Ứng dụng thực vật thủy sinh trong xử lý nước khu nuôi trồng thủy sản trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

DƯƠNG THỊ HỒNG MAITên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ HẤP THỤ KẼM (Zn),
ASEN (As) CỦA CÂY CỎ LINH LĂNG
(Medicago sativa)

TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG ĐẤT KHÁC NHAU

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Đàm Xuân Vận

Thái Nguyên, 2014
Dương Thị Hồng Mai DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Giá trị các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép
trong nước mặt 5

Bảng 2.2. Một số thực vật thủy sinh tiêu biểu 15

Bảng 2.3. Nhiệm vụ của thủy sinh thực vật trong các hệ thống xử lý 15

Bảng 2.4. Cơ chế loại bỏ các chất ô nhiễm trong quá trình xử lý 19

Bảng 3.1. Các phương pháp bảo quản mẫu trước khi phân tích 21

Bảng 4.1. Kết quả phân tích hàm lượng một số chất có trong nước khu nuôi trồng
thủy sản 25

Bảng 4.2.Biến động số lá của thực vật thủy sinh trong thí nghiệm 27

Bảng 4.3.Biến động số cây của thực vật thủy sinh trong thí nghiệm 29

Bảng 4.4. Khả năng xử lý 1 số chỉ tiêu ô nhiễm nước của thực vật thủy sinh sau 2
và 4 tuần 31

Bảng 4.5. Hiệu suất xử lý một số chỉ tiêu sau 2 và 4 tuần thí nghiệm 36

Hình 4.8. Biểu đồ theo dõi khả năng xử lý hàm lượng N tổng số của thực vật thủy
sinh sau 2 và 4 tuần thí nghiệm 35

Hình 4.9. Biểu đồ thể hiện hiệu suất xử lý các chỉ tiêu của thực vật thủy sinh sau 2
tuần thí nghiệm 36

Hình 4.10. Biểu đồ thể hiện hiệu suất xử lý các chỉ tiêu của thực vật thủy sinh sau
4 tuần thí nghiệm. 37
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ, CÁC TỪ VIẾT TẮT

BOD Biologcal Oygen Demand
BOD
5
Nhu cầu ôxi sinh hóa
BTNMT Bộ Tài nguyên môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
CN Chủ nhiệm
COD Nhu cầu ôxi hóa học
CPSH Chế phẩm sinh học
ĐH Đại học
LSD
LeastSignificant Difference
(sai số nhỏ nhất)
NĐ- CP Nghị định – Chính Phủ
NTTS Nuôi trồng thủy sản
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TCTK Tổng cục thống kê


2.1.1. Khái niệm về ô nhiễm nước và nước thải 4

2.1.2 . Các văn bản có liên quan 4

2.2. Cơ sở thực tiễn 6

2.2.1. Một số vấn đề môi trường nảy sinh trong hoạt động nuôi trồng thủy sản ở
nước ta: 6

2.2.2. Nguồn gốc phát sinh và thành phần ô nhiễm môi trường do nuôi trồng thuỷ
sản 7

2.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong nước và trên
thế giới. 8

2.3.1. Trong nước 8

2.3.2. Ngoài nước 10

2.4. Các phương pháp sinh học trong xử lý ô nhiễm môi trường 12

2.4.1. Phương pháp sử dụng hệ vi sinh vật 12

2.4.2. Phương pháp sử dụng hệ động thực vật để hấp thụ các chất ô nhiễm 13

2.5. Tổng quan về thực vật thủy sinh 14

2.5.1. Các loài thực vật thủy sinh 14


PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

4.1. Vài nét về Đại học Thái Nguyên 23

4.1.1. Sứ mệnh, tầm nhìn và chiến lược phát triển của ĐH Thái Nguyên 23

4.1.2. Vài nét về ĐH Nông Lâm Thái Nguyên và khu nuôi trồng thủy sản 23

4.2. Hiện trạng chất lượng nước và thực trạng xử lý nước khu nuôi trồng thủy sản
25

4.3. Khả năng sinh trưởng của thực vật thủy sinh trong nước nuôi trồng thủy sản
27

4.3.1. Biến động về số lá của thực vật thủy sinh trong thí nghiệm 27

4.3.2. Biến động về số cây của thực vật thủy sinh trong thí nghiệm 29

4.4. Khả năng xử lý nước nuôi thủy sản bằng thực vật thủy sinh 30

4.5. Những thuận lợi và khó khăn khi xử lý nước thải chăn nuôi bằng thực vật
thủy sinh 38

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 40

5.1. Kết luận 40

5.2. Kiến nghị 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

trọng vào tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta, góp phần giải quyết công ăn
việc làm cho hàng triệu lao động. Bên cạnh đó, việc khai thác quá mức nguồn
lợi thủy sản, tăng diện tích nuôi trồng thủy sản, thiếu quy hoạch, sử dụng bừa
bãi thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học làm cho Môi trường ngày càng bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Việc đổ nước và chất thải công nghiệp, nông nghiệp,
sinh hoạt chưa qua xử lý ra sông, hồ, biển cũng đã góp phần không nhỏ vào 2
việc làm biến đổi môi trường theo chiều hướng xấu. Như vậy, việc tìm ra giải
pháp xử lý ô nhiễm môi trường, xử lý nước thải Ngành Thủy sản đang là một
vấn đề mang tính thời sự, rất cấp bách.
Để xử lý ô nhiễm môi trường người ta có rất nhiều biện pháp: Từ biện
pháp lý học, hóa học, cơ học đến sinh học. Tùy điều kiện cụ thể mà áp dụng
phương pháp nào cho hiệu quả. Các biện pháp lý học, hóa học và cơ học về
cơ bản xử lý triệt để nhưng thường có chi phí đầu tư rất lớn.
Đã từ lâu người ta quan tâm đến biện pháp sinh học trong xử lý ô
nhiễm môi trường. Cơ sở khoa học của biện pháp sinh học này là mọi sinh vật
sống trên trái đất đều chịu ảnh hưởng của môi trường sống và chúng có khả
năng thích nghi với điều kiện sống đó khi tồn tại lâu ở đó.
Tại Việt Nam, công nghệ xử lý bằng thực vật hay sử dụng thực vật để
xử lý sinh hoạt là một công nghệ mới được nghiên cứu trong những năm gần
đây nhờ sự hiểu biết về cơ chế hấp thụ, chuyển hóa, chống chịu và loại bỏ tạp
chất của một số loài thực vật. Việc nghiên cứu dùng thực vật trong xử lý nước
bị ô nhiễm cũng đã được thực hiện và áp dụng trên thực tế đối với một số loài
cây như: Thực vật thủy sinh, Sậy, Thủy trúc, Rau muống, Rau Ngổ…
Xuất phát từ thực tế trên, để khắc phục tình trạng ô nhiễm, lợi dụng
vào những loại thực vật có khả năng thích nghi và xử lý được nước nuôi trồng
thủy sản. Em xin đề xuất việc: " Ứng dụng thực vật thủy sinh trong xử lý
nước khu nuôi trồng thủy sản trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên".

4
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở pháp lý
2.1.1. Khái niệm về ô nhiễm nước và nước thải
Hiến chương Châu Âu đã định nghĩa nước ô nhiễm như sau: Ô nhiễm
nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm
nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho nông nghiệp, công
nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã [9].
Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980-1995 và ISO 6107/1-1980: Nước thải
là nước được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra qua một quá trình
công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó.
2.1.2 . Các văn bản có liên quan
Công tác quản lý nhà nước về môi trường phải được dựa trên các văn
bản pháp luật, pháp quy của các cơ quan quản lý nhà nước. Từ năm 1993 đến
nay đã có các văn bản chính sau trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi
trường (BVMT):
- Hiến pháp năm 1992.
- Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT- BNN – TCTK ngày 26/3/2000
của Bộ Nông Nghiệp và Tổng Cục Thống Kê. Quy định về chỉ tiêu đánh giá
qui mô một số trạng thái chăn nuôi.
- Thông tư số 125/2003.TTLT – BTC – BTNMT V/v hướng dẫn thực
hiện Nghị định số 67/2003/NĐ – CP ngày 13 tháng 6 năm 2003 của chính phủ
về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

- QCVN 24:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải
công nghiệp.
Bảng 2.1: Giá trị các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị tối đa
cho phép trong nước mặt
TT Thông số Đơn vị Cột B
1
1 COD mg/l 30
2 BOD
5
(20
0
C) mg/l 15
3 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) mg/l 30
4 Nitrat (NO
3
-
) mg/l 30
5 Photphat (PO4
3
-
) mg/l 6
6
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Một số vấn đề môi trường nảy sinh trong hoạt động nuôi trồng thủy
sản ở nước ta:
- Do thiếu quy hoạch, nuôi trồng thủy sản ven biển phát triển khá tự
phát và ồ ạt, quy mô và phương thức nuôi cũng rất đa dạng, chủ yếu vẫn là

chất thải từ thức ăn và các hoá chất tích tụ ở đáy đầm nuôi tạo thành một lớp
bùn ô nhiễm. Thành phần lớp bùn chủ yếu là các chất hữu cơ như protein,
lipids, axit béo với công thức chung CH
3
(CH
2
)nCOOH, photpholipids, Sterol
- vitamin D3, các hoocmon, carbohydrate, chất khoáng và vitamin, vỏ tôm lột
xác,
Tác động của các hoạt động kinh tế và xã hội đến ngành thuỷ sản:
Hiện nay, môi trường đô thị bị ô nhiễm do các chất thải rắn, lỏng, khí,
chưa bị thu gom và xử lý kịp thời. Mặt khác tỷ lệ dân số tăng nhanh và các
khu công nghiệp, chế biến dịch vụ cũng đang phát triển mạnh. Hiện nay,
khoảng 90% cơ sở sản xuất chưa xử lý nước thải của mình mặc dù đã có luật
môi trường. Môi trường nông thôn đã bị suy thoái và đang bị ô nhiễm do các
điều kiện vệ sinh, sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, cơ sở hạ tầng yếu kém,
hoá chất đã theo hệ thống kênh mương thuỷ lợi tiêu thoát ra các sông và có
thể theo dòng chảy tới vùng khác, gây nguy hại cho môi trường thuỷ sản.
Sự bón phân mất cân đối, sử dụng chất thải, phân tươi mất vệ sinh gây
ô nhiễm môi trường nước và lây lan dịch bệnh cho người và vật nuôi, kể cả
thuỷ sinh vật. Hoạt động giao thông và du lịch cũng là những vấn đề ảnh
hưởng không nhỏ đến môi trường ven biển trong đó chủ yếu nguồn phế thải
sinh hoạt và dư lượng dầu, tập trung vào mùa hè trùng với mùa nuôi trồng
thuỷ sản nước lợ, nước mặn [4].
Nước thải sinh hoạt, công nghiệp xả trực tiếp vào kênh mương, sông hồ
là nguồn nước cung cấp cho nuôi trồng thuỷ sản và nơi sinh sống của các thuỷ
sinh vật. Kết quả điều tra nghiên cứu những năm gần đây của Viện nghiên cứu
nuôi trồng thuỷ sản cho thấy hàm lượng BOD, COD, TN trong nước của
những thuỷ vực đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép đối với đời sống thuỷ sinh vật.
Hiện nay, có rất nhiều loại sản phẩm thuốc, hoá chất và CPSH được

4
), rất có hại cho thủy sinh, ví dụ nồng độ 1,3 ppm của H
2
S có thể gây
sốc, tê liệt và thậm chí gây chết tôm. Khí amonia (NH
3
) cũng được sinh ra từ
quá trình phân hủy yếm khí thức ăn tồn dư gây độc trực tiếp cho tôm, làm ảnh
hưởng đến độ pH của nước và kìm hãm sự phát triển của thực vật phù du [14].
Tóm lại, các chất ô nhiễm chủ yếu trong nước thải NTTS bao gồm:
- Các bon hữu cơ (gồm thức ăn, phân bón, chế phẩm sinh học )
- Nitơ được phân hủy từ các protein
- Phốt pho phân hủy từ các protein
Nồng độ các chất ô nhiễm trên được biểu thị bởi một số chỉ tiêu chung
như chỉ tiêu nhu cầu ôxy hoá sinh – BOD, Nitơ (TN) và tổng Phôtpho (TP).
2.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong nước
và trên thế giới.
2.3.1. Trong nước
- Hiện nay trong khi tỷ trọng đóng góp của khối nông, lâm nghiệp và
thủy sản vào tổng GDP cả nước liên tục gia tăng. Sự tăng trưởng của nuôi
trồng thủy sản chủ yếu là nhờ vào những tiến bộ về kỹ thuật nuôi, sự công 9
nghiệp hóa quá trình nuôi để cho năng suất nuôi cao hơn. Tuy nhiên, đồng
hành với sự tăng trưởng lại là những cảnh báo ngày càng gia tăng về tác động xấu
đến môi trường do sự phát triển quá nóng, thiếu quy hoạch, thiếu bền vững của
nuôi trồng thủy sản. Có nhiều phương pháp xử lý cho các khu nuôi trồng thủy sản.
Tuy nhiên những phương pháp này khá tốn kém và đòi hỏi khá cao về quy trình kĩ
thuật và sử dụng an toàn, hơn nữa phương pháp này phù hợp với các bãi nuôi

+ “Dùng hệ thống thực vật chủ yếu là cây ngổ dại làm giảm thiểu ô
nhiễm nguồn nước ở thôn La Dương” của Triệu Tiến Chuẩn.
+ Nghiên cứu của trường đại học Khoa học ĐH Huế cho thấy bèo Nhật
Bản, bèo Tấm và bèo Cái nuôi trồng trong các hồ chứa nước thải có tác dụng
làm sạch môi trường.
+ “Sử dụng sơ dừa tạo lớp xốp dùng để tăng mật độ vi sinh vật và làm
lớp nền để trồng các loại thực vật thủy sinh làm sạch nguồn nước thải của
thành phố đổ vào sông hồ” do Trung tâm Khoa học Công nghệ trẻ chủ trì và
CN. Lê Thị Hồng Nhung là chủ nhiệm đề tài.
- Một số báo cáo:
* Xử lý nước thải chăn nuôi lợn bằng tháp UASB và tháp thực vật
thủy sinh.
Tác giả: Đặng Xuyến Như, nguồn: Tạp chí sinh học 2005.
* Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước thải bằng các loại thực vật thủy sinh
phổ biến và ngưỡng chịu đựng của chúng đối với thành phần ô nhiễm.
Chủ nhiệm PGS.TS Bùi Xuân An. Cơ quan chủ trì ĐH Nông Lâm TP
Hồ Chí Minh 2007.
* Nghiên cứu khả năng hấp thụ kim loại nặng của bèo sen (Eichhornia
carssipes) góp phần xử lý nước thải công nghiệp bằng biện pháp sinh học.
Tác giả Nguyễn Quốc Thông, Đặng Đình Kim, Lê Lan Anh, Nguyễn
Hiếu Mai.
2.3.2. Ngoài nước
Trên thế giới bãi lọc trồng cây được sử dụng như một giải pháp hữu
hiệu để xử lý nước thải phân tán như sinh hoạt, chăn nuôi, công sở, bệnh viện
trong tự nhiên thân thiện với môi trường, đạt hiệu suất cao, chi phí thấp và ổn
định đồng thời làm tăng giá trị đa dạng sinh học, cải tạo cảnh quan môi
trường. Các nghiên cứu khác tại Đức, Thái Lan, Thụy Sỹ, Bồ Đào Nha còn
cho thấy bãi lọc trồng cây có thể loại bỏ vi sinh vật gây bệnh trong nước thải
sinh hoạt và nước thải đô thị, xử lý phân bùn bể phốt và xử lý nước thải công


về diện tích tương ứng ao tôm: ao nhuyễn thể: khu vực chứa nước dự trữ là 1:
0,8: 0,4. Nước thải từ ao nuôi tôm được bơm ra kênh dẫn đến hệ thống các ao
nuôi nhuyễn thể và nước cuối hệ thống ao nhuyễn thể sẽ được lấy để cấp cho
các ao nuôi. Hiệu quả của hệ thống này đạt được là 40 – 83,6% P-PO
4
; 45 –
89% TSS; 22 – 24% N-NO
3
; 19 – 64% TAN và tiền lãi từ thu nhuyễn thể 12
cũng bằng tiền lãi từ thu hoạch tôm.
Hệ thống thủy sản- thủy canh kết hợp. Mô hình Aquaponics ở Thụy Sỹ,
Mỹ, Canada sử dụng chủ yếu một số thực vật như: Ngãi hoa, rau muống, xà
lách, dưa leo…
2.4. Các phương pháp sinh học trong xử lý ô nhiễm môi trường
Có rất nhiều phương pháp sinh học đã và đang được ứng dụng rộng rãi
trong xử lý ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các chất thải hữu cơ. Tiêu biểu là
việc sử dụng hệ sinh vật để phân hủy hoặc hấp thụ/hấp phụ các chất ô nhiễm
hữu cơ, vô cơ từ chất thải sản xuất và sinh hoạt. Có thể nêu lên một số
phương pháp sau:
- Sử dụng hệ vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ trong chất thải
- Sử dụng hệ động thực vật thủy sinh để hấp thụ các chất hữu cơ
2.4.1. Phương pháp sử dụng hệ vi sinh vật
Có một số loài vi sinh vật có khả năng sử dụng các chất hữu cơ và một
số chất khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng, sinh trưởng và nhờ
vậy sinh khối của chúng tăng lên. Các vi sinh vật này được sử dụng để phân
huỷ các chất ô nhiễm hữu cơ và vô cơ có trong chất thải từ NTTS. Quá trình
phân hủy này được gọi là quá trình phân hủy ôxy hóa sinh hóa. Có thể phân

vật hấp thụ các chất dinh dưỡng là nitơ và phốt pho, cácbon để tổng hợp các
chất hữu cơ làm tăng sinh khối (sinh vật tự dưỡng), đó là tảo hay thực vật phù
du, rong câu và các loài thực vật ngập mặn khác.
Kế tiếp trong chuỗi thức ăn là các động vật bậc 1 - động vật ăn thực vật.
Ðiển hình của các động vật bậc 1 ở vùng nước ven biển là các loại ngao, vẹm,
hàu các loài này có thể tiêu thụ các thực vật phù du và cải thiện điều kiện trầm
tích đáy. Các nghiên cứu của Jones và ctv (2001), (2002) cho thấy loài sò đá
Sydney (Saccotrea commercialis) có khả năng làm giảm đáng kể hàm lượng
các chất lơ lửng, mùn bã hữu cơ, Nitơ tổng số, Photpho tổng số, vi khuẩn tổng
số trong nước thải từ các ao nuôi tôm thâm canh. Hàm lượng chất rắn lơ lửng
có thể giảm được 49%, số lượng vi khuẩn giảm được 8%. Các loài cá ăn thực
vật phù du và mùn bã hữu cơ như cá măng, cá đối cũng được thử nghiệm sử
dụng ở các kênh thoát nước thải (Micheal J. Phillips, 1995) [16].
Rừng ngập mặn (RNM) là một hệ sinh thái ở vùng đất ngập nước rất
phổ biến ở ven biển Việt Nam. Có thể sử dụng RNM như một bể lọc sinh học
các chất ô nhiễm hữu cơ từ chất thải đô thị, công nghiệp và nuôi trồng thủy
sản. Theo tính toán lý thuyết, ở điều tạo đặc biệt là nơi bẫy các trầm tích có
chứa các kim loại nặng, các hóa chất bảo vệ thực vật. Thực vật ngập mặn
cùng với toàn bộ hệ sinh thái trong RNM là một bể lọc sinh học đối với các
chất thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển. Ngoài ra, những nghiên
cứu về việc sử dụng RNM như hệ thống lọc sinh học để xử lý nước thải các
ao nuôi tôm đã và đang thí nghiệm ở vùng biển Caribbean kiện Việt Nam, 1ha
RNM mỗi năm tăng trưởng 56 tấn sinh khối và có thể hấp thụ được 219 kg
nitơ, 20 kg phôt pho (Jesper Clausen, 2002). Ngoài ra, RNM với bộ rễ có cấu
của Colombia cũng cho hiệu quả xử lý tốt. Dominique Gautier và các cộng sự 14
đã nghiên cứu việc sử dụng rừng ngập mặn diện tích 120 ha như một hệ thống
lọc sinh học để cung cấp nước cho 282 ha ao nuôi tôm. Sau 3 tháng nghiên


15
Bảng 2.2. Một số thực vật thủy sinh tiêu biểu
Loại Tên thông thường Tên khoa học
Thủy thực vật sống chìm
Hydrilla Hidrilla verticillata
Water Milfoil Miriophyllum spicatum
Blyxa Blyxa aubertii
Thủy thực vật sống trôi nổi
Lục Bình Eichhornia crassipes
Bèo Tấm Wolfia arrhiga
Bèo Tai Tượng Pistia stratiotes
Salvinia Salvinia spp
Thủy thực vật sống nổi
Cattails Typha spp
Bulrush Scirpus spp
Sậy Phragmites communis

Bảng 2.3. Nhiệm vụ của thủy sinh thực vật trong các hệ thống xử lý

Phần cơ thể Nhiệm vụ
Rễ/ hoặc thân
Là giá bám cho vi khuẩn phát
triển
Thân/hoặc lá ở dưới mặt
nước và trên mặt nước
Lọc và hấp thụ chất rắn
Hấp thụ ánh sáng mặt trời do đó
cản trở sự phát triển của tảo
Làm giảm tác động của gió lên bề
17
2.5.1.2. Rau ngổ
Rau ngổ có tên gọi là rau mò om, có tên khoa học là Limnophila
aromatica, thuộc loại hoa mõm sói Scrophulariaceae. Là cây cỏ, mọc bò, thân
rỗng giòn, dài 20 đến 30 cm, có nhiều lông mùi rất thơm, lá nhẵn, mọc bò
không cuống, hơi ôm thân, phần lá gần thân nhỏ lại, mép hơi có răng cưa thưa,
hoa mọc đơn độc ở nách lá.

Thành phần hóa học: Nước 93 % và Protid 2,1 %; glucid 1,2 %;
cellulose 2,1 %; vitamin B 0,29 % và một ít vitamin C,…có ít tinh dầu.
Rau ngổ được dùng như các loại rau gia vị ăn uống, chế biến được
nhiều món. Theo đông y rau có tác dụng kháng viêm, lợi tiểu tiêu độc, chữa
băng huyết trị bệnh ngoài da,…
Do thân có nhiều lông và thường mọc ở ao hồ bị nhiễm bẩn nên hấp thu
nhiều vi khuẩn, trong đó 90% là vi khuẩn đường ruột (coliforms). Thí nghiệm
cho thấy khi rửa sạch tổng số vi khuẩn chỉ giảm được 10 %, nồng độ
coliforms giảm không dưới 5 %. Ngay cả khi ngâm chloramine nồng độ
0,3mg/l, ngâm thuốc tím K
2
MnO
4
với nồng độ 1mg/l trong 30 phút cũng chỉ
hạ được nồng độ vi khuẩn xuống không quá 10 %. Do vậy rau ngổ có khả 18
năng hạ bớt sự nhiễm bẩn của các chất trong nguồn nước thải hoặc nguồn
nước đang bị ô nhiễm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status