Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải - Pdf 29

- 1 -
LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Quang Long người
thầy đã hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em rất chu đáo, nhiệt tình, trách nhiệm
trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lý luận văn
học, khoa Ngữ văn, phòng Sau đại học - Trường ĐH Sư phạm Hà NộiII đã
tạo điều kiện và giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và những người thân
trong gia đình đã dành cho tôi sự quan tâm, giúp đỡ, sẻ chia về mọi mặt trong
suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá học.

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn Phạm Thị Hoà - 2 -

1. Lí do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 6
3. Mục đích nghiên cứu 10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5.1. Đối tượng nghiên cứu 10
5.2. Phạm vi nghiên cứu 11
6. Phương pháp nghiên cứu 11
7. Dự kiến đóng góp mới 11
NỘI DUNG 12
Chương 1. 12
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ ĐẶC
ĐIỂM CỦA NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN
ĐẠI 12
1.1. Khái niệm nhân vật văn học và vai trò của nhân vật văn học 12
1.1.1. Phương diện từ ngữ 12
1.1.2. Một số quan niệm về nhân vật trong nghiên cứu lí luận văn học 12
1.2. Vai trò của nhân vật văn học 15
1.3. Loại hình nhân vật văn học 16
1.3.1. Nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ 16
1.3.2. Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện 17
1.3.3. Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật 18
1.4. Một số đặc điểm cơ bản của nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện
đại (từ 1945 đến nay) 20
1.4.1. Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 20
1.4.1.1.Nhân vật truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954 20
1.4.1.2. Nhân vật truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 22
1.4.2. Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 đến nay 24
Chương 2. 26
- 4 -

3.4. Thủ pháp tương phản trong khắc họa nhân vật 90
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 - 5 -
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nhân vật là một trong những phương diện quan trọng bậc nhất của
tác phẩm văn học . Do vậy, nghiên cứu văn chương từ góc độ này sẽ làm sáng
tỏ nhiều điều về thể loại, trào lưu, quan niệm văn học, phong cách sáng tạo
Bởi xét đến cùng, văn học không thể thiếu vắng nhân vật. Nhân vật là phương
tiện cơ bản để qua đó nghệ sĩ miêu tả và thể hiện quan niệm của mình về đời
sống. Có thể thấy, văn học ở bất kỳ thời đại nào, trong bất kỳ loại thể nào
cũng đều phản ánh mối quan hệ rất mật thiết của nó đối với đời sống. Và
nhằm thể hiện được những bức tranh sinh động của đời sống, văn học phải
mượn đến nhân vật (những chủ thể nhất định) để mô hình hóa thực tại. Như
thế, việc chiếm lĩnh các mặt giá trị của tác phẩm sẽ khó có thể thực hiện được
nếu không tìm hiểu phương diện nhân vật – một trong những thành quả nghệ
thuật quan trọng trong sáng tác của mỗi nhà văn.
1.2. Nguyễn Khải (1930 - 2008) là một trong những nhà văn tiêu biểu
của nền văn học Việt Nam hiện đại. Sáng tác của ông gồm nhiều thể loại:
truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, ký, tạp văn. Ở thể loại nào, ông cũng gặt hái
được những thành công và được đông đảo bạn đọc đón nhận. Do đó, nghiên
cứu thế giới nhân vật trong các sáng tác nói chung và trong truyện ngắn nói
riêng của Nguyễn Khải là rất cần thiết để tìm hiểu quá trình sáng tác cũng như
giá trị tác phẩm của nhà văn. Mặt khác, qua đây, luận văn góp thêm cơ sở
vào việc đánh giá tài năng, phong cách nghệ thuật và vị trí văn học sử của
Nguyễn Khải trong nền văn học Việt Nam.

sắc đến số phận và hạnh phúc của con người bình thường. Tập truyện bộc lộ
- 7 -
giá trị nhân đạo tích cực, khơi gợi và thức tỉnh con người về thái độ sống có
trách nhiệm…
Một trong những người nghiên cứu tập trung và đưa ra nhiều nhận xét
xác đáng về truyện ngắn Nguyễn Khải, theo chúng tôi là tác giả Phan Cự Đệ.
Trên báo Văn nghệ 1969, ông đã khẳng định tài năng Nguyễn Khải trong sự
nhìn nhận, phát hiện vấn đề nhưng đồng thời cũng cho rằng nhân vật của
Nguyễn Khải mới có cái lõi của tính cách mà chưa có đầy đủ tính đa dạng
toàn vẹn của nhân vật hiện thực. Ngoài ra, ở hai chuyên luận về văn học Việt
Nam hiện đại, Phan Cự Đệ cũng dành khá nhiều tâm huyết để bàn về các sáng
tác của nhà văn này.
Khi nói về đặc điểm ngòi bút Nguyễn Khải, Chu Nga trên Tạp chí văn
học 2/1974, cho rằng: Nhân vật của Nguyễn Khải chỉ là con người chịu sự
điều khiển chứ chưa phải là con người tự làm chủ mình. Bà còn nhận xét:
hình như Nguyễn Khải xây dựng tác phẩm thường không trên cơ sở của hình
tượng mà trên cơ sở của vấn đề, một vấn đề được định ra từ trước khi tác
phẩm hình thành. Điều này chứng tỏ bà đã cảm nhận việc khắc hoạ nhân vật
không phải là mối quan tâm của ông mà cái chính là nhà văn quan tâm đến
tính vấn đề của tác phẩm.
Bước vào thập niên 80, các ý kiến của giới nghiên cứu đều xoay quanh
những sáng tác của Nguyễn Khải sau đổi mới.
Mở đầu là cuộc bàn luận đầy hào hứng, sôi nổi của hai nhà nghiên cứu
phê bình Lại Nguyên Ân và Trần Đình Sử về những sáng tác của Nguyễn
Khải. Hai ông đều cho rằng sáng tác của Nguyễn Khải mang cảm hứng
nghiên cứu và phân tích. Lại Nguyên Ân đưa ra ý kiến “ Diện mạo nhân vật, ở
anh Khải nhiều khi chỉ rõ nét do suy nghĩ, tư tưởng của nó” và nó giống như
một kiểu mô tả, một kiểu thể hiện những sự thật đang tồn tại một cách khách
quan.
- 8 -

Đào Thuỷ Nguyên trong Phong cách hiện thực tỉnh táo và thế giới
nhân vật Nguyễn Khải trên Tạp chí tác phẩm mới số 3.1998, cũng khẳng định
sự phong phú của thế giới nhân vật Nguyễn Khải thể hiện ở chỗ bao gồm
“nhiều kiểu người, đại diện cho những tầng lớp nghề nghiệp và trình độ xã
hội khác nhau”, chúng tỏ sự am hiểu của nhà văn cả về bề rộng và bề sâu tâm
lý, tính cách của nhiều kiểu người trong xã hội.
Nguyễn Thị Bình trong Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết TCVH số
7,1998, đã diện phong cách văn xuôi Nguyễn Khải là có khả năng biết thích
ứng và có một tư duy tiểu thuyết. Chính những yếu tố ấy đã khiến Nguyễn
Khải luôn là gương mặt đáng chú ý của văn xuôi đương đại nước ta. Khi nói
về nhân vật mà Nguyễn Khải ưa thích, tác giả cho rằng “Trí tuệ là phẩm chất
hàng đầu của các nhân vật mà nhà văn tâm đắc” và “ Nguyễn Khải đặc biệt
say mê loại nhân vật có khả năng thích ứng với thời thế”. Nét nổi bật ở văn
xuôi Nguyễn Khải là sự quan tâm đến tư tưởng vì thế “ Nhân vật truyện là
nhân vật tư tưởng”.
Tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, chưa có công trình
chuyên biệt nào nghiên cứu thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Khải
một cách qui mô, hệ thống. Hầu hết các bài viết chỉ dừng lại ở việc khai thác
một vài khía cạnh của tác phẩm, bàn về thi pháp học, phong cách của Nguyễn
Khải… Vì thế, luận văn này sẽ đi sâu khai thác phương diện nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Khải. Trên cơ sở đó, góp phần làm rõ hơn về sáng tác
của ông đồng thời khẳng định thêm tính hữu hiệu của việc nghiên cứu văn
học từ sự phân tích thế giới nhân vật.
- 10 -
3. Mục đích nghiên cứu
- Vận dụng lí thuyết về nhân vật văn học vào nghiên cứu truyện ngắn
Nguyễn Khải nhằm chỉ ra những nét độc đáo của thế giới nhân vật được thể
hiện cụ thể qua các dạng thức và đặc điểm nhân vật, qua nghệ thuật xây dựng
nhân vật của nhà văn.
- Từ kết quả nghiên cứu đã thu được, luận văn góp phần làm sáng rõ

6.3. Phương pháp so sánh
7. Dự kiến đóng góp mới
7.1. Luận văn là công trình nghiên cứu thế giới nhân vật thuộc thể loại
truyện ngắn và vận dụng lý thuyết nhân vật để nghiên cứu hệ thống tác phẩm
văn học của một nhà văn trong sự vận động của đời sống và của nhận thức, tư
duy văn học trong những giai đoạn lịch sử cụ thể.
7.2. Phát hiện được các kiểu loại nhân vật tiêu biểu trong truyện ngắn
Nguyễn Khải giai đoạn trước và sau năm 1975, đồng thời chỉ ra những nét
đặc sắc của nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm của ông.
7.3. Góp phần làm rõ cá tính sáng tạo, phong cách nghệ thuật, những
đóng góp và vị trí văn học sử của Nguyễn Khải trong dòng chảy văn học dân
tộc.
- 12 -
NỘI DUNG
Chương 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1. Khái niệm nhân vật văn học và vai trò của nhân vật văn học
1.1.1. Phương diện từ ngữ
Thuật ngữ nhân vật xuất hiện từ rất sớm (tiếng Hy Lạp: persona, tiếng
Anh: personage, tiếng Nga: personaj). Theo tiếng Hy Lạp cổ, persona lúc đầu
có nghĩa là "chiếc mặt nạ" - một dụng cụ biểu diễn của diễn viên trên sân
khấu. Về sau, từ này được dùng phổ biến hơn và trở thành thuật ngữ chỉ nhân
vật văn học.

chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa. Nhân vật do đó là nơi tập
trung giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm văn học” [36,tr86].
Trong giáo trình Lý luận văn học, GS Trần Đình Sử cho rằng: “Nói đến
nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm
bằng phương tiện văn học. Đó là những nhân vật có tên như Tấm, Cám,
Thạch Sanh, Thúy Kiều,… Đó là những nhân vật không tên như thằng bán tơ,
một mụ nào trong “Truyện Kiều”, những kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu
thường thấy trong kịch. Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại,
thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang
nội dung và ý nghĩa con người. Nhân vật có thể được thể hiện bằng những
hình thức khác nhau nhất. Đó có thể là những con người được miêu tả đầy
đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử như thường thấy trong tác
phẩm tự sự, kịch. Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại
- 14 -
có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có
cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ
tình.[…] Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ
một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi bật trong tác phẩm.[…]
Nhưng chủ yếu vẫn là con người trong tác phẩm.[…] Nhân vật văn học là một
hiện tượng ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra” [39,tr277-278].
Có thể nói, đây là quan niệm khá cụ thể, chi tiết về nhân vật văn học.
Còn đây là cách nhìn nhận về nhân vật của GS Hà Minh Đức:“Nhân vật văn
học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao
chụp mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua
những đặc điểm về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Và cần chú ý thêm một
điều: thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi
rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc
không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác
phẩm mà còn có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng,
tính cách con người… Cũng có khi đó không phải là những con người hoặc

Nói khác đi, nó là chiếc chìa khóa quan trọng giúp nhà văn mở rộng các mảng
đề tài mới, rộng lớn và sâu sắc. Mỗi nhân vật văn học sẽ cung cấp cho nhà
văn và bạn đọc một điểm nhìn để khám phá đời sống.
Thứ ba, nhân vật là nơi thể hiện tư tưởng, quan niệm nghệ thuật cũng
như lý tưởng thẩm mĩ của tác giả về cuộc đời và về con người. “Nhân vật văn
học được sáng tạo ra, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư tưởng, thái độ đối
với cuộc sống. Ca ngợi nhân vật là ca ngợi đời, lên án nhân vật là lên án đời,
xót xa cho nhân vật là xót xa cho đời. Do vậy tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu
- 16 -
cách hiểu về cuộc đời của tác giả đối với con người” [28, tr 96]. Thông qua
nhân vật, nhà văn bao giờ cũng gửi gắm, một quan niệm, một triết lí nào đó
về đời sống và về con người. Chẳng hạn, các nhân vật của Victor Hugo trong
Những người khốn khổ và Nhà thờ Đức Bà thể hiện rõ tư tưởng chống pháp
luật bất công và định kiến xã hội. Trong các sáng tác của văn học hiện đại,
nhân vật thường là nơi thể hiện trạng thái nhân sinh nào đó. Qua nhân vật
Santiago trong Ông già và biển cả, Hemingwey đã ca ngợi bản lĩnh kiên
cường, tinh thần không cam chịu thất bại của con người…
Thứ tư, nhân vật đóng vai trò quyết định tạo nên mối liên kết giữa các
yếu tố thuộc hình thức của tác phẩm. Nói như G. N. Pospelov thì: “Nhân vật
là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức tác phẩm. Nó quyết định phần
lớn vừa cốt truyện, vừa lựa chọn chi tiết, vừa ngôn ngữ, vừa kết cấu” [39;
tr157]. Với chức năng này, nhân vật góp phần quan trọng trong việc tạo nên
tính chỉnh thể sống động của tác phẩm văn học.
Như vậy, những nhận thức về nhân vật văn học và vai trò của nó như
đã trình bày ở trên là vô cùng cần thiết đối với người nghiên cứu. Hệ thống
các khái niệm vừa nêu sẽ là nền tảng lí luận cơ sở vững chắc, phục vụ đắc lực
cho quá trình nghiên cứu đề tài khoa học đã chọn.
1.3. Loại hình nhân vật văn học
1.3.1. Nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ
Dựa vào vị trí, vai trò của nhân vật trong kết cấu tác phẩm văn học,

mĩ nhất định. Chẳng hạn, các nhân vật Nữ Oa, Thánh Gióng, Thạch Sanh, Sọ
Dừa, anh Khoai; các nhà nho, các bậc trượng phu tiết tháo, những anh hùng
cứu nước (Lê Lợi, nghĩa sĩ Cần Giuộc)…
- 18 -
1.3.2.2. Nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực) là nhân vật mang những
tính cách xấu xa, trái với đạo lí và lí tưởng của con người, được nhà văn miêu
tả trong tác phẩm với thái độ chế giễu, lên án, phủ định. Có thể thấy rõ kiểu
nhân vật này thông qua hình tượng: mẹ con Cám (trong truyện Tấm Cám), Mã
Giám Sinh, Sở Khanh (trong Truyện Kiều)…
1.3.3. Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật
1.3.3.1. Nhân vật dẹt (E.M. Forster):là loại nhân vật không được khắc
hoạ đầy đặn các mặt, ít “giống thực” nhất theo đánh giá của một kiểu tri giác
đơn giản về nghệ thuật. Nhân vật dẹt bao gồm:
+ Nhân vật chức năng (mặt nạ) – Theo L. Ghinzburg, đây là loại nhân
vật chủ yếu xuất hiện trong văn học cổ trung đại (nhất là ở cổ tích), được
“giao nhiệm vụ” thực hiện một chức năng cố định nào đó trong tác phẩm và
trong phản ánh đời sống. Nhân vật chức năng không có đời sống nội tâm, các
phẩm chất, đặc điểm luôn tồn tại như một hằng số và nó hành động gần như
theo công thức định sẵn. Vì điều này mà nhân vật chức năng dễ trở thành một
ý niệm hay một biểu tượng trong đời sống tinh thần và được hình thức hoá
trong sáng tác. Trong các tác phẩm văn học dân gian, nhân vật thường là nhân
vật chức năng (nhân vật “mặt nạ”). Đó là loại nhân vật có phẩm chất, đặc
điểm cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối, không có đời sống nội tâm, sự
tồn tại và hành động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong
truyện và trong phản ánh đời sống. Chẳng hạn như, các anh hùng xuất hiện là
để đánh trăn tinh, yêu quái, phù thuỷ cứu người đẹp; công chúa và vua cha
thường bị nạn, được cứu và cuối cùng là phần thưởng cho người anh hùng;
thần tiên, ông Bụt thường đóng vai trò an ủi, thử lòng tốt, ban hạnh phúc; kẻ
địch chuyên làm ác về sau bị trừng trị.
+ Nhân vật loại hình : Theo L. Ghinzburg, nhân vật loại hình là loại

Nhân vật tư tưởng: là loại nhân vật có nhiều điểm tương đồng với nhân
vật chức năng và có hạt nhân cấu trúc là một tư tưởng, một ý thức. Xây dựng
loại nhân vật này nhà văn nhằm tới việc phát biểu hoặc tuyên truyền cho một
tư tưởng nào đó về đời sống, và việc phát biểu, tuyên truyền đó thậm chí đôi
khi được thực hiện lộ liễu, không cần che giấu. Sự đa dạng của tính cách bị
tổn thất. “Tầm vóc” của những nhân vật này được qui định bởi tầm vóc tư
tưởng mà tác giả muốn biểu đạt.
Tóm lại, sự phân loại nhân vật văn học như trên chỉ có ý nghĩa tương
đối. Loại nhân vật nào cũng có sự hấp dẫn riêng của nó. Không thể đem tiêu
chí của nhân vật này để đánh giá khiên cưỡng nhân vật kia và ngược lại cũng
vậy.
1.4. Một số đặc điểm cơ bản của nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam
hiện đại (từ 1945 đến nay)
1.4.1. Nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
Lịch sử văn học dù ở giai đoạn nào cũng có mối quan hệ rất mật thiết
với lịch sử xã hội. Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 diễn ra trong
hoàn cảnh hai cuộc kháng chiến của dân tộc, do vậy không thể không chịu sự
chi phối đặc biệt của hoàn cảnh lịch sử. Tìm hiểu đặc điểm nhân vật trong
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này chúng ta không thể không đặt nó trong
mối quan hệ với đời sống lịch sử xã hội và bối cảnh chung của nền văn học
dân tộc. Để nhận diện rõ nét đặc điểm cũng như sự vận động biến đổi của
nhân vật truyện ngắn trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, dưới
đây chúng tôi xin hệ thống lại những vấn đề mà giới nghiên cứu đã đánh
giá(trong đó có một phần là ý kiến của chúng tôi) theo các mốc thời gian được
xác định như sau:
1.4.1.1.Nhân vật truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954
- 21 -
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954, nhân vật quần
chúng được xem là "một phát hiện nghệ thuật quan trọng bậc nhất" của văn
học thời kì này và nó còn chi phối, để lại dấu ấn trong cả văn học thời chống

vẫn không đi ra ngoài đường biên đã nói ở trên.
Nhìn chung, nhân vật trong truyện ngắn thời kháng chiến chống Pháp
chủ yếu là con người quần chúng, trong sáng, dứt khoát, toàn tâm vì sự
nghiệp chung của dân tộc, của đất được và hòa mình trong tập thể. Do đó,
nhân vật thường ít có những biểu hiện dằn vặt, suy tư, ít được khắc họa cá
tính và quá trình tâm lí cụ thể riêng biệt. Tuy vậy, nhân vật thời kì này lại quy
tụ được những nét tâm lí và tính cách dân tộc, tính cách quần chúng và dấu ấn
của thời đại đã sản sinh ra nó.
1.4.1.2. Nhân vật truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975

Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mĩ 1954 - 1975, để đáp ứng
yêu cầu chính trị, tư tưởng của thời đại, văn học giai đoạn này hướng đến xây
dựng những con người mới luôn đề cao tinh thần trách nhiệm đối với cộng
đồng và vững vàng về lập trường giai cấp. Vì vậy, đọc các sáng tác văn học
thời kì này nói chung, truyện ngắn nói riêng thấy nổi lên hình tượng những
con người cộng đồng, con người hài hòa trong sự thống nhất riêng - chung.
Những nhân vật là cán bộ nông thôn thường trở thành những mẫu người tích
cực tiêu biểu. Họ luôn phải hi sinh lợi ích riêng, gia đình nghèo khó, ít quan
tâm được đến gia đình riêng vì còn phải dành thời gian cho công việc chung
của tập thể. Có thể thấy rõ đặc điểm vừa nêu qua rất nhiều nhân vật trong
truyện ngắn trước 1975 như Nhẫn trong Cỏ non, Biền trong Tầm nhìn xa
Nhân vật trở thành một phương tiện quan trọng để khám phá lịch sử. Nó là
- 23 -
nơi thể hiện tập trung cái nhìn lí tưởng hóa của nhà văn về đời sống và về con
người. Con người trong văn học lúc đó phải là con người mang lí tưởng và
tầm vóc cao cả, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân, tự nguyện
hi sinh "cái tôi" cho "cái chung". Nhân vật vì thế mang tầm vóc con người sử
thi. Họ đại diện đầy đủ cho tầm vóc, sức mạnh, ý chí và khát vọng của cộng
đồng, dân tộc, đất nước. Xuất hiện với tư thế người anh hùng toàn vẹn, nhân
vật trong văn học 1954 - 1975 được chú ý miêu tả ở nhiều phương diện như: ý

Sau năm 1975, đất nước thống nhất và bước vào thời kì mới. Những
biến chuyển to lớn của đời sống chính trị - xã hội có tác động mạnh mẽ đến
đời sống văn học. Lúc này, sự trỗi dậy mãnh liệt của ý thức cá nhân là một
trong những vấn đề nổi bật được đề cập đến trong văn học sau 1975. Nếu
trước năm 1975, nhân vật thường là phương tiện để nhà văn minh họa con
người theo tiêu chí giai cấp, chú trọng nhiều đến tính chung mà xem nhẹ yếu
tố riêng tư, cá biệt của con người thì sau 1975 nhân vật đã bắt đầu được xem
xét và miêu tả với tư cách con người cá nhân nhiều hơn. Xuất phát từ những
cái nhìn mới về con người, sáng tác văn học thời kì này nói chung và truyện
ngắn nói riêng xây dựng những kiểu nhân vật phong phú, đa dạng. Nó không
còn là "con người trùng khít với chính mình" nữa mà là con người phức tạp,
đa diện và đầy bí ẩn. Nhân vật không khoác trên mình tấm áo lí tưởng đẹp đẽ
và hoàn hảo giống như thời đại trước mà hiện ra với tất cả những biểu hiện
phong phú của con người đời thường phàm tục. Những diễn biến phức tạp của
đời sống, những giằng xé nội tâm nhiều khi khiến con người như bị phân thân
và biến dạng. Trong Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, nhân vật người họa sĩ
luôn phải đối diện với chính mình và đã có nhiều sự chất vấn diễn ra trong nội
tâm. Rõ ràng, nếu đem đối sánh với các giai đoạn văn học trước đó thì có thể
- 25 -
thy mt c im ni bt ca nhõn vt truyn ngn thi kỡ ny l ớt cú con
ngi p v hon ho. Ngi c thng nhn ra trong ú mt th gii nhõn
vt ging nh nhng con ngi i thng, phm tc vi bit bao biu hin
phong phỳ, phc tp v c s bớ n. Cỏc phng din tớnh cỏch, cỏ tớnh, s
phn v nhng vn riờng t ca nhõn vt cha bao gi c phi by c
th, sng ng nhiu mt n th nh giai on vn hc ny. Nhà văn nhận
diện con ngời đích thực với nhiều biểu hiện phong phú, đa dạng trong nhu
cầu tự ý thức, có sự hòa hợp giữa con ngời xã hội - con ngời tự nhiên - con
ngời tâm linh, con ngời trong sự thống nhất giữa ánh sáng và bóng tối, cao
cả và thấp hèn, ý thức và vô thức, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thờng,
con ngời cụ thể, cá biệt và con ngời trong tính nhân loại phổ quát Đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status