ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ THÙY LINH Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THẢM THỰC VẬT ĐẾN
TÍNH CHẤT HÓA HỌC CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẤT XÃ KÝ PHÚ
HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn: T.S Hoàng Văn Hùng
Khoa Môi trường - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
B : Thân bụi
G : Thân gỗ
L : Thân leo
NN : Nông nghiệp
NXB : Nhà xuất bản
OTC : Ô tiêu chuẩn
PTNT : Phát triển Nông thôn
T : Thân thảo
TĐT : Tuyến điều tra
UBND : Ủy ban nhân dân
KVNC : Khu vực nghiên cứu
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới 8
- Sự thay đổi chỉ tiêu hóa tính của đất rừng (Phân tích sự thay đổi mùn và
NPK Độ chua và Ca2+, Mg2+ trao đổi…). 23
Bảng 3.1. Ký hiệu độ nhiều của thực bì theo chuẩn của Drude 25
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất xã Ký Phú huyện Đại Từ năm 2011 28
Bảng 4.2. Phân tích đánh giá số dân gia tăng giai đoạn 2005-2011 30
1.2. Mục tiêu của đề tài 3
1.2.1. Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
+ Nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác sau này. 3
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và Việt Nam 4
2.1.1. Những nghiên cứu về thảm thực vật 4
2.1.2. Những nghiên cứu về hệ thực vật 7
2.2. Những nghiên cứu về thành phần loài và dạng sống thực vật, cấu trúc 8
2.2.1. Những nghiên cứu về thành phần loài 8
2.2.2. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 11
3.2.2. Hiện trạng thảm thực vật - Cấu trúc thảm thực vật KVNC 23
3.2.3. Phân loại thảm thực vật và xác định cấu trúc của thảm thực vật tại khu
vực nghiên cứu 23
3.2.4. Đặc điểm của đất qua các giai đoạn phục hồi rừng 23
3.2.5. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ tài nguyên rừng và
bảo vệ môi trường. 23
3.3. Phương pháp nghiên cứu 23
3.3.1. Phương pháp luận 23
3.3.2 Phương pháp phân chia giai đoạn phục hồi 24
3.3.3. Điều tra thu thập số liệu 24
3.3.4. Phương pháp phân tích 26
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội của vùng nghiên cứu 27
4.1.1. Vị trí địa lý và ranh giới hành chính 27
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
4.2. Hiện trạng thảm thực vật - Cấu trúc thảm thực vật KVNC 38
1.1. Tính cấp thiết của vấn đề
Rừng - lá phổi của hành tinh, rừng không chỉ là nơi cung cấp nhiều loại
lâm sản quý và là nguồn nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp (Trần
Ngũ Phương, 1970)[28]. Vai trò quan trọng nhất của rừng đối với trái đất với
đời sống con người là vai trò điều hòa khí hậu. Rừng có ảnh hưởng đến sự
bốc hơi nước ở môi trường xung quanh và giữ cân bằng nồng độ oxi trong khí
quyển. Rừng không chỉ cung cấp oxi mà còn có tác dụng lọc không khí, làm
cho không khí trong lành. Rừng hấp thụ một lượng lớn khí CO
2
trong khí
quyển, làm giảm các tác nhân gây ra hiệu ứng nhà kính (Thái Văn Trừng,
1998)[31].
Ngoài ra, rừng có vai trò quan trọng trong việc hạn chế xói mòn đất,
nhất là xói mòn trên sườn đất dốc (Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên,
1999)[34]. Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, tuy nhiên
rừng lại đang bị khai thác một cách quá mức vì các lợi ích kinh tế. Vì cái lợi
ích trước mắt, con người chúng ta sẵn sàng hủy hoại môi trường sống của
mình (Nguyễn Ngọc Bình, 1996)[6].
Đất là một trong những tài nguyên vô cùng quý giá của con người, điều
kiện sống cho động vật, thực vật và con người trên trái đất.Đất là thành phần
quan trọng của hệ sinh thái và là một trong những yếu tố hình thành quần thể
rừng, đất có quá trình phát sinh và phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó có khí hậu, đá mẹ, thực vật, tuổi địa chất và hoạt động của con người (
Giacop.A ,1956 )[15]. Đất và quần thể rừng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ
vì đất vừa là yếu tố hình thành rừng, có vai trò quan trọng trong quá trình sinh
trưởng của rừng, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp của thảm thực vật tạo nên độ
phì đất rừng, độ phì đó chính là nhân tố tổng hợp được quy định bởi nhiều
yếu tố như: Thành phần cơ giới, cấu tượng đất, độ ẩm, độ thoáng khí, độ dày
tầng đất, đặc điểm hóa tính. Do đó độ phì ảnh hưởng đến nhiều mặt của hệ
sinh thái rừng nói riêng cũng như thảm thực vật nói chung. Đất càng tốt độ
kinh tế
cũng thay đổi theo. Chính vì vậy Đảng và nhà nước ta đã hết sức chú trọng tới
vấn đề bảo vệ, phục hồi lại rừng nói riêng và thảm thực vật nói chung (Lê
Ngọc Công, 2004
)[11]
.
Xã Ký Phú, huyện Đại Từ là một xã có diện tích rừng lớn, cũng như
nhiều địa phương khác trong huyện thời gian qua nhiều diện tích rừng đã suy
giảm. Nhiều diện tích rừng vẫn đang bị khai thác quá mức làm ảnh hưởng tới
môi trường. Xuất phát từ những lý do trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu
Nhà trường, sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường, Trường Đại
học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS.
Hoàng Văn Hùng, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của thảm thực vật đến tính chất hóa học của môi trường đất xã Ký Phú,
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
3
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá được ảnh hưởng của thảm thực vật đến môi trường đất xã
Ký Phú, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân loại thảm thực vật, xác định các giai đoạn phát triển của thảm
thực vật, cấu trúc hình thái các kiểu thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu.
- Xác định được những tính chất hóa học của đất dưới các kiểu thảm
thực vật nghiên cứu.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng phục hồi rừng,
tăng độ che phủ, góp phần vào việc vừa có tác dụng bảo vệ môi trường nói
chung và môi trường đất nói riêng, vừa tạo ra giá trị kinh tế.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
2.1.1.2. Những nghiên cứu thảm thực vật trên thế giới
Trên thế giới, những công trình nghiên cứu về thảm thực vật đã được
công bố nhiều, trong đó tiêu biểu là các tác giả sau đây:
Theo Thái Văn Trừng (1998)
[31]
, hệ thống phân loại đầu tiên về thảm
thực vật rừng nhiệt đới là của A.F.Schimper (1898), ông đã chia thảm thực vật
thành 3 quần hệ: quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi.
H.G.Champion (1936) Khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ- Miến
Điện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á
nhiệt đới, ôn đới, núi cao
(Lê Trần Chấn, 1990)[8].
J.Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hệ, quần
hợp, loạt quần hợp). Ông cho răng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần
hệ rừng xanh từng mùa, loạt quần hệ khô từng xanh, loạt quần hệ miền núi,
loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quang năm
(Lê Trần Chấn,
1990)[8].
5
Maurand (1943) Nghiên cứu thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm
thực vật Đông Dương thành 3 vùng:Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và
vùng trung gian đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó.
Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của các hệ thống phân loại thảm thực
vật nói trên là không thấy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố sinh thái
với thảm thực vật, hoặc là không làm nổi bật mối quan hệ qua lại giữa các
nhân tố sinh thái với nhau
(Hoàng Chung, 2005)[9].
Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật
thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ). Bảng
phân loại này của ông từ bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân
loại của UNESCO (1973).
Nghiên cứu một số đặc trưng chủ yếu về sinh thái của các quần thể thực
vật tại vùng núi cao Ba Vì đã chia ra 3 kiểu rừng cơ bản: kiểu rừng hỗn giao
ẩm á nhiệt đới; kiểu rừng kín hỗn giao ẩm á nhiệt đới núi cao; kiểu rừng kín
hỗn giao cây hạt kín và hạt trần.
Vũ Tự Lập (1995)[23] cho rằng khí hậu ảnh hưởng đến sự hình thành
và phân bố các kiểu thực bì thông qua nhiệt độ và độ ẩm. Dựa vào mối quan
hệ giữa hình thái thực bì và khí hậu chia ra 15 kiểu thực bì khác nhau: kiểu
rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá; kiểu rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh;
kiểu rừng rậm nhiệt đới gió mùa nửa rụng lá; kiểu rừng khô nhiệt đới gió mùa
khô rụng lá; kiểu rừng thưa nhiệt đới khô lá kim; kiểu sa van nhiệt đới khô;
kiểu truông nhiệt đới khô; kiểu rừng nhiệt đới trên đất đá vôi; kiểu rừng nhiệt
đới trên đất mặn; kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn; kiểu rừng rậm á nhiệt đới
ẩm lá rộng thường xanh; kiểu rừng rậm á nhiệt đới ẩm hỗn giao; kiểu rừng
thưa á nhiệt đới hơi ẩm lá kín; kiểu rừng rêu á nhiệt đới mưa mùa; kiểu rừng
lùn đỉnh cao
.
Nguyễn Thế Hưng (2003)[17] cũng dựa trên nguyên tắc phân loại
UNESCO (1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau đặc
trưng cho loại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả, tỉnh
Quảng Ninh.
Năm 2004, Lê Ngọc Công cũng dựa theo khung phân loại của
UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4
lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ. Ở đây, những
trạng thái thứ sinh (được hình thành do tác động của con người như: Khai
thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: Trảng cỏ; trảng cây
bụi và rừng thưa
thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài.
Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài;
Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan:
4.500 loài
[17],
[34].
Lecointre và Guyader (2001) đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật
bậc cao được mô tả trên toàn thế giới được trình bày ở bảng 1.1.
Qua số liệu ở bảng 1.1 có thể thấy thực vật ngành Ngọc Lan có số loài
được mô tả nhiều nhất trên thế giới.
8
Bảng 2.1. Bảng đánh giá số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới
Bậc phân loại Tên thường gọi
Số lo
ài
mô tả
% số loài đ
ã
được mô tả
Bậc phân loại
Fungi Nấm 100.800 5, 80 Fungi
Bryophyta Ngành Rêu 15.000 0, 90 Bryophyta
Lycopodiophyta Ngành Thông đất 1.275 0, 07 Lycopodiophyta
Polypodiophyta Ngành Dương xỉ 9.500 0, 50 Polypodiophyta
Pinophyta Ngành Thông 601 0, 03 Pinophyta
Magnoliophyta Ngành Ngọc lan 233.885 13, 40 Magnoliophyta
* Ở Việt Nam
ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định:chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài
ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời
gian bỏ hoá.
Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh
thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi
nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài, bỏ hoá 19 năm thì
có 60 họ, 134 chi và 167 loài [16].
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc
Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ.
Nguyễn Đăng Khôi (1971) đã bổ sung thêm 26 loài không được
F.Gagnepain ghi nhận ở Miền bắc Việt Nam trong “Thực vật chí đại cương
Đông Dương” [4].
Nguyễn Đăng Khôi và Nguyễn Văn Phú (1975) đã thống kê 39 loài cây
bộ Đậu thân bò và thân leo làm thức ăn giàu protein cho gia súc Miền Bắc
Việt Nam.Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài
thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [3].
Phan Kế Lộc (1978) điều tra phát hiện 20 loài cây có tannin thuộc họ
Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc ở Việt Nam có tannin.
Hoàng Chung (1980) khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ.
Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt
Nam, Dương Hữu Thời (1981) đã công bố thành phần loài thuộc 5 vùng Bắc
Việt Nam gồm 213 loài [2].
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983 ) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây
Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn
Đông Dương [4].
10
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê
số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [16].
Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác
bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta
(họ Cà phê - Rubiaceae) ;chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae) ;
chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae). Nguyễn Nghĩa Thìn (1998)
khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi
nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và 1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524
chi, 378 họ [2].
Lê Trọng Cúc, Phạm Hồng Ban (2000) nghiên cứu sự biến động thành
phần loài thực vật sau nương rẫy ở huyện Con Cuông, Nghệ An nhận xét rằng: do
ảnh hưởng của canh tác nương rẫy nên thành phần loài và số lượng cây gỗ trên
một đơn vị diện tích có xu hướng giảm dần, đơn giản hoá để tái ổn định [4].
Lê Đồng Tấn (2000) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên
sau nương rẫy ở Sơn La đã kết luận:mật độ cây giảm khi độ dốc tăng, mật độ
cây giảm từ chân lên đỉnh đồi, mức độ thoái hoá đất ảnh hưởng đến mật độ,
số lượng loài cây và tổ thành loài cây.Kết quả cho thấy ở tuổi 4 có 41 loài;
tuổi 10 có 56 loài; tuổi 14 có 53 loài [2].
2.2.2. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực
vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.
I.K.Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm:thực vật
thườngXanh, thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm, thực vật tàn lụi
phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi, thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi,
thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn, thực vật có thời kỳ sinh
trưởng và phát triển lâu năm. G.N.Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên
làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm [16].
Braun - Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính
liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ, mọc thành vạt,
mọc thành dải nhỏ, mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn [1].
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất
là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên
bởi Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra. Với cây thảo, đặc
điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó
biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu
năm của cây. Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia
dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc
trưng của môi trường [11].
13
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: Doãn
Ngọc Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họ
Hoà thảo. Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình
đồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại
kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [10].
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi
phân chia dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [4].
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà
Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương
pháp của Raunkiaer. Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá
một số dạng sống (a: ký sinh; b. bì sinh; c. dây leo; d. cây chồi trên thân thảo).
Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản
mà chỉ coi đây là những dạng phụ [8].
Hoàng Chung (2008) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi
bắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây
bụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi,
kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống
lâu năm [9].
Phan Nguyên Hồng (1991) [24] khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật
rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây
bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
ký sinh (K), bì sinh (B).
quốc gia Yok Don đã lập được phổ dạng sống của thực vật Yok Don là:
SB = 71, 73Ph + 1, 41Ch + 7, 77He + 4, 59Cr + 6Th
Vũ Thị Liên (2005) [29] phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực
vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer. Kết
quả phổ dạng sống như sau:
SB = 69, 69Ph + 3, 76Ch + 9, 29He + 10, 84Cr + 6, 42Th
Dương Hữu Thời (1961) đã lập phổ dạng sống của các quần xã cỏ trên
bãi cát sông Hồng [2].
2.2.3 Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trọng hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn
phát triển nhất định của tự nhiên. Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự
thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với
môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau. Các nhân tố trong cấu trúc
15
rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu
trúc tuổi…
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng của nước ta có một số tác giả như:
đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu trúc rừng cần được quan tâm khi tiến
hành chặt tu bổ. Cấu trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt.Tầng
cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều
kiện khác cho cây rừng phát triển cân đối nhịp nhàng.Tầng trung bình bổ sung
độ tàn che tạo điều kiện sinh thái thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số
nguyên liệu.Tầng cây tái sinh mọc xen giữa thảm tươi cây bụi, dây leo là tiềm
lực của rừng tạo điều kiện tái sinh lâu dài.
Nguyễn Văn Trương (1982) đưa ra một số cấu trúc tiêu chuẩn cần được
đảm bảo điều chế rừng theo phương pháp chặt chọn.Ông cho rằng nếu áp
dụng chặt chọn như hiện nay thì không thể tạo lại vốn rừng như trước khi chặt
nên dùng thuật ngữ khai thác nuôi dưỡng rừng.
cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm
dựa vào các tiêu chuẩn cụ thể tuỳ từng tác giả. Tuy nhiên có thể nhận thấy
rằng, hầu hết các tác giả đều sử dụng cách phân chia dạng sống của Raunkiaer
trong những nghiên cứu của mình.Hệ thống phân chia của ông có ý nghĩa
quan trọng, đảm bảo tính khoa học và dễ áp dụng.Ông chỉ chọn một dấu hiệu
là vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
làm tiêu chuẩn để phân chia các kiểu dạng sống.Vì lẽ đó, trong nghiên cứu
của mình, tôi cũng chọn lựa cách phân chia dạng sống này của Raunkiaer.
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng còn tương đối ít, mỗi tác giả đều
đưa ra những tiêu chuẩn riêng để xây dựng một cấu trúc rừng thích hợp.Cấu
trúc thích hợp tức là mọi tầng cây đều phát triển tốt. Tuỳ từng giai đoạn mà
cấu trúc rừng có thể thay đổi, phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
2.3. Những nghiên cứu về ảnh hưởng qua lại giữa thực vật rừng và đất
2.3.1. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đất tới thảm thực vật trên thế
giới và Việt Nam
Đất là một hệ thống động trong đó dung dịch đất là môi trường của các
quá trình vật lý, hoá học và sinh học trong môi trường đất.Dung dịch đất tồn
tại ở trạng thái cân bằng động với các chất vô cơ, chất hữu cơ, vi sinh vật và
không khí đất.Đất được hình thành từ đá mẹ do sự biến đổi của nó theo thời
gian dưới tác động của thực vật, động vật, vi sinh vật trong các điều kiện khác
nhau của địa hình và khí hậu.Tính chất quan trọng của đất chính là độ phì của
17
đất vì độ phì có ảnh hưởng tới sự phân bố, sự sinh trưởng và phát triển của
cây rừng và hệ sinh thái rừng.
* Trên thế giới
Một số nhà nghiên cứu như Alêkhin (1904), Graxits (1927), Sennhicop
(1938) đã thống nhất và đưa ra kết luận từ rất sớm là mỗi vùng sinh thái xác
định sẽ hình thành một kiểu thảm thực vật đặc trưng khi các tác giả này
nghiên cứu trên loại hình đồng cỏ và thảo nguyên ở Liên Xô.
Hađi (1936), Baur (1946) và P. W Richards (1952), khi nghiên cứu hệ
tổ thành rừng. Đất phát triển trên loại đá mẹ nào thì sẽ có loại đất ấy tương
ứng phù hợp với thành phần khoáng của loại đá mẹ đó.
Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn (1995)
[27]
, khi nghiên cứu
quá trình tái sinh phục hồi thảm thực vật sau nương rẫy tại Sapa đã nhận định:
đất thoái hóa nhẹ thì quá trình diễn thế thứ sinh phục hồi thảm thực vật diễn ra
nhanh, nếu đất xấu (đất thoái hóa trung bình, nặng và rất nặng) thì quá trình
diễn ra ngược lại.
2.3.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật tới đất trên thế
giới và Việt Nam
Trong quá trình phát triển của thảm thực vật đã có những ảnh hưởng rất
lớn tới hệ sinh thái đất, thảm thực vật phát triển làm cho đất rừng giảm thoái
hóa, giảm xói mòn, tác động đến hệ sinh thái đất đất làm thay đổi tính chất lý,
hóa học, hệ vi sinh vật trong đất từ đó có tác dụng cải tạo đất.
*Trên thế giới.
Năm 1937, Monin đã đưa ra kết luận: Rừng mưa nhiệt đới, chất rơi
rụng hàng năm là 10 - 20 tấn/ha, rừng ôn đới là 5 - 7 tấn/ha, thảm cỏ và thảo
nguyên là 1 - 3 tấn/ha. Như vậy, mỗi kiểu thảm thực vật khác nhau thì lượng
vật chất rơi rụng trả lại cho đất cũng khác nhau.Trong đó kiểu rừng mưa nhiệt
đới có lượng vật chất cung cấp cho đất là lớn nhất [34].
Năm 1964, theo P.W.Richards đất rừng nhiệt đới càng thành thục thì
hàm lượng chất khoáng hòa tan càng giảm do quá trình rửa trôi và thảm thực
vật rừng nhiệt đới là nhân tố tích cực chống lại quá trình đó [35].
Năm 1979, Dokuchaev người sáng lập ra môn thổ nhưỡng học đã định
nghĩa đất (hay thổ nhưỡng) là một thể tự nhiên hình thành từ lớp trên của vỏ
trái đất dưới ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố: Khí hậu, đá mẹ, địa hình,
sinh vật và tuổi địa chất của từng địa phương [21]. Như vậy sinh vật nói
chung và thực vật nói riêng là một trong các yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới sự
hình thành của đất.