ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ MINH
Tên đề tài:
“
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT
CÁC XÃ, PHƯỜNG PHÍA ĐÔNG NAM VÀ TÂY NAM THÀNH PHỐ THÁI
NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2008 – 2013
”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: GS.TS. Nguyễn Thế Đặng
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Kí hiệu Ý nghĩa
1 BVMT Bảo vệ môi trường
2 CCN Cụm công nghiệp
3 CN Công nguyên
4 CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5 ĐH Đại học
6 ĐTM Đánh giá tác động môi trường
7 GDP Tốc độ tăng trưởng
8 KCN Khu công nghiệp
9 KHKT Khoa học kỹ thuật
10 KLN Kim loại nặng
11 KT - XH Kinh tế - xã hội
12 Nxb Nhà xuất bản
13 P Phường
14 PTĐT Phát triển đô thị
15 QCCP Quy chuẩn cho phép
16 QCVN Quy chuẩn Việt Nam
17 QH Quy hoạch
18 TP Thành phố
19 TN&MT Tài Nguyên và Môi Trường
20 UBND Ủy ban nhân dân
tới môi trường tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và thành phố Thái Nguyên nói
riêng. Trong thời kì đổi mới, nền kinh tế của thành phố phát triển khá nhanh, quá
trình phát triển đô thị được đẩy mạnh, đặc biệt Thành phố Thái Nguyên trở thành
2
đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên. Tuy nhiên môi trường tự nhiên đang bị ô
nhiễm đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đối với thành phố và chất lượng cuộc sống
của dân cư.
Để đảm bảo cho Thành phố Thái Nguyên được mở rộng hơn về quy mô
không gian, dân số, cơ sở kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng xã hội đạt được sự phát triển
bền vững, cần thiết phải nghiên cứu tác động đến môi trường của quá trình phát
triển đô thị ở thành phố Thái Nguyên. Điều kiện tối ưu quá trình phát triển đô thị
nhằm giữ vững cân bằng và nâng cao chất lượng môi trường sống, bảo đảm sự phát
triển bền vững là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách trong chiến lược phát triển
của TP.Thái Nguyên. Cho đến nay chưa có một nghiên cứu hệ thống về tác động
của quá trình phát triển đô thị đến môi trường đất ở thành phố Thái Nguyên.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà
khoa học đi trước trong lĩnh vực môi trường đô thị, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường
phía Đông Nam và Tây Nam thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2008 – 2013”
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Phân tích, đánh giá những tác động của quá trình phát triển đô thị đến môi
trường đất các xã, phường phía Đông Nam và Tây Nam thành phố Thái Nguyên,
làm căn cứ để đề xuất các giải pháp phát triển đô thị, bảo vệ môi trường đất ở thành
phố Thái Nguyên.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động đến môi trường
của quá trình phát triển đô thị.
- Phân tích hiện trạng và những biến đổi của môi trường đất, ảnh hưởng của
Khái niệm đô thị
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt
động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. [5]
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và
làm việc theo kiểu thành thị. [7]
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông
nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành
có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong
tỉnh hoặc trong huyện (Thông tư 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên Bộ Xây dựng
và ban tổ chức cán bộ chính phủ).
Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay trung tâm tổng
hợp; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền, của
một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện.[2]
Khái niệm điểm dân cư đô thị
Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi
nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Mỗi nước có một quy định riêng về điểm dân cư đô thị.Việc xác định quy
mô tối thiểu của đô thị phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội của mỗi nước và tỷ
lệ phần trăm dân phi nông nghiệp của đô thị.[5]
Quy định về đô thị
Ở nước ta theo quy định của Chính phủ, các điểm dân cư được gọi là điểm
dân cư đô thị khi thỏa mãn 5 yêu cầu sau đây:
1. Là trung tâm vùng lãnh thổ hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc
đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định.
2. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn).
5
3. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 65% trong tổng số lao
động, là nơi có sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển.
6
Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III,
loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận.
1. Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.
2. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội
thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là
thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
3. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội
thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị.
4. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
5. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây
dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn.
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân
số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy
định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so
với các loại đô thị tương đương.
Quản lý đô thị
Quản lý đô thị là các hoạt động nhằm huy động mọi nguồn lực vào công tác
quy hoạch, hoạch định các chương trình phát triển và duy trì các hoạt động đó để
đạt được các mục tiêu phát triển.
Quản lý đô thị là một môn khoa học tổng hợp được xây dựng trên cơ sở của
nhiều khoa học chuyên ngành, bao gồm hệ thống chính sách, cơ chế, biện pháp và
phương tiện được chính quyền nhà nước các cấp sử dụng để tạo điều kiện quản lý
và kiểm soát quá trình tăng trưởng đô thị.
Quá trình hình thành và phát triển các đô thị đòi hỏi phải tăng cường vai trò
quản lý nhà nước đối với đô thị, bởi lẽ trong xã hội đô thị luôn xuất hiện các vấn đề
về nhu cầu ăn, ở, đi lại, làm việc, học tập, chăm sóc sức khỏe, nghỉ ngơi, vui chơi
giải trí, …
xuất, của nền văn hóa và phương thức tổ chức cuộc sống xã hội.
Quá trình đô thị hóa thực chất cũng là một quá trình phát triển kinh tế xã hội,
hơn nữa nó còn là quá trình phát triển văn hóa và không gian kiến trúc. Nó gắn liền
với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới. Quá
trình đô thị hóa có thể theo 2 xu hướng.
a) Đô thị hóa tập trung
Là toàn bộ công nghiệp và dịch vụ công cộng tập trung vào các thành phố
lớn, hình thành và phát triển các đô thị lớn, khác biệt nhiều với nông thôn.
8
b) Đô thị hóa phân tán
Là hình thái mạng lưới điểm dân cư có tầng bậc phát triển cân đối công
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ công cộng, bảo đảm cân bằng sinh thái, tạo điều
kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư đô thị và nông thôn. Hình
thành và phát triển mạng lưới đô thị vừa và nhỏ trên các vùng, có vai trò thúc đẩy
phát triển nông thôn, giảm khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn.
Quá trình đô thị hóa có thể được chia thành 3 thời kỳ:
1) Thời kỳ tiền công nghiệp (trước thế kỷ XVIII)
- Đô thị hóa phát triển mang đặc trưng của nền văn minh nông nghiệp.
- Các đô thị phân tán, quy mô nhỏ phát triển theo dạng tập trung, cơ cấu đơn
giản. Tính chất đô thị chủ yếu là hành chính, thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
- Đô thị thời kỳ này phát triển chậm, bố cục thành phố lộn xộn, phát triển tự
phát, thiếu quy hoạch, môi trường đô thị không hợp lý.
2 ) Thời kỳ công nghiệp (đến nửa thế kỷ XX)
Cuộc cách mạng công nghiệp làm cho nền văn minh đô thị phát triển nhanh
chóng. Sự tập trung sản xuất và dân cư tạo nên những đô thị lớn và cực lớn, các xí
nghiệp công nghiệp phát triển mạnh, các khu nhà ở mọc lên rất nhanh bên cạnh các
khu vực sản xuất. Cơ cấu đô thị phức tạp hơn, thành phố mang nhiều chức năng khác
nhau như: thủ đô, thành phố cảng, thành phố công nghiệp, thành phố du lịch, …
Đặc trưng của thời kỳ này là sự phát triển thiếu kiểm soát của các thành phố.
Môi trường đô thị bao gồm môi trường thiên nhiên bên ngoài bao quanh đô
thị (nước, không khí, đất, động thực vật, …) tất cả những gì tạo nên cấu trúc vật thể
đô thị, bắt đầu từ khoảng không gian bên trong đến khu đất rộng lớn khu dân cư,
khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí, … của đô thị. Ngoài ra, môi trường đô thị
còn bao gồm cả những yếu tố nhân văn đa dạng phát sinh do hoạt động của con
người như tiếng ồn, điện từ trường, rung động, … Môi trường đô thị được tổ chức
và phát triển theo hệ thống quy luật phức tạp gồm các phân hệ xã hội và phân hệ
các thành phần vật thể của đô thị. Giữa hai phức hệ này có mối liên hệ chặt chẽ tác
động lẫn nhau, trong đó phân hệ xã hội chính là môi trường xã hội, đặc trưng bởi
dân cư đô thị và mối quan hệ của nó như chế độ xã hội, dân số, phân bố dân cư lao
động, công ăn việc làm, thu nhập, văn hóa giáo dục, y tế, kinh tế, quan hệ xã hội và
tệ nạn xã hội.
Theo định nghĩa trên môi trường đô thị bao gồm môi trường tự nhiên trong
và xung quanh đô thị và môi trường nhân tạo trong đô thị, nó được tổ chức theo hệ
thống tầng bậc từ quy mô căn hộ gia đình đến quy mô lớn hơn trong cấu trúc đô thị
10
và có ảnh hưởng đến quy mô toàn cầu. Môi trường đô thị bao gồm các chức năng
hoạt động của thành phần: môi trường khu ở, môi trường khu công nghiệp; môi
trường giao thông đô thị; hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị (cấp thoát nước, rác thải,
cây xanh, …); khu ở người nghèo, …
Môi trường đô thị có ảnh hưởng quan trọng tới sự hoạt động, tồn tại và phát
triển của đô thị trong đó con người là hạt nhân trung tâm, vừa là đối tượng nghiên
cứu vừa là người nghiên cứu nhằm giải quyết hợp lý các mối quan hệ phức tạp đó.
Chính vì vậy mà ông phó chủ tịch phụ trách phát triển môi trường đô thị bền vững
của ngân hàng thế giới tại hội nghị ngân hàng thế giới lần thứ hai bàn về môi
trường đô thị đã khẳng định: “Chương trình nghị sự về môi trường đô thị là vấn đề
con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, cách sống của con người mà đặc biệt
là những người nghèo và con em họ, đồng thời nó cũng ảnh hưởng đến hiệu quả
việc, vui chơi giải trí, nghỉ ngơi và các hoạt động khác gây ra. Các hoạt động của
con người rất đa dạng và thường xuyên đã thải ra môi trường nhiều khí độc hại
nguy hiểm, điển hình là khí Cacbon oxyt (CO), Sunphur oxyt (SOx) mà chủ yếu là
SO2, nito oxyt (NOx) chủ yếu là NO và NO2, hidrocacbon (HC) và các loại bụi.
Ngoài 5 chất độc hại chính còn nhiều chất khác như hidro-clorua (HCl), Chì (Pb),
Thủy ngân (Hg), Hidro Sunphur (H2S), Ozon (O3), Amôniăc (NH3), Thuốc trừ sâu
bọ, khói bụi và các loại vi khuẩn gây bệnh, … ảnh hưởng đến sức khỏe của dân cư
đô thị.[3]
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng do hoạt động của con người
trong các đô thị đã tăng thêm ô nhiễm không khí, tăng khí thải Cacbonic và nhiều
chất khí độc hại khác vào khí quyển làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khí hậu toàn
cầu, phá hoại tầng ozon. Vì vậy, trong chiến lược bảo vệ toàn cầu được công bố
năm 1980 đã nhấn mạnh: “Bầu khí quyển đã bị tác động mạnh, đang đe dọa sự biến
đổi chế độ khí hậu”. Từ giữa thế kỷ XVIII đến nay các hoạt động của con người đã
làm tăng gấp đôi nồng độ khí metal, làm tăng 24% khí Cacbonic và tầng ozon đang
bị suy thoái nặng. Nếu cứ tiếp tục theo hướng gia tăng ô nhiễm không khí thì khí
hậu sẽ biến đổi, mưa sẽ thay đổi, mực nước biển dâng lên, nạn hạn hán bão lụt xảy
ra thường xuyên và ác liệt hơn, đặc biệt là sự tăng nhiệt độ của trái đất, mưa axit và
suy giảm tầng ozon.[8]
*) Nước trong đô thị
Nước là tài nguyên thiên nhiên, là nhân tố không thể thiếu được trong cuộc sống
hàng ngày do vậy nước được coi là tài nguyên đặc biệt. Trong đô thị nơi tập trung dân
cư đông đúc nước càng có ý nghĩa quan trọng không chỉ bởi khả năng cấp nước mà cả
về chất lượng nước (nước cấp, nước thải) để phục vụ cho con người.
12
- Về nguồn nước: Hiện nay tổng lượng nước trên trái đất là 1.500 triệu km3,
trong đó nước ngọt chiếm 20% nhưng chỉ một phần nhỏ lượng nước đó (0,003%)
đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sự sống trên hành tinh [Impact of].
và chất độc hại, dầu mỡ và các vi trùng gây bệnh). Các chất bẩn trong nước thải
được chia làm 2 nhóm: Nhóm các chất bẩn bền vững và không bền vững.
13
Các chất bẩn bền vững khó phân hủy sẽ tích tụ trong nước sông sau mỗi lần
xả nước thải, đồng thời tích tụ trong động vật bậc cao, gây nguy hại cho sức khỏe
của con người (nếu họ ăn phải các động vật đó). Nếu chất bền vững không tham gia
vào chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái thủy vực hoặc không lắng xuống bùn đất thì
khối lượng của nó tăng dần và bằng tổng số lượng trong nước sông ban đầu. Đối
với các chất bẩn không bền vững, nồng độ của chúng giảm dần theo chiều dài sông
và tăng đột ngột sau mỗi lần xả nước thải. Nước thải đô thị còn tác động đến hệ
sinh thái thủy vực nước ngọt tức là làm thay đổi chế độ ôxy trong đó. Quá trình này
tiêu thụ một lượng ôxy rất lớn nên lượng ôxy hòa tan trong sông hồ giảm đột ngột,
đồng thời với quá trình tiêu thụ oxy là sự hòa tan oxy từ khí quyển qua ranh giới
nước – khí. Sau một thời gian nhất định lượng oxy hòa tan trong nước tăng lên.
Khu vực có hàm lượng oxy hòa tan thấp nhất thường là nơi nguồn nước bị ô nhiễm
nặng nhất. Trong môi trường nước thải nhiều chất hữu cơ, các loại vi khuẩn luôn
tồn tại. Khi vào nguồn nước chúng có thể bị tiêu diệt hoặc tiếp tục phát triển do đã
thích nghi [Cải thiện điều kiện ở].
*) Đất trong đô thị
Con người và nhiều loại sinh vật tồn tại, phát triển trên và trong đất. Đất
cung cấp cho con người những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống (lương thực, thực
phẩm, …); Đất là nơi xây dựng các công trình, các đô thị, … Do đó đất là tài
nguyên quý giá của loài người. Sự hình thành đất là quá trình phức tạp do kết quả
hoạt động tổng hợp các yếu tố: động – thực vật, đá, khí hậu, địa hình, thời gian và
con người, trong đó tác động của con người là lớn nhất. Con người có thể làm cho
đất khô cằn, bị ô nhiễm hoặc ngược lại có thể làm cho đất ổn định và màu mỡ. Điều
đó tùy thuộc vào thái độ và hành vi của con người.
Trong quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế, con người đã chiếm dụng đất
đã phá hủy thảm thực vật (lớp hữu cơ trên cùng), phá hoại điều kiện cân bằng tự
nhiên của đất, thay đổi địa hình, cản trở dòng chảy,… gây hiện tượng sạt lở mái
dốc, làm suy yếu lớp đất nền và ảnh hưởng đến cảnh quan khu vực.
Đất đai trong đô thị trực tiếp sử dụng để bố trí các khu chức năng của đô thị
(sản xuất, sinh hoạt, nghỉ ngơi, hạ tầng kỹ thuật) do đó phải đảm bảo bảo điều kiện
vệ sinh để giữ an toàn sức khỏe cho dân cư đô thị, đồng thời phải sử dụng có hiệu
quả loại tài nguyên này, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp, để đảm bảo an toàn
lương thực quốc gia. Muốn sử dụng đất có hiệu quả phải đánh giá đất đai, đánh giá
khả năng, chất lượng đất. Bảo vệ đất chính là bảo vệ cuộc sống của con người.[5]
Môi trường nhân tạo trong đô thị
Môi trường nhân tạo trong đô thị là tất cả những gì con người tạo ra trong đồ
thị. Nó gồm các thành phần vật chất và phi vật chất.
15
- Các thành phần vật chất gồm các công trình xây dựng theo các chức năng
đô thị (như không gian sinh hoạt, sản xuất, nghỉ ngơi – giải trí, cơ sở hạ tầng kỹ
thuật) và không gian đặc biệt như di tích, danh lam thắng cảnh.
- Các thành phần phi vật chất bao gồm cách ứng xử, công ăn việc làm và ý
thức. Ngoài ra, nó bao gồm kết quả tư duy do hoạt động của con người đưa lại
những tư duy đó lại bị ảnh hưởng do tiếng ồn, rung động, từ trường, …[2]
Mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo
Hai môi trường này có mối quan hệ mật thiết và tương hỗ với nhau. Môi
trường tự nhiên là nền tảng không thể thiếu được cho sự sinh tồn của loài người.
Môi trường tự nhiên cung cấp tài nguyên thiên nhiên (năng lượng, vật chất: đất,
nước, không khí, …) để đảm bảo cho sự sống còn và phát triển của nhân loại ở tất
cả các giai đoạn của lịch sử. Để tồn tại và thỏa mãn các yêu cầu hoạt động phát
triển của mình con người phải luôn tác động vào thiên nhiên: khai thác thiên nhiên,
làm thay đổi môi trường thiên nhiên, …
Con người là một thực thể sinh vật nhưng con người hơn mọi vật khác là có
sống sau khi chết nên tập trung xây dựng các lăng mộ, điển hình là các Kim tự tháp.
Đô thị cổ Ai Cập ở hạ lưu sông Nin thường là hình chữ nhật, xây dựng vào
khoảng 3500 năm trước Công nguyên. [3]
*) Hy Lạp cổ đại
Là nơi tập trung nhiều kiến trúc quy hoạch cổ đại. Nhiều nhân vật nổi tiếng
đã tạo nên những giá trị đặc biệt cho quy hoạch và kiến trúc đô thị cổ Hy Lạp. Đặc
trưng của quy hoạch Hy Lạp cổ đại là thành phố bàn cờ của Hyppodamus (500 năm
trước Công nguyên).
Các nhân vật nổi tiếng trong kiến trúc quy hoạch Hy Lạp cổ đại: Plato, Aristotle,
…[3]
*) La Mã cổ đại
Đế quốc La Mã hình thành từ thế kỷ III trước Công nguyên và hưng thịnh
nhất vào khoảng thể kỷ II và thế kỷ nhất cho đến năm 30 trước Công nguyên.
Quy hoạch và kiến trúc La Mã cổ đại đã tiếp thu được những thành tựu của
nền văn hóa trước đó và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Hy Lạp.
Thành phố cổ La Mã phản ánh tính chất xã hội của chế độ cộng hòa đế quốc
La Mã với những đô thị mang tính phòng thủ.[3]
*) Văn minh Lưỡng Hà (4300 năm trước Công nguyên)
Thành phố lớn nhất là Babilon xây dựng vào khoảng năm 602 – 562 trước
công nguyên và trở thành một trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại mang nhiều truyền
thuyết. Nền văn minh Lưỡng Hà đã tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều thành
phố.[3]
17
*) Nền văn minh Trung Hoa
Ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, Mencius đã đề xuất hệ
thống quy hoạch sử dụng đất theo bố cục 9 ô vuông. Mỗi ô có một chức năng riêng,
mỗi cạnh dài khoảng 1000 bước.
Cách bố trí theo kiểu phân lô này cũng được ứng dụng cho Bắc Kinh về sau.
Thế kỷ XV, XVI nền văn hóa Phục Hưng phát triển mạnh kéo theo sự phát
triển của các đô thị ở châu Âu, đặc biệt là Ý, Pháp, …
Châu Á với chế độ phong kiến kéo dài ảnh hưởng đến tính chất các đô thị
phong kiến. Tiêu biểu là Trung Quốc, thành phố có quy mô lớn trở thành chỗ ở và
thể hiện uy quyền của các vua chúa phong kiến, là trung tâm chính trị văn hóa của
giai cấp thống trị. Các đô thị này thường được xây dựng theo kiểu thành quách.
Nói chung đô thị thời kỳ này phát triển chậm, bố cục thành phố lộn xộn,
phát triển tự phát, thiếu quy hoạch và môi trường đô thị không hợp lý. [3]
2.1.3.3. Thời kỳ cận đại
Giữa thế kỷ XVII, công nghiệp phát triển thu hút nguồn nhân lực lớn, các
khu nhà ở mọc lên nhanh chóng bên cạnh các khu vực sản xuất. Các nước công
nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, dân số đô thị tăng lên nhanh chóng.
Các thành phố phát triển và phân bố không đồng đều do ảnh hưởng của sự
phát triển kinh tế. Các thành phố lớn có số dân tập trung cao: New York với 5 triệu
người (1920), London gần 5 triệu người, Berlin trên 4 triệu người.
Đô thị phát triển ồ ạt dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tổ chức không gian đô
thị. Nhà ở đô thị nảy sinh nhiều vấn đề, đặc biệt là sự thiếu thốn các khu nhà ở cho
người lao động.
Môi trường đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng do sự phát triển của công
nghiệp và dân số, thiếu những khu cây xanh, công viên.
Công trình công nghiệp xây dựng lộn xộn. Mật độ xây dựng cao và các
công trình phát triển nhiều theo chiều cao.
Những vấn đề trên đã dẫn tới sự khủng hoảng của đô thị thời kỳ này, do đó
đòi hỏi cần phải có những cuộc cải tổ và những tư tưởng mới cho sự phát triển của
nghành quy hoạch đô thị hiện đại.
2.2. Định hướng nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, sự phát triển của đô thị lấy mất đất
nông nghiệp là tất yếu. Vậy, bài toán lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường được giải
quyết như thế nào khi một bên là đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế,chuyển dịch
quan trọng là:
1. Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội.
2. Luật đất đai 2003.
3. Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật khoáng sản số 46/2005/QH-11
được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2006.
4. Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều trong Luật bảo vệ môi trường.
20
5. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
6. Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ
về phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị.
7. Nghị định 117/2009/NĐ-CP Về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường.
8. Nghị định 29/2011/NĐ-CP Quy định về đánh giá môi trường chiến lược,
đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường.
9. Thông tư 26/2011/TT-BTNMT Quy định chi tiết một số điều của nghị định
số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của chính phủ quy định về đánh giá
môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường.
10. Thông tư số 10/2008/TT-BXD ngày 22 tháng 04 năm 2008 của Bộ Xây
dựng hướng dẫn về đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu
11. Quyết định số 328/2005 QĐ-TTg ngày 12/12/2005 của Thủ tướng Chính
phủ đến phê duyệt Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm đến năm 2010.
12. Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Kế
hoạch Quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
13. Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/08/2004 của Tủ tướng Chính
phủ ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương
trình nghị sự 21).
Sơn, P. Tân Thịnh.
Phía Tây Nam: Xã Phúc Trìu, Xã Tân Cương, Phường Thịnh Đán, Xã Thịnh Đức.
Các đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn 2008 – 2013.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: các xã, phường phía Đông Nam và Tây Nam thành
Phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 02 năm 2014 đến tháng 04 năm 2014
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sử dụng đất khu vực
nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên của thành phố Thái Nguyên.
- Đặc điểm kinh tế, xã hội của thành phố Thái Nguyên.
- Tình hình sử dụng đất đai của thành phố Thái Nguyên.
3.3.2. Đánh giá ảnh hưởng của sự phát triển đô thị tới môi trường đất trên địa
bàn các xã, phường phía Đông Nam và Tây Nam thành phố Thái Nguyên
- Thực trạng môi trường đất qua từng năm trong giai đoạn;
- Ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất;
22
- Đánh giá của người dân đối với tác động của phát triển đô thị tới môi
trường đất.
3.3.3. Đề xuất các giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi
trường đất trước sự phát triển đô thị
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin, tài liệu, số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu
bao gồm:
- Thu thập tài liệu, số liệu về điều kiện, kinh tế, xã hội, về đất đai.
- Thu thập tài liệu, số liệu về môi trường, lao động, việc làm.