J.Kristeva. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau về nguồn gốc
khái niệm: Nó xuất hiện lần đầu tiên trong tiểu luận của Julia Kristeva vào
mùa Thu năm 1966: Bakhtine, từ ngữ, đối thoại và tiểu thuyết đọc tại seminar
do R.Barthes chủ trì.
Trong tiểu luận này, mục tiêu chính là để giới thiệu, luận giải về ngôn
ngữ và tiểu thuyết của M.Bakhtine - nhà bác học Nga đã vận dụng sáng tạo và
phát triển lý thuyết ngôn ngữ học tổng quát của F.Saussure theo một chiều
hướng mới - từ đó đã để lại nhiều dấu ấn trong lý thuyết văn học thế giới từ
những năm giữa thập niên 1970 trở lại đây. Trong khi Saussure tập trung chú
ý vào những quy ước và quy luật trừu tượng và chung nhất của ngôn ngữ; chỉ
tập trung vào khía cạnh đồng đại của ngôn ngữ; lược quy ngôn ngữ vào một
mối quan hệ chính giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt và cho rằng bản chất
của ngôn ngữ nằm ở sự khác biệt thì Bakhtine lại tin ngôn ngữ nào cũng gắn
13
hữu trước đó: mỗi văn bản là một sự hoán vị của các văn bản, nơi lời nói từ
các văn bản khác gặp gỡ nhau, tan loãng vào nhau và trung hòa sắc độ của
nhau”. Nói cách khác, không có văn bản nào thực sự cô lập, một mình một
cõi, như một sự sáng tạo tuyệt đối: văn bản nào cũng chịu sự tác động của văn
bản văn hóa, cũng chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ quyền lực thể
hiện qua các hình thức diễn ngôn khác nhau trong xã hội. Hậu quả là từ hay
văn bản nào cũng là một giao điểm với ít nhất là một từ hay một văn bản khác
được đọc. Là giao điểm nghĩa là: khác với điểm, không cố định. Trong ý
nghĩa này, Kristeva xem văn bản có tính sản xuất, lúc nào cũng là quá trình
vận động và tương tác liên tục. Ý nghĩa của các từ ngữ được sử dụng trong
văn bản thay đổi màu sắc theo những thay đổi trong xã hội. Kristeva cho ý
nghĩa của mỗi từ trong văn bản được quy định bởi hai trục khác nhau:
- Trục ngang: giữa tác giả và độc giả.
- Trục dọc: giữa nó với văn bản khác cũng như với chu cảnh văn hóa xã
hội trước đó cũng như cùng thời.
Từ đó, đi xa hơn - Kristeva cho mỗi văn bản là một liên văn bản, ở đó
các văn bản khác cùng hiện hữu để góp phần chi phối và làm thay đổi diện
mạo của văn bản ấy; mỗi văn bản là một sự hấp thụ và chuyển thể của văn
bản khác, là một “bức khảm các trích dẫn” - ở đó, có vô số những mảnh vụn
của các mã ngôn ngữ, các quy ước văn học, các khuôn mẫu nhịp điệu, các
hình thức diễn ngôn vốn từng phổ biến trong xã hội. Tuy nhiên - theo
Kristeva, nên lưu ý là: phần lớn các mảnh vụn này đều vô danh và có khi vĩnh
viễn vô danh, không ai có thể truy nguyên được xuất xứ của chúng: đó chỉ là
những trích dẫn tự động, từ vô thức và không mang bất cứ một dấu hiệu đặc
biệt nào để nhận diện sự trích dẫn ấy cả.
Thực ra, tư tưởng về liên văn bản không phải là sự “độc sáng” của
J.Kristeva mà nó đã được manh nha từ lý thuyết Giải cấu trúc do J.Derrida
14
khởi xướng “trong cuộc tranh luận giữa ông với Saussure bằng cuộc giải phẫu
cấp “quyền công dân”, thực sự thâm nhập vào đời sống khoa học,vào lịch sử
nghiên cứu phê bình và sáng tác văn học thế giới một cách sâu rộng.
R.Barthes không chỉ ủng hộ khái niệm liên văn bản của Kristeva mà
còn xây dựng những luận điểm quan trọng làm cơ sở cho sự phát triển mạnh
mẽ, vững bền và ngoạn mục của lý thuyết liên văn bản. Chính khái niệm liên
văn bản đã đưa R.Barthes đến một định nghĩa mới, có tính nền tảng về văn
bản: “Mỗi văn bản là một liên văn bản; những văn bản khác có mặt trong nó ở
những cấp độ khác nhau, giữa những hình thái ít nhiều nhận thấy được: những
văn bản của văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại chung
quanh. Mỗi văn bản đều như là một tấm vải mới được dệt bằng những trích
dẫn cũ. Những đoạn của các mã văn hóa, các định thức, các cấu trúc nhịp
điệu, những mảnh vụn biệt ngữ xã hội - tất cả đều bị văn bản ngốn nuốt và
đều bị hòa trộn trong văn bản, bởi vì trước văn bản và xung quanh nó bao giờ
cũng tồn tại ngôn ngữ. Với tư cách là điều kiện cần thiết ban đầu cho mọi văn
bản, tính Liên văn bản không thể bị lược quy vào nguồn gốc hay ảnh hưởng;
nó là trường quy tụ những định thức nặc danh, khó xác định nguồn gốc,
những trích dẫn vô thức hoặc máy móc được đưa ra không có ngoặc kép” [5].
Xem xét lại khái niệm liên văn bản của Kristeva, Brathes đã tạo cho nó
một tên gọi ngắn gọn và mạnh mẽ hơn: VĂN BẢN. Brathes nhấn mạnh, về
mặt thuật ngữ, “văn bản” có nghĩa là “tấm dệt”, “mạng lưới”, “tấm vải”
Vào năm 1970, trong cuốn S/Z, Brathes đã mô tả văn bản mở rộng như
là “tính đa bội đắc thắng”: “Một văn bản lý tưởng như thế đầy ắp vô số lối đi
giao cắt nhau ở bên trong, không chế áp lẫn nhau, nó là mạng lưới của những
cái biểu đạt, chứ không phải là cấu trúc của những cái được biểu đạt; nó
16
không có mở đầu, nó mang tính thuật nghịch khả hồi, có thể thâm nhập vào
đó qua vô số cửa ngõ, nhưng không một lối nào được xem là chính đạo,
chuỗi mã do nó khởi động đã mất biến ở đâu đó trong cõi xa xăm vô tận,
chúng “bất khả giải” (nghĩa là chúng không phụ thuộc vào nguyên tác khả
giải, cho nên mọi sự giải quyết đều mang tính ngẫu nhiên giống như khi ném
thiết yếu của văn bản, dẫu nó là thế nào, tính liên văn bản dĩ nhiên hoàn toàn
không quy về vấn đề nguồn gốc và ảnh hưởng. Liên văn bản như phạm vi
rộng mở của những công thức vô danh khó xác lập nguồn gốc, của những
đoạn trích vô tình hoặc tự động không để trong ngoặc kép. Mọi văn bản đều
là liên văn bản: ở những cấp độ khác nhau, trong hình thức được nhận biết ít
hay nhiều, bao giờ cũng hiện diện những văn bản khác - những văn bản của
văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa bao bọc xung quanh, mọi văn
bản đều là tấm vải mới đan dệt từ những trích dẫn đã từng được sử dụng.”
Như phần trên đã đề cập, khi tiếp cận Lý thuyết liên văn bản, trước hết
ta cần xác định ý nghĩa của thuật ngữ liên văn bản trong việc gọi tên một thủ
pháp văn học xác định (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay
mượn); cách hiểu như thế đòi hỏi sự hiện diện của văn bản gốc đã có từ trước
và xu hướng của tác giả sử dụng văn bản gốc đó. Trong cách tiếp cận này,
thuật ngữ liên văn bản được dùng để biểu thị - gọi tên các hiện tượng văn học
có lịch sử lâu dài như chính lịch sử văn học, đã có từ ngàn xưa.
Trong Lời giới thiệu cuốn Intertextuality, M.Worton và J.Still đã chứng
minh khá thuyết phục rằng: ý niệm liên văn bản đã manh nha từ trong các lý
thuyết về thơ thời cổ đại Hy Lạp. Trong tư tưởng của Plato, Airstotle, Horace
vv khi các triết gia này nói đến chức năng mô phỏng hiện thực của văn học,
họ không hiểu mô phỏng chỉ đơn giản là một sự lặp lại mà thực chất là một sự
18
bổ sung, ít nhất là bổ sung một cách diễn dịch. Trong ý nghĩa này - nói theo
ngôn ngữ của Plato - nó có chức năng của một thứ tiền văn bản. Hậu quả là
mọi văn bản văn học đều có tính liên văn bản.
Cùng với đó - khi tiếp cận Lý thuyết liên văn bản chúng ta cần minh định
ý nghĩa cách mạng của nó trong việc khám phá thuộc tính bản thể của mọi văn
bản và một quy luật khách quan chi phối sự tồn tại của con người nói chung.
1.1.1.2. Liên văn bản như là thuộc tính của văn bản
Nhận định của Barthes: “Liên văn bản được hiểu như là thuộc tính bản
thể của mọi văn bản “bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản” - tức là được
Theo các nhà nghiên cứu quốc tế, phát hiện về tính liên văn bản vào
giữa thập niên 60 được đánh giá như vụ nổ khai thiên (Big Bang) trong lĩnh
vực ngôn ngữ học: nó phá vỡ khái niệm văn bản truyền thống và làm cho hai
khái niệm văn bản và liên văn bản trở thành đồng nghĩa; nó còn làm thay đổi
hẳn trọng tâm của phê bình và nghiên cứu văn học. Nó cũng làm thay đổi mối
quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc
Trước hết, ta cần chú ý là: việc phát hiện ra tính liên văn bản đã làm
thay đổi hẳn khái niệm văn bản đã khá thông dụng trước đó. Để làm nổi bật
các đặc điểm của văn bản (như một liên văn bản), R.Barthes đã so sánh khái
niệm văn bản (text) với khái niệm tác phẩm (work) theo ông, trong khi tác
phẩm là một cái gì cụ thể, đã hoàn tất, chiếm một không gian nhất định trong
thế giới sách vở - thì văn bản lại chỉ là một lĩnh vực mang tính phương pháp
luận; tác phẩm là những gì được phô bày ra, văn bản lại là tiến trình hiện thực
hóa việc phô bày ấy bằng ngôn ngữ. Nếu văn học là thế giới của các kí hiệu,
tác phẩm gần với những cái biểu đạt, vốn tương đối dễ diễn dịch thì văn bản
lại là chuỗi dài của những cái được biểu đạt. Những cái được biểu đạt này liên
20
hệ đến những cái được biểu đạt khác, kết quả là văn bản chỉ có thể được kinh
nghiệm trong một động thái sản xuất, hình thành tự sự giao động miên man
giữa sự có mặt và vắng mặt của những cái được biểu đạt khác nhau. Những sự
có mặt và vắng mặt này vốn vô tận, do đó, động thái sản xuất cũng kéo dài
liên tục - và cũng do đó, văn bản tất yếu mang tính đa nguyên, nó không giới
hạn trong một ý nghĩa nhất định và cố định nào cả; nó luôn luôn dẫn đến một
cái gì khác, ngoài nó.
Tác phẩm và văn bản liên quan tới hai dạng khác nhau của ý thức con
người. Tác phẩm gắn với ý thức cá nhân của chủ thể ý chí (tác giả) còn văn
bản - như đã nêu trên - gắn với ký ức vô thức của văn hóa. Văn bản có sự
phong phú ngữ nghĩa vô hạn, còn phạm vi đọc và kinh nghiệm văn hóa được
ý thức nói chung của mỗi tác giả là có giới hạn, nó chỉ giành lại cho hoạt động
Liên văn bản của anh ta một lãnh địa rất hẹp (bắt chước, mô phỏng, nhại, trích
thực và bản tính con người, với các nhà cổ điển Trung Hoa và Việt Nam là
“đạo”, “chí”, “khí” hay “lý”. Mối quan tâm chính của họ không phải là các
yếu tố tác giả, văn bản hay người đọc mà là vấn đề bản chất, chức năng và thể
loại của văn học.
Song, khi tập trung vào các vấn đề bản chất, chức năng và thể loại văn
học người ta đều phải đề cập đến quan hệ giữa con người với con người, với vũ
trụ nên các học giả phương Tây cũng như phương Đông không thể không nói
đến vai trò của người đọc (như Hàn Dũ nói đến “văn dĩ minh đạo”, Chu Đôn
Di nói đến “văn dĩ tải đạo”; hay khi Plato đòi đuổi các nhà thơ ra khỏi vương
quốc Cộng hòa, Aristotle nói đến chức năng thanh tẩy cảm xúc của bi kịch ).
Họ chỉ nghĩ đến vậy thôi chứ không hề công nhận một vai trò nào của người
đọc. Vị trí của người đọc vẫn ở bên lề (Dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc [35]).
22
Từ cuối thế kỷ 18, với các nhà lãng mạng chủ nghĩa, yếu tố tác giả đã
đánh bật các yếu tố khác để chiếm vị trí trung tâm trong lĩnh vực phê bình,
nghiên cứu văn học. Trên sân khấu văn học, một mình tác giả hiện ra như
những thiên tài với sự nhạy bén và khả năng tưởng tượng phi thường đến mức
trở thành cô đơn, lạc lõng giữa cuộc đời phàm tục, nói như Xuân Diệu Ta là
Một, là Riêng, là Thứ Nhất hay nói như Vũ Hoàng Chương - như những kẻ
“đầu thai lầm thế kỷ”. Và như thế, người đọc bị đẩy lùi vào quên lãng. Một
thời gian dài, người ta xem mục tiêu của việc đọc thơ văn là để tìm tòi những
bí ẩn giấu kín trong tâm hồn của những thiên tài. Dấu vết của cách nhìn này
vẫn tồn tại dai dẳng đến nay: đó là cảm giác sùng bái đối với khái niêm “độc
đáo”, “sáng tạo” và “cảm hứng”, ám ảnh về “cái tôi” của người nghệ sĩ, sự
nhấn mạnh quá đáng vào yếu tố cảm xúc - quan niệm cho việc đọc, trước hết
là để tìm hiểu tâm tình của một nhà văn hay một nhà thơ.
Từ đầu thế kỷ XX, đã có nhiều cuộc “đảo chính” nổ ra nhằm lật đổ
“ngai vàng” của tác giả. Cả Hình thức luận lẫn Phê bình mới đều cho những
dòng chữ trên giấy có giá trị hơn hẳn các yếu tố ngoài văn bản như tiểu sử, ý
đồ của tác giả hay bối cảnh lịch sử và ý thức hệ trong đó tác phẩm được hình
tính cưỡng bách của người đọc” và “lực dẫn liên văn bản”. Tiến trình liên văn
bản được miêu tả đồng thời như sự hữu lý hóa và dẫn lực. Hữu lý hóa là phần
diễn giải, đi từ một ma trận còn thiếu của ý nghĩa và tính bất hợp ngữ pháp
đến một thông điệp hợp ngữ pháp và có tổ chức trong tiến trình hồi cố của
diễn giải. Trong cơ cấu của hành động đọc có sự hiện diện vô thức của liên
văn bản như dẫn lực của người đọc đến một văn bản ngoại lai. Sự hiện diện
này có sẵn trong văn bản như phần thiếu vắng hay bổ nghĩa. Người đọc đối
diện với một thể hiện có rào cản, và mong muốn tìm được phần ma trận
24
không thể hiện ấy. Ông ví phần văn bản mà người đọc có được như chiếc
bánh rán khuyên tròn: trong khi tiêu thụ phần bánh, người đọc vẫn cảm thấy
chưa đủ vì sự hiện diện của khoảng tròn trống không ở giữa. Chính sự khát
thèm phần thiếu vắng này mà tiến trình liên văn bản nảy sinh. Phần thiếu
vắng của một văn bản, được gọi là “liên văn bản”, tựa như một lời chú gắn lên
người đọc, buộc họ phải hồi đáp vì nhu cầu hoàn thiện tinh nguyên (Dẫn theo
Nguyễn Nam [31]).
Michel Foucault thì chủ chương “biên giới của một cuốn sách không
bao giờ thực rõ ràng: vượt ra ngoài nhan đề, dòng chữ đầu tiên và dấu chấm
cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức mang tính tự trị của nó,
nó bị bắt gặp quả tang là đang hòa lẫn vào một hệ thống quy chiếu đến các
cuốn sách khác, các văn bản khác, các câu văn khác: nó chỉ là cái gút trong
một mạng lưới lớn. Cuốn sách không phải là một vật thể chúng ta cầm trên
tay Sự thống nhất của nó thường biến dạng và rất tương đối”.
Ứng dụng vào lĩnh vực thi pháp học trong khuôn khổ của Cấu trúc
luận, G.Genette biến khái niệm tính liên văn bản thành tính xuyên văn bản,
một khái niệm khá rộng: thâu tóm cả năm khái niệm khác, nhỏ hơn - liên văn
bản, bàng văn bản, siêu văn bản, cực đại văn bản và cổ văn bản. Chính
G.Genette là người chủ xướng lý thuyết tự sự học về phân loại các kiểu tương
tác văn bản.
Harold Bloom tiếp cận khái niệm tính liên văn bản từ cả góc độ tu từ