ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRIỆU THỊ ANH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI
NHÀ MÁY CỐC HÓA THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Lớp : 42A-MT
Khoa : Môi Trường
Khóa : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Vũ Thị Thanh Thủy
Thái nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn rất quan trọng đối với mỗi sinh viên.
Đây là thời gian chúng ta vận dụng, kết hợp giữa kiến thức đã học trên ghế
ĐCTV: Địa chất thủy văn
ĐH: Đại học
KLN: Kim loại nặng
LK: Lỗ khoan
NĐ-CP: Nghị định chính phủ
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
QĐ-BTNMT: Quyết định- Bộ tài nguyên môi trường
QH: Quốc hội
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
TSS: Hàm lượng chất rắn lơ lửng
UBND: Ủy ban nhân dân
VSV: Vi sinh vật
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Chỉ tiêu và phương pháp phân tích 29
Bảng 4.1. Thực trạng sản xuất của nhà máy 27
Bảng 4.2. Nguồn chất có thể gây ô nhiễm tại các phân xưởng của nhà máy
Cốc Hóa 29
Bảng 4.3. Nguồn phát sinh nước thải của nhà máy 30
Bảng 4.4. Phương pháp và khả năng xử lý nước thải của nhà máy Cốc Hóa 32
Bảng 4.5. Kết quả đo phân tích nước thải sinh hoạt 39
Bảng 4.6. Kết quả đo và phân tích nước thải sản xuất nhà máy Cốc Hóa. 40
Bảng 4.7. Kết quả phân tích nước thải sản xuất nhà máy Cốc Hoá……… 40
Bảng 4.8. Đánh giá của người dân về những ảnh hưởng đến môi trường 42
1.4. Yêu cầu của đề tài 10
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
2.1. Cơ sở khoa học 11
2.1.1. Một số khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn
nước, đánh giá chất lượng nước 11
2.1.2. Khái niệm nước thải và nguồn nước thải 12
2.1.3. Một số văn bản pháp lý 13
2.2. Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới, Việt Nam và Thái Nguyên 13
2.2.1. Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới 13
2.2.2. Tình hình ô nhiễm nước ở Việt Nam 15
2.2.3. Tình hình ô nhiễm nước ở Thái Nguyên 19
2.3. Một số công nghệ trên thế giới và việt nam về xử lý nước thải 20
2.3.1. Trên thế giới 20
2.3.2. Tại Việt Nam 23
PHẦN 3
:
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội phường Cam Giá thành phố Thái Nguyên 30
4.1.3. Đặc điểm cơ bản của nhà máy Cốc Hóa 32
4.2. Hiện trạng nước thải và quy trình xử lý nước thải của nhà máy 30
4.2.1. Hiện trạng nước thải của nhà máy 30
4.2.2. Quy trình xử lý nước thải của nhà máy 32
4.3. Đánh giá chất lượng nước thải của nhà máy 39
4.4. Ý kiến của người dân về những ảnh hưởng do hoạt động của nhà máy gây
ra trong quá trình hoạt động 42
4.5. Một số định hướng và giải pháp khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
do hoạt động của nhà máy gây ra 43
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
5.1. Kết luận 44
5.2. Kiến nghị thực tập 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
nhiên, sự chú trọng phát triển kinh tế trong một thời gian dài của nhà máy đã
và đang gây ảnh hưởng xấu tới môi trường khu vực do vậy nhà máy cũng
không nằm ngoài danh sách những đơn vị gây ô nhiễm môi trường trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên.
Để giải quyết và hạn chế vấn đề về ô nhiễm môi trường nhà máy Cốc
Hóa đã và đang áp dụng các biện pháp kỹ thuật, hệ thống xử lý nước thải
nhằm mục đích đưa mình thành đơn vị hoạt động kinh doanh an toàn và thân
thiện với môi trường. Sự an toàn và thân thiện với môi trường được đánh giá
theo các khia cạnh như trạm xử lý nước thải không gây mùi hôi và ô nhiễm
môi trường không khí xung quanh, trạm phải hoạt động an toàn, ít sự cố,
không bị rò rỉ nước thải và giảm nguy cơ gây ô nhiễm đất, nguồn nước ngầm
và nước mặt trong khu vực, sự phát sinh các chất thải thứ cấp như bùn cặn
phải là ít nhất.
Qua lỗ lực cái thiện công nghệ sản xuất, hệ thổng xử lý chất thải những
năm gần đây nhà máy đã được loại khỏi danh sách những đơn vị gây ô nhiễm
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân cũng như để khẳng định lại sự
an toàn và thân thiện của hệ thống xử lý nước thải của nhà máy đồng thời
được sự nhất trí của BGH khoa Môi Trường, trường ĐH Nông Lâm Thái
Nguyên. Em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh gía thực trạng xử lý nước
thải nhà máy Cốc Hóa Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích của đề tài
Thông qua nghiên cứu để nắm được các kỹ thuật xử lý nước thải đang
được áp dụng tại nhà máy Cốc Hóa.
Đánh giá khả năng xử lý nước thải, mức độ ô nhiễm và nguồn gây ô
nhiễm nước thải tại nhà máy Cốc Hóa từ đó đề xuất một số biện pháp xử lý
nhằm giảm thiểu ô nhiễm đối với môi trương nước.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu:
Giúp bản thân có cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài
và các thể chế. [7]
- Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành
phần môi trường không phù hợp với các TCVN, gây ảnh hưởng xấu đến con
người và vi sinh vật. [7]
- Ô nhiếm môi trường nước: Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi
thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng tới hoạt động sống bình
thường của con người và VSV. [15]
- Đánh giá chất lượng nước:
Theo Escap (1994) [13], chất lượng nước được đánh giá bởi các thông
số, chỉ tiêu là:
Các thông số lý học:
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ tác động tới các quá trình sinh hóa diễn ra trong
nguồn nước tự nhiên. Sự thay đổi về nhiệt kéo theo các thay đổi về chất lượng
nước, tốc độ, dạng phân hủy các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxi hòa tan.
+ pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazo của nước, là yếu tố môi trường
ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vsv trong nước.
Các thông số hóa học:
+ BOD: Là lượng oxi cần thiết để vsv phân hủy các chất hữu cơ trong
điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian.
+ COD: Là lượng oxi cần thiết để oxi hóa các hợp chất hóa học trong nước.
+ NO
3
: Là sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy các chất có chứa
Nitơ có trong nước thải.
Các yếu tố KLN: Các kim loại nặng ở hàm lượng nhỏ thì chúng là yếu
tố cần thiết cho sự phát triển của các loại động, thực vật nhưng khi ở hàm
lượng lớn chúng là nguyên nhân gây độc hại cho sinh vật và con người thông
qua chuỗi mắt xích thức ăn.
Các thông số sinh học:
Coliform: là nhóm vsv quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định
của Luật BVMT.
- Quyết định 22/2006/QĐ-BTNMT về việc bắt buộc áp dụng Tiêu
chuẩn Việt Nam về môi trường do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
ban hành.
- Quy chuẩn Việt Nam: QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về chất lượng nước mặt.
- QCVN 24:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải
công nghiệp.
- TCVN 5945 – 2005 Nước thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải.
- TCVN 5942 – 1995 Chất lượng nước – Tiêu chuẩn nước mặt.
2.2. Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới, Việt Nam và Thái Nguyên
2.2.1. Tình hình ô nhiễm nước trên thế giới
Theo Korzun và các cộng sự (1978), lượng nước toàn cầu là khoảng
1386 triệu km
3
, trong đó nước biển và đại dương chiếm tới 96,5%. Chỉ còn lại
khoảng 3,5% lượng nước trong đất liền và trong khí quyển. Lượng nước ngọt
mà con người có thể sử dụng được khoảng 35 triệu km
3
, chiếm 2,53% lượng
nước toàn cầu. Tuy nhiên trong tổng số lượng nước ngọt đó, băng và tuyết
chiếm tới 24 triệu km
3
và nước ngầm nằm ở độ sâu tới 600m so với mực nước
biển chiếm 10,53 triệu km
3
. Lượng nước ngọt trong các hồ chứa là 91.000
km
3
và trong các sông suối là 2120 km
đã khuyếch tán trong đất và gây ô
nhiễm nước, ngày càng nhiều nguồn nước có lượng NO
3
-
quá mức quy định.
Song điều nguy hiểm hơn nữa là ở vùng nông thôn thường có dư lượng thuốc
bảo vệ thực vật quá cao. Tại các nguồn nước ở các khu công nghiệp thì nồng
độ các chất có hại vượt quá liều lượng cho phép bao gồm các chất hữu cơ, vô
cơ khó bị phân giải trong tự nhiên. Chúng có thể nổi trên mặt nước, lơ lửng
hoặc lắng sâu dưới đáy và tan trong nước. Ví dụ chỉ một giọt dầu cũng tạo
diện tích váng 0,25 m
2
trên mặt nước, tương tự một tấn dầu sẽ tạo váng 500
ha, dù lớp màng váng rất mỏng song vẫn gây hại với sinh vật thủy sinh. Ở các
đô thị của các nước đang phát triển thì 95% cống rãnh không được xử lý nước
thải và đã xả ra các cánh đồng lân cận. Thụy Sỹ là nước du lịch và vô cùng
sạch sẽ. Song các con sông suối ngoài biên giới Thụy Sỹ thì lại là nguồn
nước bị ô nhiễm hoàn toàn. Sông “Danuyp xanh” không còn là một hình ảnh
thơ mộng, hiện nay với chiều dài 100 km từ Cremxo đến biên giới Slovakia,
thực chất đã trở thành vùng nước chết về phương diện sinh học. Ở Hoa Kỳ,
hàng năm ngành nông nghiệp đã sử dụng khoảng 400 nghìn kg thủy ngân
trong các loại thuốc bảo vệ thực vật. Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều bị ô nhiễm nước ở các mức độ khác nhau. [18]
2.2.2. Tình hình ô nhiễm nước ở Việt Nam
Tốc độ CNH_HĐH và đô thị hóa ngày càng phát triển nhanh và sự gia tăng
dân số ngày càng gây áp lực nặng nề đối với nguồn nước trong lãnh thổ. Môi
trường nước ở các đô thị, làng nghề, khu công nghiệp ngày càng ô nhiễm nhiều
hơn. Đặc biệt ở các thành phố lớn hang trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang
gây ô nhiễm môi trường nước do không có các biện pháp, hệ thống xử lý
nước thải hợp tiêu chuẩn. Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng,
trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới
300.000 - 400.000 m
3
/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý
nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử
lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng
1.200m
3
/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội
thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH
4
, NO
3
ở các sông, hồ, mương
nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì
lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử
lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời.
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như
Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng
không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt
quá tiểu chuẩn cho phép (TCVN), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD,
COD, Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCVN.
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông
nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là
nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc
không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô
nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung
bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông
Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số
nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở
Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%). Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi
trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít. Đội ngũ cán bộ
quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay
ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân,
trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân) [22]
2.2.2. Tình hình ô nhiễm nước ở Thái Nguyên
Theo đánh giá mới nhất của tỉnh Thái Nguyên, hiện nay tình trạng ô
nhiễm môi trường trên địa bàn ngày càng gia tăng và khó kiểm soát, tính chất
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng phức tạp, nhiều "điểm
nóng" về ô nhiễm môi trường còn tồn tại, gây bức xúc trong dư luận
Qua thống kê sơ bộ, hiện mỗi ngày toàn tỉnh thải ra trên 400 tấn chất thải sinh
hoạt nhưng số chất thải thu gom, xử lý mới đạt khoảng 36%, riêng lượng chất
thải y tế được thu gom, xử lý hợp vệ sinh cũng chỉ đạt gần 50%. Kết quả quan
trắc môi trường hàng năm cho thấy: môi trường không khí đã bị ô nhiễm cục
bộ, nhất là tại các khu vực: Nhà máy xi măng Núi Voi, Nhà máy xi măng
Quang Sơn (huyện Đồng Hỷ), Nhà máy xi măng La Hiên (huyện Võ Nhai)
Đáng ngại hơn, xung quanh các khu mỏ khai thác than hàm lượng bụi đã vượt
quy chuẩn cho phép đến 5 lần. Cùng với tình trạng ô nhiễm không khí, môi
trường đất tại các khu vực gần khu công nghiệp có biểu hiện ô nhiễm kim loại
nặng rõ rệt, điển hình như đất ruộng gần Khu công nghiệp Sông Công hàm
lượng Zn vượt 8,9 lần, hàm lượng Cd vượt 11 lần; tại Khu công nghiệp gang
thép Thái Nguyên hàm lượng Pb vượt tiêu chuẩn 2,8 lần, hàm lượng Zn vượt
46,6 lần Đặc biệt tại các khu vực khai thác, chế biến khoáng sản do chủ yếu
khai thác theo phương thức lộ thiên, thủ công bán cơ giới đã gây tác động xấu
đến môi trường, gây thất thoát tài nguyên như tại các điểm mỏ: than Làng
Cẩm, đôlômít Làng Lai, mỏ sắt Trại Cau Nguy hại hơn, ở một số mỏ than
Khánh Hòa, Phấn Mễ, Núi Hồng, mỏ sắt Trại Cau do khai thác lộ thiên đã tạo
sạch, mát và trong như pha lê.
“Nước mới” có mùi vị chả khác gì các loại nước đóng chai khác và là
thương hiệu của loại nước được “chế tạo” từ những cống thoát nước của
Singapore. Nước thải sinh hoạt được xử lý bằng 2 công nghệ tiên tiến: màng
lọc UF và tia cực tím UV.
“Uống nước mới rất an toàn vì được xử lý bằng công nghệ lọc tuyệt
vời,” Yap vừa nói vừa phân phát những chai “Nước Mới” cho khách thăm,
trong đó có rất nhiều phóng viên từ TQ, Ấn Độ, Indo, Malay, Lào, Nepal,
Pakistan và Việt Nam.
Theo như thành phần công bố trên nhãn mác, NEWater có cả
carbohydrates, protein và soda. Trung tâm giới thiệu Nước Mới được khai
trương từ tháng 2 năm 2003 gần Sungei Bedok, nhằm cung cấp cho người
dân những hiểu biết về tài nguyên nước và giới thiệu công nghệ cho sinh viên
và du khách. NEWater là một trong bốn chiến lược nước sạch của Singapore,
đảo quốc nhỏ với 4,2 triệu cư dân, vốn không được thiên nhiên ban tặng
nguồn nước ngọt tự nhiên như những quốc gia láng giềng: Indonesia,
Malaysia, Philippines và Việt Nam.
“NEWater là một kỳ tích của Singapore,” - Nordin Mahmood, trợ lý
quản trị thuộc Ủy ban Cơ sở Hạ tầng Singapore (Public Utilities Board -
PUB), cơ quan quản lý nguồn nước quốc gia.
Hàng chục năm nay Singapore phải nhập khẩu nước từ bang Johor -
Malaysia. Nhưng 2 hiệp ước mua bán nước cấp quốc gia hết hạn lần lượt vào
các năm 2011 và 2061, và quan hệ song phương thường bị ảnh hưởng bởi
những bất đồng về giá nước thô.
“Chúng ta ngày càng đông đúc, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa làm
cho hòn đảo vốn dĩ đã nhỏ càng thêm chật chội, không còn đủ chỗ để tích trữ
nước nữa,” Ông Tan Gee Paw, chủ tịch Ủy ban PUB phát biểu. “Dân số và
kinh tế tăng đồng nghĩa với nguồn nước sẽ thiếu,” Ông Paw nói thêm. Để đáp
ứng nguồn nước cho Singapore, năm 2002 chính phủ đã quyết định phát triển
NEWater thành một nguồn cấp nước tin cậy, không phụ thuộc vào thiên nhiên
NEWater được dung chủ yếu trong các nhà máy công nghiệp: sản xuất, làm
mát, nồi hơi Bằng cách này, một lượng lớn nước thô nhập khẩu được tập
trung cho sinh hoạt. [23]
2.3.2. Tại Việt Nam
* Công nghệ NANO VAST xử lý nước nhiễm Asen và kim loại nặng
Trước sự nhiễm độc asen trong nước ngầm ngày càng gia tăng gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe con người, mới đây các nhà khoa học
thuộc phòng Hóa vô cơ – Viện Hóa học đã nghiên cứu chế tạo và ứng dụng
thành công hệ thống xử lý nước nhiễm asen và kim loại sử dụng công nghệ
NanoVAST. Đây được coi là một giải pháp loại bỏ asen và các kim loại nặng
hiệu quả, an toàn và kinh tế. Trên cơ sở công nghệ này có thể thiết kế hàng
loạt các hệ xử lý asen cho nước ăn uống sử dụng ở quy mô gia đình, cụm gia
đình, cơ quan xí nghiệp, trường học, bệnh viện….
Nhiễm độc asen trong nước ngầm, được xem là một cuộc khủng hoảng
môi trường chưa từng có trong lịch sử thế giới hiện đại. Ô nhiễm asen theo
diện rộng đã gây ngộ độc đến số lượng lớn dân chúng. Một nghiên cứu năm
2007 cho thấy có trên 137.000.000 người ở hơn 70 quốc gia có thể bị ảnh
hưởng bởi nhiễm độc asen trong nước ăn uống điển hình là: Ấn Độ, Đài Loan,
Achentina, Trung Quốc, Mehico, Thái Lan, Chile, Bangladesh, Mỹ,
Campuchia, Việt Nam… Năm 2002 các nhà khoa học viện Công nghệ
Massachusetts đã dự đoán trên toàn thế giới có khoảng 1,2 triệu trường hợp
tăng sắc tố da, 600.000 trường hợp mắc chứng dày biểu bì và sừng hóa da,
125.000 trường hợp ung thư da và 3.000 người chết mỗi năm do ung thư các
cơ quan nội tạng liên quan đến việc ăn uống nước có chứa hàm lượng asen cao.
Ô nhiễm asen trong nước ngầm (nguồn nước đặc biệt quan trọng cung
cấp nước cho người dân) ở Việt Nam là vấn đề đã được khẳng định. Theo
đánh giá của WHO, khoảng trên 15 triệu người Việt Nam (gần 1/5 dân số) có
thể phải đối mặt với nguy cơ tiềm tàng về nhiễm độc asen do sử dụng các
nguồn nước ô nhiễm không được xử lý triệt để. Mức độ ô nhiễm đặc biệt cao
ở các tỉnh Hà Nam, Hà Nội, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Long An, Đồng
Nhà máy xử lý nước thải được thiết kế với công suất 6000m
3
/ngày.
Nước thải từ các nhà máy trong khu công nghiệp được thu gom về bể
thu nước thải sau khi qua song chắn rác nhằm tách bỏ rác thô, có kích thước
lớn. Nước thải từ bể gom được bơm lên sang rác nhỏ dạng trống quay, sau đó
đưa vào bể phân phối. Nước thải từ bể phân phối được đưa vào bể điều hòa
nhằm mực đích điều hòa về nồng độ lưu lượng trước khi qua các công trình
xử lý nước thải sinh học tiếp theo.
Từ bể điều hòa, nước thải được dẫn qua chứa và từ đây được bơm lên
tháp lọc sinh học. Tháp lọc sinh học được sử dụng vật liệu đệm là tấm plastic
xếp song song làm giá thể cho vi sinh vật đính bám phát triển. Tháp lọc sinh
học đóng vai trò xử lý sinh học bậc 1 do vi sanh vật dạng đính bám tồn tại
đồng thời các chủng hiếu khí, tùy nghi và cá kị khí, có khả năng xử lý ổn
định, chịu được sự thay đổi về tải lượng ô nhiễm đầu vào.
Nước thải sau khi qua tháp lọc sinh học có nồng độ BOD % khoảng
120 mg/l được đưa vào bể hoàn lưu. Một phần nhỏ được tuần hoàn lại bể lọc