Nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị về khả năng ứng dụng các xét nghiệm đông máu cần thiết để theo dõi, dự phòng chảy máu trong khi mang thai và khi đẻ - Pdf 29

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình mang thai, sự thay đổi của cơ thể người phụ nữ nhằm đáp
ứng phù hợp với sự xuất hiện và phát triển của thai nhi trong tử cung. Trong đó
hệ thống tuần hoàn máu nói chung và hệ thống đông cầm máu nói riêng cũng có
sự thay đổi để đảm bảo điều hòa, phát triển của mẹ và thai nhi. Vì vậy nghiên
cứu về những thay đổi về đông cầm máu ở phụ nữ mang thai là rất cần thiết, từ
đó có thể biết được những thay đổi về đông cầm máu ở từng giai đoạn mang thai
và tác động của những thay đổi đông cầm máu với mẹ và thai nhi ở từng thời kì
mang thai, khi sinh và sau sinh. Những thay đổi này có liên quan gì đến các biến
chứng trong quá trình mang thai, quá trình đẻ và chăm sóc sau đẻ như: tiền sản
giật, chảy máu, rau tiền đạo, hội chứng thiếu máu tan huyết-tăng các enzym gan-
giảm tiểu cầu, hội chứng đông máu nội mạch rải rác [9], [13]. Trong đó, chảy
máu hoặc tắc mạch là một trong những biến chứng nghiêm trọng có thể gây
nguy hiểm tới tính mạng của thai phụ và thai nhi nếu không chẩn đoán và xử trí
kịp thời, nhất là trong lúc chuyển dạ và sinh đẻ [7], [11], [20].
Qua nghiên cứu về những thay đổi đông cầm máu ở 2700 thai phụ ở Bệnh
viện phụ sản Hà Nội từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 11 năm 2012 đã cho thấy
kết quả có sự thay đổi về tiểu cầu, các xét nghiệm đông máu cơ bản, hoạt tính
một số yếu tố đông máu và kháng đông sinh lý trong qua trình mang thai. Đồng
thời cũng thấy được một số mối liên quan giữa bất thường đông máu vòng đầu
(gồm xét nghiệm số lượng tiểu cầu và đông máu cơ bản) với một số biến chứng
sản khoa. Từ những kết quả nghiên cứu này cho thấy việc đưa ra khuyến nghị
thực hiện các xét nghiệm đông cầm máu là cần thiết để góp phần hạn chế những
biến chứng khi mang thai và những tai biến khi sinh. Chính vì vậy, chúng tôi
thực hiện chuyên đề “Nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị về khả năng
ứng dụng các xét nghiệm đông máu cần thiết để theo dõi, dự phòng chảy
máu trong khi mang thai và khi đẻ” với 2 mục tiêu sau:
1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu về bất thường đông cầm máu ở 2700 thai phụ
khám tại bệnh viện phụ sản Hà Nội từ tháng 5 năm 2011 đến tháng 11
năm 2012.

Yếu tố XIII yếu tố ổn định sợi huyết hoạt tính tăng rất sớm trong 3 tháng
đầu của thai kỳ, sau đó lại giảm dần và ổn định ở mức bình thường.
3
Cùng lúc hoạt tính yếu tố II, V, XI lại giảm, có thể hiểu sự giảm này để
cân bằng với sự tăng hoạt tính của các YTĐM khác.
Nồng độ fibrinogen giá trị bình thường 2 – 4 g/L, khi có thai nồng độ tăng
thêm khoảng 50%. Nồng độ fibrinogen tăng là một nguyên nhân lớn làm cho tốc
độ máu lắng tăng khi có thai [2], [6], [8].
c. Thay đổi ở giai đoạn tiêu fibrin
Phụ nữ mang thai có tình trạng giảm tiêu sợi huyết.
Plasminogen và fibrinogen tăng bình thường trong 3 tháng giữa và tăng
mạnh trong 3 tháng cuối thai kỳ. Những biến đổi này do tình trạng đông máu nội
mạch khu trú mức nhau thai. Các sản phẩm thoái giáng của fibrin huyết tương
cũng tăng lên trong suốt quá trình mang thai. Đặc biệt D-Dimer tăng cao ở tháng
thứ 9 thai kỳ. Tuy vậy, tình trạng đông máu nội mạch khu trú không làm giảm
các YTĐM, do đó nó được bù trừ bởi sự tăng tổng hợp và hoạt tính các YTĐM
với tốc độ tổng hợp cao vượt quá quá trình tiêu thụ [7], [10], [17].
Quá trình tiêu sợi huyết giảm biểu hiện rằng chất ức chế hoạt hóa
plasminogen 1 (PAI-1) tăng mạnh có thể gấp 3 lần bình thường, nồng độ của nó
ở tuần thai 35 tăng gấp 5 lần so với tuần thai 12 . Chất ức chế hoạt hóa
plasminogen 2 (PAI-2) tăng 25 lần vào đầu thai kỳ. Nồng độ PAI-2 trong huyết
tương tỷ lệ thuận với tuổi thai và cân nặng thai. Chất hoạt hóa plasminogen ở mô
(t-PA) giảm do sự tăng của PAI-1 và PAI-2 [10].
1.2. Một số thay đổi khác ở phụ nữ mang thai
1.2.1. Thay đổi về sinh lý
Khi có thai cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn về giải phẫu, tâm
lý, sinh lý, sinh hóa. Những thay đổi của người phụ nữ xuất hiện rất sớm sau khi
4
thụ tinh và trong thời kỳ thai nghén. Tới cuối thời kỳ thai nghén, những thay đổi
của người phụ nữ sẽ phù hợp và đáp ứng tốt với kích thích sinh lý chuyển dạ và

sợi cơ mới, tăng sinh mạch máu và tăng giữ nước ở cơ tử cung. Những biến đổi
này xuất phát chủ yếu từ tăng hormone Estrogen, Progesterone và phát triển của
thai.
Niêm mạc âm đạo và âm hộ có máu tím, do tăng sinh mạch máu và ứ máu;
thành âm đạo dày lên, tổ chức liên kết lỏng lẻo, các cơ trơn phì đại làm cho âm
đạo dài ra và dễ giãn rộng.
- Buồng trứng và vòi trứng: buồng trứng xung huyết, phù, to và nặng lên.
Từ tháng thứ 4 của thai nghén hoàng thể bắt đầu teo đi và thoái hóa [3].
c. Ngoài bộ phận sinh dục
- Hệ tuần hoàn:
+ Máu: trong khi có thai, khối lượng máu tăng lên khoảng 50%. Bình
thường, người phụ nữ ngoài thời kỳ thai nghén có khoảng 4 lít máu thì khi mang
thai có thể tăng lên tới 6 lít. Khối lượng máu tăng nhanh trong 3 tháng giữa và
cao nhất ở tháng thứ 7 của thai nghén. Sau đó hằng định ở những tuần lễ cuối,
sau đẻ khối lượng máu giảm nhanh và trở về bình thường [1].
+ Tim: nhịp tim bình thường tăng từ 10 – 15 nhịp/phút, tăng 25 – 30
nhịp/phút trong trường hợp đa thai.
Cung lượng tim tăng lên 50% khi có thai. Bắt đầu tăng từ khi có thai và
tăng cực đại vào tháng thứ 7, rồi giảm dần tới khi thai đủ tháng. Trong chuyển
dạ giai đoạn I, cung lượng tim tăng lên vừa phải. Giai đoạn II, thời kì rặn đẻ,
cung lượng tim tăng lên cao nhất. Sau đẻ thì giảm nhanh xuống.
+ Mạch máu: các mạch máu mềm, dài, to ra, dễ giãn vì vậy huyết áp động
mạch không tăng. Trong 3 tháng giữa và giai đoạn đầu của 3 tháng cuối thường
huyết áp hơi giảm, sau đó tăng lên.
6
- Tiết niệu: khi có thai kích thước của thận hơi tăng lên. Từ 3 tháng giữa
của thai kỳ tốc độ lọc máu ở cầu thận tăng lên 50%. Cũng do tăng tốc độ lọc
máu của cầu thận làm cho một thay đổi bất thường xảy ra khi có thai, đó là do sự
mất đi các chất dinh dưỡng ra nước tiểu. Nồng độ urê và creatinin trong huyết
thanh của thai phụ cũng giảm so với bình thường.

(6,4%), các nguyên nhân khác (2,7%) [4].
8
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 2700 phụ nữ mang thai được khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ
tháng 5 năm 2011 đến tháng 11 năm 2012 đủ tiêu chuẩn nghiên cứu gồm: 900
phụ nữ mang thai 3 tháng đầu (phụ nữ có thai từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 13).
900 phụ nữ mang thai 3 tháng giữa (phụ nữ có thai từ tuần thứ 14 đến tuần thứ
28). 900 phụ nữ mang thai 3 tháng cuối (phụ nữ có thai từ tuần thứ 29 trở đi).
Trong đó 201 thai phụ được theo dõi dọc đến khi sinh gồm 101 thai phụ có đông
máu vòng đầu (ĐMVĐ) bình thường và 100 thai phụ có ĐMVĐ bất thường.
Loại trừ khỏi nghiên cứu các thai phụ có các bệnh lý liên quan đến rối loạn
đông cầm máu bẩm sinh, những thai phụ đang điều trị các thuốc chống đông,
thuốc chống ngưng tập tiểu cầu và một số thuốc khác có ảnh hưởng đến quá
trình đông cầm máu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu, phân tích có đối chứng. Mỗi thai
phụ có một phiếu nghiên cứu theo mẫu thống nhất.
2.2.2. Phương tiện và vật liệu nghiên cứu.
- Lấy mẫu máu xét nghiệm: máu tĩnh mạch 1,0 ml máu chống đông bằng
1mg EDTA để đếm số lượng tiểu cầu và 6 ml máu chống đông bằng natri citrate
3,8% với tỷ lệ 1/10, tiến hành các xét nghiệm đông máu.
- Thực hiện phân tích xét nghiệm:
+ Các xét nghiệm đông máu được thực hiện trên máy phân tích đông máu tự
động CA-1500, hóa chất của hãng Sysmex (Nhật Bản) và ống xét nghiệm của
hãng Nihon Kohden- Nhật Bản.
9
+ Số lượng tiểu cầu: thực hiện trên máy phân tích tế bào tự động XT 4000i, hoá
chất của hãng Sysmex (Nhật Bản) và ống xét nghiệm của hãng Nihon Kohden-

2.2.5 Xử lý số liệu: Các số liệu trên được xử lý theo phương pháp thống
kê y học trên chương trình SPSS 16.0.
11
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ
3.1 Kết quả bất thường đông máu trong quá trình mang thai
Qua nghiên cứu 2700 thai phụ ở các thai kì, có độ tuổi trung bình là 27
tuổi chúng thấy có một số thay đổi vể xét nghiệm đông cầm máu đặc biệt ở thai
phụ trong quá trình mang thai quí 2 và quí 3. Đó là có hiện tượng giảm số lượng
tiểu cầu và tăng đông máu huyết tương, hiện tượng này có xu hướng tăng lên
theo tuổi thai: tuổi thai càng lớn thì PT% và nồng độ fibrinogen càng tăng, rAPTT
rút ngắn và SLTC giảm. Thời kì đầu mang thai có tỉ lệ đáng kể thai phụ giảm hoạt
tính các yếu tố V, VIII, XI. Tuổi thai càng lớn thì hoạt tính yếu tố đông máu VIII,
IX, XI, XII, VII, X càng tăng. Hoạt tính chất kháng đông sinh lý AT III, PS, PC
có xu hướng giảm trong suốt thời kỳ mang thai, trong đó PS giảm mạnh nhất, cụ
thể như sau:
3.1.1 Kết quả về tiểu cầu
- Thai phụ 3 tháng đầu: Số lượng tiểu cầu trung bình là 216,56 G/l, giảm so
với phụ nữ cùng tuổi, không mang thai; có 6,7% thai phụ có số lượng tiểu cầu
giảm dưới 150 G/l.
- Thai phụ 3 tháng giữa: Số lượng tiểu cầu trung bình là 215,71 G/l, giảm so
với phụ nữ cùng tuổi, không mang thai; có 5,9% thai phụ có số lượng tiểu cầu
giảm dưới 150 G/l. Có 0,1% thai phụ có số lượng tiểu cầu tăng trên 450 G/l.
- Thai phụ 3 tháng cuối: Số lượng tiểu cầu trung bình là 213,69 G/l, giảm so
với phụ nữ cùng tuổi, không mang thai; có 11,4% thai phụ có số lượng tiểu cầu
giảm dưới 150 G/l.
- Mức độ giảm tiểu cầu chủ yếu là giảm tiểu cầu nhẹ (97,7%), giảm trung bình
1,84%, giảm nặng chỉ chiếm 1%.
12
3.1.2 Kết quả về đông máu cơ bản
Ở thai phụ 3 tháng đầu: PT%, rAPTT tương ứng là: 101,39%, 0,97, không

- Hoạt tính các yếu tố đông máu nội sinh VIII, IX, XI, XII là 123,75%;
108,64%; 87,36%; 121,93%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố VIII và XII tăng
lần lượt là 27,5% và 17,6%.
3.1.4 Kết quả về yếu tố kháng đông sinh lý
- Ở thai phụ 3 tháng đầu: Hoạt tính yếu tố KĐSL ATIII, PS, PC là: 91,09%;
43,07%; 84,52%, trong đó tỉ lệ thai phụ giảm hoạt tính các yếu tố này lần lượt là
17,58%; 87,91%; 18,68%.
- Ở thai phụ 3 tháng giữa: Hoạt tính yếu tố kháng đông sinh lý ATIII, PS,
PC là: 89,21%; 55,82%; 91,5%, trong đó tỉ lệ thai phụ giảm hoạt tính các yếu tố
này lần lượt là 26,25%; 68,75%; 11,25%.
- Ở thai phụ 3 tháng cuối: Hoạt tính yếu tố KĐSL ATIII, PS, PC là:
98,92%; 46,38%; 101,46%, trong đó tỉ lệ thai phụ giảm hoạt tính các yếu tố này
lần lượt là 13,73%; 82,35%; 3,92%.
3.2. Mối liên quan giữa bất thường đông máu vòng đầu với biến chứng
chảy máu trước và trong khi sinh
Trong 2700 sản phụ được tham gia vào nghiên cứu chúng tôi chọn ngẫu
nhiên 201 thai phụ, trong đó 100 thai phụ có kết quả xét nghiệm ĐMVĐ bất
thường và 101 thai phụ có kết quả xét nghiệm ĐMVĐ bình thường được theo
dõi dọc cho tới khi sinh. Kết quả được thể hiện như sau:
14
Tuổi trung bình 27,08±4,58 tuổi, tuổi cao nhất là 20 tuổi và tuổi thấp nhất
là 42 tuổi. Nhóm tuổi được theo dõi dọc cũng tương đồng với nhóm tuổi trung
bình từ 2700 thai phụ được nghiên cứu.
3.2.1 Đặc điểm xuất huyết trước khi sinh
Xuất huyết trước khi sinh có 4/201 thai phụ (chiếm 1,99%) biểu hiện xuất
huyết dưới da. Tỉ lệ xuất huyết ở nhóm thai phụ có kết quả xét nghiệm đông
máu vòng đầu bất thường là 3%, cao hơn so với nhóm thai phụ có ĐMVĐ bình
thường (0,99%). Tìm hiểu yếu tố nguy cơ xuất huyết thì nguy cơ XHDD ở
những thai phụ có bất thường bộ xét nghiệm đông máu vòng đầu cao gấp 2,04
lần so với nhóm thai phụ có xét nghiệm đông máu vòng đầu bình thường, tuy

prothrombin cao nhất ở quí 3 của thai kỳ. APTT(s) có xu hướng ngắn lại dần
trong suốt thai kỳ và ngắn nhất ở nhóm quí 3 của thai kỳ, cùng với chỉ số này là
tỷ lệ APTT bệnh/APTT chứng có xu nhỏ dần từ quí 1 đến quí 3 của thai kỳ trong
đó tỷ lệ APTT bệnh/APTT chứng rút ngắn nhất ở quí 3 của thai kỳ. Lượng
fibrinogen có xu hướng tăng dần trong suốt thai kỳ và tăng cao nhất ở nhóm quí
3 của thai kỳ.
16
Các xét nghiệm đông máu cơ bản là những xét nghiệm vòng đầu theo dõi
hoạt đông đông máu trong cơ thể trong đó PT % thể hiện hoạt động của đông
máu ngoại sinh, APTT thể hiện đông máu nội sinh, nồng độ fibrinogen thể hiện
đông máu ở con đường chung. Kết quả nghiên cứu 2700 thai phụ chúng tôi thấy
có sự thay đổi theo hướng tăng hoạt tính đông máu ở các đường đông máu này,
thể hiện rõ nhất ở thai phụ mang thai 3 tháng giữa và 3 tháng cuối. Vì vậy khi
mang thai nên theo dõi các xét nghiệm PT, APTT và nồng độ fibrinogen ngay từ
khi mang thai 3 tháng giữa để kịp thời phát hiện những bất thường đông máu.
Từ đó biết được các xu hướng đông máu ở thai phụ, kịp thời làm thêm các xét
nghiệm chuyên sâu để chẩn đoán và điều trị đúng các bất thường đông máu.
4.1.3 Kết quả hoạt tính một số yếu tố đông máu:
Kết quả nghiên cứu hoạt tính các yếu tố đông máu ngoại sinh cho thấy
hoạt tính yếu tố II, V giảm ở các quí mang thai, trong đó yếu tố II thấp nhất ở
quí mang thai thứ 3 còn yếu tố V thấp nhất ở quí mang thai thứ 2. Hoạt tính yếu
tố VII bình thường ở quí 1, tăng ở quý 2 và quí 3 trong đó tăng nhiều nhất ở quí
3 của thai kỳ. Hoạt tính yếu tố X tăng dần từ quí 1 đến quí 2 và quí 3 trong đó
tăng nhiều nhất ở quí 3 của thai kỳ.
Kết quả nghiên cứu hoạt tính các yếu tố đông máu nội sinh cho thấy hoạt
tính yếu tố VIII giảm ở quí 1, bình thường ở quý 2 và tăng ở quí 3 của thai kỳ.
Hoạt tính yếu tố IX tăng dần từ quí 1 đến quí 2 và quí 3 trong đó tăng nhiều nhất
ở quí 3 của thai kỳ. Hoạt tính yếu tố XI giảm ở quí 1 và quí 2, bình thường ở quí
3 của thai kỳ. Hoạt tính yếu tố XII giảm ở quí 1, tăng ở quí 2 và quí 3 trong đó
cao nhất ở quí 3 của thai kỳ.

Kết quả nghiên cứu ở 201 thai phụ, trong đó 100 thai phụ có kết quả
18
xét nghiệm ĐMVĐ bất thường và 101 thai phụ có kết quả xét nghiệm
ĐMVĐ bình thường được theo dõi dọc cho tới khi sinh cho thấy tuổi trung
bình 27,08 tuổi, tuổi cao nhất là 20 tuổi và tuổi thấp nhất là 42 tuổi. Nhóm
tuổi được theo dõi dọc cũng tương đồng với nhóm tuổi trung bình từ 2700
thai phụ được nghiên cứu.
Tỉ lệ xuất huyết trong quá trình mang thai là 1,99%. Trong đó, nhóm thai
phụ có bất thường ĐMVĐ thì tỉ lệ thai phụ có biểu hiện xuất huyết khi mang
thai cao hơn so với nhóm thai phụ bình thường ĐMVĐ (3% so với 0,99%). Biểu
hiện xuất huyết sau sinh gặp ở nhóm thai phụ có bất thường ĐMVĐ là 2%.
Các biến chứng hay tai biến sản khoa của thai phụ trong quá trình mang
thai, khi sinh và sau sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, khó có thể phân tích rạch
ròi. Qua nghiên cứu này chúng tôi cố gắng tìm hiểu một số yếu tố liên quan giữa
bất thường đông máu vòng đầu với một số biến chứng sản khoa trong quá trình
mang thai và khi sinh. Biểu hiện chảy máu trước sinh và sau sinh phụ thuộc vào
nhiều yếu tố. Kết quả ở nghiên cứu này mới là hiện tượng, một khía cạnh của
nguyên nhân chảy máu đó là gặp tỉ lệ biểu hiện chảy máu cao hơn và yếu tố
nguy cơ cao hơn ở nhóm thai phụ có xét nghiệm đông máu vòng đầu bất thường
so với bình thường. Vì vậy, cần phải có nghiên cứu sâu hơn ở nhiều khía cạnh
khác nhau về vấn đề này để xác định vấn đề.
19
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu 2700 thai phụ và theo dõi 100 thai phụ có xét nghiệm
đông máu vòng đầu bất thường và 101 thai phụ có xét nghiệm đông máu vòng
đầu bình thường cho thấy:
1. Có một số thay đổi vể đông cầm máu ở thai phụ trong quá trình mang
thai, đặc biệt quí 2 và quí 3 thai kì. Đó là tuổi thai càng lớn thì PT% và
nồng độ fibrinogen càng tăng, rAPTT rút ngắn và SLTC giảm. Thời kì đầu
mang thai có tỉ lệ đáng kể thai phụ giảm hoạt tính các yếu tố V, VIII, XI.

6. Nguyễn Ngọc Minh (2007), “ Thay đổi sinh lý về các chỉ số cầm máu-
đông máu”, Bài giảng huyết học- truyền máu sau đại học, Nhà xuất bản
y học Hà nội.
7. Nguyễn Thị Nữ (2006), "Tăng đông và huyết khối", Bài giảng huyết
học- truyền máu sau đại học, Nhà xuất bản y học Hà nội tr. 262- 269.
8. Đỗ Trung Phấn (2004), "Một số chỉ số huyết học người Việt Nam bình
thường giai đoạn 1995-2000", Bài giảng Huyết học- truyền máu, Nhà
xuất bản y học Hà Nội tr. 332-338.
9. Ngô Văn Tài ( 2001), “ Nghiên cứu một số yếu tố tiên lượng trong
nhiễm độc thai nghén”, Luận văn tiến sỹ y học.
10. Nguyễn Anh Trí và cộng sự (2004), "Một số chuyên đề Huyết học-
truyền máu", Nhà xuất bản Y học tr. 263.
TIẾNG ANH
11. Boehlen F (2006), "Thrombocytopenia during pregnancy: importance,
diagnosis and management", Haemostaseologie.
12. D.B. Nelson. R.B. Ness. J.A. Grisso. M. Cushman (2002), "Sex
hormones, hemostasis and early pregnancy loss", Arch Gynecol Obstet,
pp. 267- 277.
13. Federici L, Serraj K (2008), "Thrombocytopenia during pregnancy:
from etiologic diagnosis to therapeutic management", Presse Med;
37(9): 1299-307. Epub 2008 jul 14.
14. Federico Cerneca (1997), "Coagulation and fibrinolysis changes in
normal pregnancy", European Journal of Obstetrics and
Gynecology,volum 73, Issue 1, pp. 31- 36.
15. F.I. Buseri, Z.A. Jeremiah and F.G. Kalio (2008), "Influence of
pregnancy and gestation period on some coagulation parameters among
Nigerian antenatal woman", Research Journal of Medical sciences 2(6),
pp. 275- 281.
16. Kadir R., Chi C., Bolton - Maggs P. (2009), "Pregnancy and rare
bleeding disorders", Haemophilia Journal, 15, pp. 990-1005.

2.2. Phương pháp nghiên cứu 9
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 9
2.2.2. Phương tiện và vật liệu nghiên cứu. 9
2.2.3. Các thông số nghiên cứu 10
2.2.4 Qui trình nghiên cứu 10
2.2.5 Xử lý số liệu: Các số liệu trên được xử lý theo phương pháp thống
kê y học trên chương trình SPSS 16.0 11
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ 12
3.1 Kết quả bất thường đông máu trong quá trình mang thai 12
3.1.1 Kết quả về tiểu cầu 12
3.1.2 Kết quả về đông máu cơ bản 13
3.1.3 Kết quả về hoạt tính các yếu tố đông máu 13
3.2. Mối liên quan giữa bất thường đông máu vòng đầu với biến chứng
chảy máu trước và trong khi sinh 14
3.2.1 Đặc điểm xuất huyết trước khi sinh 15
3.2.2 Đặc điểm xuất huyết trong khi sinh 15
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 16
4.1 Bàn luận về kết quả bất thường đông máu trong quá trình mang thai. .16
4.1.1 Kết quả tiểu cầu 16
4.1.2 Kết quả đông máu cơ bản: 16
4.1.3 Kết quả hoạt tính một số yếu tố đông máu: 17
4.1.4 Kết quả hoạt tính các yếu tố kháng đông sinh lý: 18
4.2. Bàn luận về một số liên quan giữa bất thường xét nghiệm đông máu
vòng đầu với biến chứng chảy máu trước và sau sinh 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status