ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ HUỆ Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG SỬ DỤNG THỰC VẬT THỦY SINH XỬ
LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT TẠI KHU KÝ TÚC XÁ K TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010-2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Trần Thị Phả
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
"Lý thuyết đi đôi với thực tiễn" luôn là phương thức quan trọng giúp học
sinh, sinh viên trau dồi kiến thức, củng cố, bổ sung hiểu biết về lý thuyết học
trên lớp và trong sách vở nhằm giúp cho sinh viên ngày càng nâng cao nghiệp
vụ chuyên môn cho chính mình.
Bảng 4.1. Tổng lượng nước tiêu thụ và nước thải sinh hoạt khu ký túc xá trong
vòng 1 năm học (10 tháng) 26
Bảng 4.2. Qua việc quan trắc nước thải sinh hoạt khu kí túc xá K2 trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên ta có số liệu như sau: 27
Bảng 4.3. Bảng theo dõi diễn biến số cây của thực vật thủy sinh. 28
Bảng 4.4. Bảng theo dõi diễn biến số lá của thực vật thủy sinh 29
Bảng 4.5. Khả năng xử lý một số chỉ tiêu ô nhiễm nước thải sinh hoạt của thực
vật thủy sinh 32
sau 2 tuần và sau 4 tuần. 32
Bảng 4.6. Hiệu suất xử lý một số chỉ tiêu ô nhiễm nước thải sinh hoạt của thực
vật thủy sinh sau 2 tuần và 4 tuần (đơn vị %). 36
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện hàm lượng các chất có trong nước thải so với QCVN
14: 2008 27
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện số lượng cây trung bình trong thời gian làm thí
nghiệm 28
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện số lượng lá trung bình trong thời gian làm thí
nghiệm 30
Hình 4.4.Biểu đồ thể hiện hiệu quả xử lý BOD
5
của các loại thực vật thủy sinh
sau 2 tuần và sau 4 tuần 31
Hình 4.5. Biểu đồ thể hiện hiệu quả xử lý COD của các loại thực vật thủy sinh
sau 2 tuần và sau 4 tuần. 33
Hình 4.6. Biểu đồ thể hiện hiệu quả xử lý TSS của các loại thực vật thủy sinh
sau 2 tuần 34
Hình 4.7. Biểu đồ thể hiện hiệu quả xử lý NO
3
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TTNC Trung tâm nghiên cứu
VSV Vi sinh vật
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TSS Tổng chất rắn lơ lửng
P
ts
Hàm lượng Photpho trong nước
WHO Tổ chức y tế Thế Giới
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 3
1.2.1. Mục tiêu của đề tài 3
1.2.2. Yêu cầu của đề tài 3
1.2.3. Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.2. Cơ sở khoa học 6
2.1.3. Cơ sở pháp lý 7
2.2. Cơ sở thực tiễn 8
2.3. Định nghĩa, phân loại và phương pháp xử lý nước thải 9
2.3.1. Định nghĩa 9
2.3.2. Phân loại nước thải 9
2.3.3. Các phương pháp xử lý nước thải đang dùng phổ biến hiện nay 12
2.4. Tình hình nghiên cứu thực vật xử lý nước trên thế giới và trong nước. 13
4.2.1. Vài nét về khu ký túc xá ĐH Thái Nguyên. 25
4.2.2. Thực trạng xử lý nước thải khu ký túc xá. 26
4.3. Khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vật thủy sinh trong nước thải
sinh hoạt. 28
4.3.1. Diễn biến số cây trong thời gian làm thí nghiệm. 28
4.3.2. Diễn biến số lá của thực vật thủy sinh trong thời gian làm thí nghiệm. 29
4.4. Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt bằng thực vật thủy sinh 31
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38
5.1. Kết luận 38
5.2. Kiến nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40 1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Môi trường gồm tất cả những gì bao quanh chúng ta như không khí, đất
đai, đại dương, lục địa, cũng như tất cả các sinh vật sống ở đó cũng có nghĩa
là môi trường của tất cả chúng ta, của loài người trên trái đất., (Lê Văn Khoa,
2003), [7].
Trong những năm trở lại đây, môi trường toàn cầu có những biến đổi
theo chiều hướng xấu đi đối với cuộc sống của con người và các sinh vật sống
trên trái đất. Do đó vấn đề phát triển bền vững và bảo vệ môi trường đang
được sự quan tâm đặc biệt của phần lớn các quốc gia trên thế giới, cũng như
các tổ chức chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Vì vậy mục tiêu phấn đấu
của cả nhân loại là phát triển bền vững nhằm đảm bảo giữa phát triển bền
vững và bảo vệ môi trường.
Để xử lý môi trường người ta có rất nhiều biện pháp: Từ biện pháp lý
học, hóa học, cơ học đến sinh học. Tùy theo từng điều kiện cụ thể mà áp dụng
Nước thải sinh hoạt có chứa các thành phần ô nhiễm chính như BOD
5
,
COD, Nito, Photpho. Một tính chất đặc trưng nữa của nước thải sinh hoạt là
không phải tất cả các chất hữu cơ đều có thể bị phân hủy bởi các vi sinh vật
và lượng dư thừa này thoát ra khỏi các quá trình xử lý sinh học cùng với bùn.
Vì vậy, lượng nước thải sinh hoạt khi xả ra môi trường sẽ gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng.
Hiện tại, khu ký túc xá chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt.
Nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả thẳng ra ngoài môi trường làm ô nhiễm
nguồn nước mặt, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Mối nguy hại cho môi
trường, hệ sinh thái xung quanh và lưu vực chứa nước thải
Tại Việt Nam, công nghệ xử lý bằng thực vật hay sử dụng thực vật để
xử lý nước thải sinh hoạt là một công nghệ mới được nghiên cứu trong
những năm gần đây nhờ sự hiểu biết về cơ chế hấp thụ, chuyển hóa, chống
chịu và loại bỏ tạp chất của một số loài thực vật. Việc nghiên cứu dùng thực
vật trong xử lý nước bị ô nhiễm cũng đã được thực hiện và áp dụng trên thực
tế đối với một số loài cây như: Bèo tây, Sậy, Thủy trúc, Rau muống, rau Ngổ
Xuất phát từ lí do trên, để khắc phục việc kém hiệu quả xử lý của hệ thống bể
phốt và lợi dụng vào những loại thực vật có khả năng thích nghi và xử lý
được nước thải sinh hoạt. Em xin đề xuất việc: "Nghiên cứu ứng dụng sử 3
dụng Thực vật thủy sinh xử lý nước thải sinh hoạt tại khu kí túc xá K
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên".
1.2. Mục tiêu và yêu cầu, ý nghĩa của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng ô nhiễm từ nguồn nước thải sinh hoạt trong khu
kí túc xá sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
Quá trình đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra rất nhanh. Những đô thị lớn
tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng bị ô nhiễm nước rất nặng
nề. Đô thị ngày càng phình ra tại Việt nam, nhưng cơ sở hạ tầng lại phát triển
không cân xứng, đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại Việt Nam
vô cùng thô sơ. Vì hệ thống cống rãnh thoát nước còn trong tình trạng thô sơ,
không hợp lý cũng như không theo kịp đà phát triển dân số nhanh như trường
hợp ở các thành phố ở Việt Nam như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nha Trang,
Đà Nẵng, Cần Thơ…, việc giải quyết và xử lý nước thải này hầu như không
thực hiện được. Nước thải sau khi qua mạng lưới cống rãnh được chảy thẳng
vào sông rạch và sau cùng đổ ra biển cả mà không qua giai đoạn xử lý, độ ô
nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép,
các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; ôxy hòa tan (DO) đều vượt từ
5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP. Có thể nói rằng người Việt Nam đang làm ô
nhiễm nguồn nước uống chính bằng nước sinh hoạt thải ra hằng ngày.
Một báo cáo toàn cầu mới được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công bố
hồi đầu năm 2010 cho thấy, mỗi năm Việt Nam có hơn 20.000 người tử vong
do điều kiện nước sạch và vệ sinh nghèo nàn và thấp kém. Còn theo thống kê
của Bộ Y tế, hơn 80% các bệnh truyền nhiễm ở nước ta liên quan đến nguồn
nước. Người dân ở cả nông thôn và thành thị đang phải đối mặt với nguy cơ
mắc bệnh do môi trường nước đang ngày càng một ô nhiễm trầm trọng.
Cùng với sự phát triển của nền giáo dục, số lượng các trường ĐH, CĐ ,
Trung cấp và các trung tâm dạy nghề ngày càng tăng. Chính vì vậy, số lượng
các khu nhà trọ, tập thể, khu kí túc xá sinh viên được xây dựng ngày càng
nhiều nhằm đáp ứng nhu cầu tạm trú của sinh viên. Do đó, lượng nước thải
sinh hoạt của khu tập thể, khu kí túc xá ngày càng lớn.
Nước thải sinh hoạt là nước được thải bỏ sau khi sử dụng cho các mục
đích sinh hoạt của cộng đồng: tắm, giặt giũ,tẩy rửa, vệ sinh cá nhân,… Chúng
+ pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazơ của nước, là yếu tố môi
trường ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh
vật trong nước. Trong lĩnh vực cấp nước, pH là yếu tố phải xem xét trong quá 6
trình đông tụ hóa học, sát trùng, làm mềm nước, kiểm soát sự ăn mòn. Trong
hệ thống xử lý nước thải bằng quá trình sinh học thì pH phải được khống chế
trong phạm vi thích hợp đối với các loài vi sinh vật có liên quan, pH là yếu tố
môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và giới hạn sự phát triển của vi
sinh vật trong nước.
- Các thông số hóa học ví dụ như:
+ BOD: Là lượng ôxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân hủy các
chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian.
+ COD: Là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa các hợp chất hóa học trong nước.
+ NO
3
-
:
Là sản phẩm cuối cùng của sự phân hủy các chất hữu cơ có
chứa Nitơ trong nước thải
+ PO
4
-
: là một trong các thành phần dinh dưỡng (N, P, K) rất cần thiết
cho sự sống của sinh vật mà đặc biệt là các loài thủy sinh.
- Các thông số sinh học, ví dụ như:
- Coliform: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường,
xác định mức độ nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước.
2.1.2. Cơ sở khoa học
của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nghị quyết số 22/2006/QĐ - BTNMT về việc bắt buộc áp dụng Tiêu
chuẩn Việt Nam về Môi trường.
- Nghị định số 80/2006/NĐ- CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sô điều của Luật Bảo vệ môi
trường 2005.
- Nghị định số 81/2006/NĐ - CP ngày 9/8/2006 của Chính Phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 21/2008/NĐ - CP ngày 28/02/2008 của Chính Phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ - CP ngày
09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005.
- Thông tư 09/2009-BXD: Quy định chi tiết thực hiện một số nội dung
của Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 của Chính phủ về thoát
nước đô thị và khu công nghiệp.
- Quy chuẩn Việt Nam QCVN 08: 2008, Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia
về chất lượng nước mặt.
- Áp dụng QCVN 14:2008/BTNMT do Ban soạn thảo quy chuẩn kỹ 8
thuật quốc gia về chất lượng nước biên soạn, Tổng cục Môi trường và Vụ
Pháp chế trình duyệt và ban hành theo Quyết định 16/2008/QĐ-BTNMT ngày
31 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Bảng 2.1. Giá trị các thông số ô nhiễm làm cơ sở tính toán giá trị tối đa
cho phép trong nước thải sinh hoạt.
TT Thông số Đơn vị Cột B
1 pH - 5-9
2 BOD
5
hằng ngày vẫn thải vào con suối phía sau khu KTX. Bằng cảm quan cho
thấy nước tại con suối đã chuyển dần sang màu sẫm và có khả năng bị ô
nhiễm do hàm lượng các chất dinh dưỡng quá cao, động vật sống trong
thủy vực nghèo nàn, thực vật trong nước và thực vật nổi đang có dấu hiệu
phát triển mạnh. 9
2.3. Định nghĩa, phân loại và phương pháp xử lý nước thải
2.3.1. Định nghĩa
Tất cả các hoạt động sinh hoạt và sản xuất trong mỗi cộng đồng đều tạo
ra các chất thải, các thể khí, lỏng và rắn. Thành phần chất lỏng, hay nước thải
được định nghĩa như một dạng hòa tan hay trộn lẫn giữa nước (nước dùng,
nước mưa, nước ngầm, ) và chất thải từ sinh hoạt cộng đồng dân cư, các khu
vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, ở
đây cần hiểu là sự ô nhiễm nước lớn hơn khả năng tự làm sạch của chính bản
thân nguồn nước.
2.3.2. Phân loại nước thải
* Nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt là nước thải được loại bỏ sau khi sử dụng cho các
mục đích sinh hoạt của cộng đồng: tắm, giặt giũ, tẩy rửa, vệ sinh cá
nhân, chúng thường được thải ra từ các căn hộ, cơ quan, trường học, bệnh
viện, và các công trình khác. Lượng nước thải của khu dân cư phụ thuộc vào
dân số, vào các chỉ tiêu chuẩn cấp nước và đặc điểm của hệ thống thoát nước.
Thành phần nước thải sinh hoạt gồm 2 loại:
•
Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh
•
Nito hữu cơ, mg/l 35 20 10
Nito amoniac, mg/l 50 30 15
Nitrite, mg/l 0.1 0.05 0
Nitrate, mg/l 0.4 0.2 0.1
Clorua, mg/l 175 100 15
Độ kiềm, mgCaCO3/l 200 100 50
Chất béo, mg/l 40 20 0
Tổng photpho (theo P), mg/l - 8 -
(Nguồn Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật – Hà Nội 2009)
Nước thải sinh hoạt có thành phần với các giá trị điển hình như sau:
COD = 500 mg/l, BOD
5
= 250 mg/l, SS = 220 mg/l, Photpho = 8 mg/l, Nito
NH3 và Nito hữu cơ = 40 mg/l, PH = 6,8, TS = 720 mg/l. [1]
Như vậy nước thải sinh hoạt có hàm lượng các chất dinh dưỡng khá cao,
đôi khi vượt cả yêu cầu quá trình xử lý sinh học.
Một tính chất đặc trưng nữa của nước thải sinh hoạt là không phải tất cả
các chất hữu cơ đều có thể bị phân hủy bởi các vi sinh vật và khoảng 20- 40%
BOD thoát ra kkhỏi quá trình sinh học cùng bùn.
* Nước thải công nghiệp:
Là loại nước thải sau quá trình sản xuất. Đặc tính ô nhiễm và nồng độ
của nước thải công nghiệp rất khác phụ thuộc vào loại hình công nghiệp và
chế độ công nghệ lựa chọn. Trong công nghiệp, nước được sử dụng như là 11
một loại nguyên liệu thô hay phương tiên sản xuất và phục vụ cho các quá
trình truyền nhiệt. Nước cấp cho sản xuất công nghiệp có thể lấy mạng cấp
nước sinh hoạt chung hoặc lấy trực tiếp từ nguồn nước ngầm hay nước mặt
nếu xí nghiệp có hệ thống xử lý riêng. Nhu cầu cấp nước và lưu lượng nước
nghiệp đó và cần được xử lý cục bộ trước khi xả vào mạng lưới thoát nước
chung hoặc vào nguồn nước tùy theo mức độ xử lý.
* Nước thải là nước mưa
Đây là loại nước thải sau khi mưa chảy tràn trên mặt đất và lôi kéo theo
các chất cặn bã, hóa chất BVTV, dầu mỡ, đi vào hệ thống thoát nước.
Hầu hết các khu đô thị, thành phố của nước ta đều có hệ thống thoát nước
thải và thoát nước mưa. Lượng nước chảy về nhà máy gồm nước thải sinh hoạt,
nước thải công nghiệp, nước ngầm thâm nhập và một phần nước mưa. 12
2.3.3. Các phương pháp xử lý nước thải đang dùng phổ biến hiện nay
Phương pháp xử lý cơ học: sử dụng nhằm mục đích tách các chất
không hòa tan và một phần các chất ở dạng keo ra khỏi nước.
Phương pháp cơ học có thể loại bỏ được đến 60% các tạp chất không
hòa tan trong nước thải sinh hoạt và giảm BOD
5
đến 20%.
Thông thường xử lý cơ học chỉ là giai đoạn xử lý sơ bộ trước khi cho
quá trình xử lý sinh học.
Xử lý bằng phương pháp cơ học gồm:
- Song chắn rác trong hệ thống xử lý nước thải.
- Lắng cát trong xử lý nước thải.
- Bể lắng xử lý nước thải.
- Tuyển nổi trong hệ thống xử lý
Phương pháp hóa học và hóa lý: thực chất của phương pháp xử
lý hóa -lý là đưa vào nước thải các chất phản ứng nào đó để tác động với các
tạp chất bẩn, biến đổi hóa học tạo thành chất khác dưới dạng cặn hoặc chất
hòa tan nhưng không độc hại, không gây ô nhiễm môi trường.
Phương pháp hóa lý có thể là giải pháp cuối cùng hoặc là giai đoạn xử
2.4. Tình hình nghiên cứu thực vật xử lý nước trên thế giới và trong nước.
2.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Trên thế giới bãi lọc trồng cây được sử dụng như một giải pháp hữu
hiệu để xử lý nước thải phân tán như sinh hoạt, chăn nuôi, công sở, bệnh viện
trong tự nhiên thân thiện với môi trường, đạt hiệu suất cao, chi phí thấp và ổn
định đồng thời làm tăng giá trị đa dạng sinh học, cải tạo cảnh quan môi
trường. Các nghiên cứu khác tại Đức, Thái Lan, Thụy Sỹ, Bồ Đào Nha còn
cho thấy các bãi lọc trồng cây có thể loại bỏ vi sinh vật gây bệnh trong nước
thải sinh hoạt và nước thải đô thị; xử lý phân bùn bể phốt và xử lý nước thải
công nghiệp, nước rò rỉ rác Không những thế, thực vật nước từ bãi lọc trồng
cây còn có thể được chế biến, sử dụng để thức ăn cho gia súc, phân bón cho
đất, làm bột giấy, làm nguyên liệu cho sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ và là
nguồn năng lượng thân thiện với môi trường.
* Các loài thực vật thủy sinh chính
- Thủy thực vật sống chìm: Loài thực vật này phát triển dưới mặt nước
và chỉ có thể phát triển được ở nguồn nước có đủ ánh sáng. Chúng gây nên tác
hại như làm tăng độ đục của nước, ngăn cản sự khuếch tán của ánh sáng vào
nước. Do đó các loài thủy sinh thực vật này không hiệu quả trong việc làm 14
sạch chất thải (Water Milfoil, Hydrilla., ).
- Thủy thực vật sống trôi nổi: Rễ của loài thực vật này không bám vào
đất mà lơ lửng trên mặt nước. Nó trôi nổi trên mặt nước theo gió và theo dòng
nước. Rễ chúng tạo điều kiện cho vi khuẩn bám vào để phân hủy chất thải.
(Bèo, Lục Bình, Salvinia, ).
- Thủy thực vật sống nổi: Loài thực vật này có rễ bám vào đất nhưng
thân và lá phát triển trên mặt nước. Loài này thường sống ở những nơi có chế
độ thủy triều ổn định. (Caittails, Bulrush, Sậy, ).
Bảng 2.4. Nhiệm vụ của thủy sinh thực vật trong các hệ thống xử lý
cây mẹ có thể đẻ cây con, tăng số gấp đôi mỗi 2 tuần.
Thành phần hóa học: Người ta đã biết thành phần hoá học của Bèo lục
bình theo tỷ lệ %: Nước 92,6, protid 2,9, glucid 0,9, xơ 22, tro 1,4, calcium
40,8mg%, phosphor 0,8mg%, caroten o,66mg% và vitamin C 20mg%.
Bèo tây được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, dùng ủ nấm rơm, làm
phân chuồng.Cây bèo tây còn có công dụng thủ công nghiệp. Xơ lục bình
phơi khô có thể chế biến để dùng bện thành dây, thành thừng rồi dệt thành
chiếu, hàng thủ công, hay bàn ghế Đặc biệt Bèo tây chống ô nhiễm nguồn
nước như: Bèo làm sạch nước nơi chúng mọc, có khả năng làm giảm bớt ô
nhiễm môi trường. Chỉ cần 1/3 ha bèo mỗi ngày đủ để lọc 2.225 tấn nước bị ô
nhiễm các chất thải sinh học và hóa chất. Ngoài ra cây bèo tây còn có tác
dụng hấp thụ những kim loại nặng (như chì, thủy ngân và strontium ).
2.4.1.2. Rau ngổ
Rau ngổ có tên gọi khác là ngò om có tên khoa học là Limnophila
aromatica, được phân loại vào họ Huyền sâm (hay họ Hoa mõm sói) -
Scrophulariaceae, là cây thân thảo, mọc bò, thân rỗng, giòn, dài 20 – 30 cm,
có nhiều lông, mùi rất thơm; lá mặt nhẵn, mọc đối, không cuống, hơi ôm thân.
Phần lá gần thân nhỏ lại, mép lá có răng cưa nhỏ và thưa. Hoa gần như không
cuống mọc đơn độc ở nách lá.
Thành phần hóa học: trong rau ngổ có 92% nước, 2,1% protit, 1,2% gluxit,
2,1% xenluloza, 0,8% tro, 0,29% vitamin B, 2,11% vitamin C, 2,11% caroten.
Ngổ mọc nhiều nhất trong vùng Đông Nam Á, nơi chúng phát triển dễ
dàng trong môi trường nóng và nhiều nước, như trong ruộng lúa. Chúng mọc
nổi trên mặt nước nhưng cũng có thể trồng trên cạn nếu tưới nhiều nước; khi
đó rau mọc thành bụi.
Người ta thường dùng rau ngổ để chữa các trường hợp ăn uống khó tiêu,
đầy tức bụng, thổ huyết, băng huyết (Theo sách những cây thuốc và vị thuốc Việt
Nam (Giáo sư Đỗ Tất Lợi). Ngoài ra có tác dụng kháng viêm, lợi tiểu tiêu độc
Do thân có nhiều lông và thường mọc ở ao hồ bị nhiễm bẩn nên hấp thu
hoặc có thể ăn sống.
Ngoài ra, còn có thể phân loại rau muống theo điều kiện trồng:
- Rau muống ruộng.
- Rau muống bè.
- Rau muống thúng.
- Rau muống phao. 17
2.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước.
Tại Việt Nam, phương pháp xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh
còn khá mới mẻ, bước đầu đang được một số trung tâm công nghệ môi trường
và trường đại học áp dụng thử nghiệm. Các đề tài nghiên cứu mới đây nhất về
áp dụng phương pháp này tại Việt Nam như " Dùng hệ thống thực vật - chủ
yếu là cây ngổ dại làm giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước ở thôn La Dương" của
Triệu Tiến Chuẩn. Nguyễn Thị Thu Trang đã " Sử dụng hệ thống cây sậy để
cải tạo nguồn nước thải ở nông thôn". " Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước thải
bằng các loại thực vật thủy sinh phổ biến và ngưỡng chịu đựng của chúng đối
với thành phần ô nhiễm" chủ nhiệm đề tài PGS.TS Bùi Xuân An. Cơ quan chủ
trì ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh 2007. Theo GS.TSKH Nguyễn Nghĩa
Thìn (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) thì Việt
Nam có đến 34 loại cây có thể sử dụng để làm sạch môi trường nước. Các loài
cây hoàn toàn dễ kiếm tìm ngoài tự nhiên và chúng cũng có sức sống cũng
khá mạnh mẽ. Nghiên cứu xử lý nước thải sinh hoạt bằng bãi lọc ngầm trồng
cây dòng chảy thẳng đứng trong điều kiện Việt Nam do PGS.TS. Nguyễn Việt
Anh và nhóm nghiên cứu thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy kết quả về
hiện quả loại bỏ các chất ô nhiễm như : với sơ đồ bậc 1, chất lượng nước đầu
ra sau bể lọc trồng cây cho phép đạt tiêu chuẩn nước loại B đối với các chỉ
tiêu COD, SS, TP.
* Các công trình đã công bố thuộc lĩnh vực của đề tài
nhiên và Công nghệ quốc gia) đã phối hợp nghiên cứu thành công quy trình xử
lý nước thải chứa kim loại nặng bằng phương pháp hóa học và sinh học. Quy
trình xử lý này sử dụng các chất có nguồn gốc sinh học để làm chất hấp thụ và
một số thực vật thủy sinh để xử lý công đoạn cuối cùng. Từ đó không gây ảnh
hưởng đến môi trường và ngược lại môi trường trong sạch hơn vì thực vật.
- Những vật liệu rất dễ kiếm và rẻ tiền lại phù hợp với điều kiện kinh tế
nước ta như: rong, rêu, bèo, tảo biển, rau muống, sậy, phụ phế liệu nông thủy
sản, Điều đặc biệt là quy trình này ở nước ngoài hầu như không có, đa số các
nước trên Thế giới đều dùng phương pháp trao đổi Ion - một phương pháp hiện
đại nhưng giá thành rất cao. Một ưu điểm nữa là không gian dành cho quy trình
xử lý nước thải bằng thực vật thủy sinh là không cần quá lớn. Có thể kể đến một
số thành tựu nghiên cứu về thực vật thủy sinh trong xử lý nước thải như sau:
"Sử dụng hê thống cây sậy để cải tạo nguồn nước thải ở nông