Xây dựng và sử dụng bài tập sáng tạo trong dạy học chương cơ học SGK Vật lí lớp 8 THCS - Pdf 29



1LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Sau đại
học, khoa Vật lí và Bộ môn phương pháp giảng dạy vật lí trường Đại học sư
phạm Hà Nội 2 cùng các thầy giáo cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học.
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Tạ Tri Phương đã
tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên vật lí và các em học sinh
trường THCS - THPT Hai Bà Trưng Thị xã Phúc Yên Tỉnh Vĩnh Phúc đã
giúp đỡ tác giả trong đợt thực nghiệm sư phạm.
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã luôn động viên, chia sẻ trong thời gian học tập khoá học này.

Hà Nội, tháng 11 năm 2012
Tác giả Lê Ngọc Đông
3MỤC LỤC

Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Những đóng góp của đề tài nghiên cứu 4
8. Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG
LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 6
1.1. Sáng tạo và năng lực sáng tạo 6
1.1.1. Khái niệm sáng tạo 6
1.1.2. Khái niệm năng lực 7
1.1.3. Năng lực sáng tạo 7

2.1. Đề xuất các nguyên tắc xây dựng BTST 37
2.1.1. Khái niệm BTST của Radumovxki 37
2.1.2. Quan niệm về STKH-KT theo lí thuyết TRIZ 39
2.1.3. Đề xuất các nguyên tắc xây dựng BTST chương "Cơ học" Vật lí lớp 8
THCS 41
2.1.4. Đề xuất các tiêu chí của biểu hiện năng lực sáng tạo 44
2.2. Xây dựng hệ thống BTST trong dạy học chương "Cơ học " Vật lí lớp 8
THCS 45
2.2.1. Các mục tiêu trong dạy học chương "Cơ học " Vật lí 8 THCS 45
2.2.2. Xây dựng hệ thống BTST chương "Cơ học " Vật lí 8 THCS 61
2.2.3. Sử dụng BTST trong dạy học chương " Cơ học " Vật lí 8 THCS 65 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 81
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm 82
3.2. Tiến trình thực nghiệm sư phạm 82
3.2.1. Chọn trường thực nghiệm 82
3.2.2. Chọn lớp thực nghiệm 82
3.2.3. Thời gian thực nghiệm sư phạm 82
3.2.4. Quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm 83
3.3. Kết quả TNSP 83
3.3.1. Kết quả định tính 83
3.3.2. Kết quả định lượng 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93

9 ThN Thực nghiệm
10 THCS Trung học cơ sở
11 TNSP Thực nghiệm sư phạm
12 VL Vật lí
13 TRIZ Lí thuyết giải các bài toán sáng chế
14 SGK Sách giáo khoa
15 Nxb Nhà xuất bản
16 DHVL Dạy học vật lí

7
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ của sự bùng nổ về khoa học - công nghệ, là thế kỷ mà
"người ta coi sự sáng tạo là yếu tố đặc trưng của con người". Hiện nay, trên thế giới
cứ mỗi giây trôi qua có hàng nghìn ý tưởng sáng tạo được nảy sinh và cứ mỗi giây
trôi qua có hàng trăm phát minh ra đời.
Do vậy, khối lượng kiến thức (thông tin) cần cho một con người tăng nhanh

hứng thú học tập cho học sinh”. Dạy học hướng tới việc phát huy tích cực, vai trò
chủ động sáng tạo của học sinh là xu thế chung của đổi mới giáo dục phổ thông hiện
nay.
Việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh có thể thực hiện ở tất cả các
bộ môn trong chương trình giáo dục phổ thông. Trong dạy học vật lí, bằng nhiều
phương pháp và biện pháp khác nhau có thể giúp học sinh nâng cao chất lượng học
tập và phát triển năng lực sáng tạo. Hoạt động giải bài tập vật lí vừa giúp HS nắm
vững các kiến thức vật lí, vừa phát triển tư duy vật lí và năng lực sáng tạo. Nó có ý
nghĩa to lớn trong việc giáo dục, giáo dưỡng và rèn luyện kỹ thuật tổng hợp cho HS
ở trường phổ thông. Bài tập vật lí là phương tiện dạy học được sử dụng ở mọi giai
đoạn của quá trình dạy học vật lí. Giải các BTVL được xem như mục đích, là
phương pháp dạy học, là một phần hữu cơ của quá trình dạy học vật lí vì nó không
chỉ có tác dụng giúp cho học sinh phát triển tư duy vật lí và thói quen vận dụng kiến
thức vật lí vào thực tế mà còn có tác dụng tích cực trong việc hình thành kiến thức
mới và làm phong phú các khái niệm vật lí.
Trong thực tế dạy học vật lí ở trường phổ thông cho thấy hoạt động giải bài
tập vật lí của học sinh chưa được chú trọng đúng mức. Đa số các em chỉ biết áp
dụng công thức trong SGK một cách máy móc để tính toán ra đáp số mà không hiểu
bản chất các hiện tượng vật lí. Vì vậy đối với môn vật lí, HS cần phải nắm được
những kiến thức cơ bản, nắm được các khái niệm chuyên ngành, nắm được các định
luật vật lí, biết vận dụng thành thạo những kiến thức đã học vào việc giải bài toán
và có thể giải bằng các cách khác nhau. Thông qua việc giải BTVL có thể rèn luyện
NLST cho các em HS. Tuy vậy vấn đề này chưa được chú trọng trong quá trình 9biên soạn sách giáo khoa, sách bài tập. Đặc biệt là chưa có các tiêu chí cho khái
niệm bài tập sáng tạo, do đó việc lựa chọn bài tập sáng tạo còn mang tính mò mẫm,

5.3. Đề xuất nguyên tắc xây dựng “ bài tập sáng tạo” chương “Cơ học” vật lí
lớp 8 THCS và xây dựng một hệ thống bài tập sáng tạo phục vụ cho việc dạy học
chương “Cơ học” vật lí lớp 8 THCS.
5.4. Đề xuất các tiêu chí để đánh giá được các biểu hiện của “năng lực sáng
tạo”.
5.5. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hệ thống bài tập sáng tạo đã xây
dựng.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ trên, đề tài sử dụng các phương pháp chủ
yếu :
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận : Đọc sách báo, tài liệu, các công trình
nghiên cứu có liên quan đến bài tập sáng tạo từ đó phân tích đánh giá, tổng hợp, vận
dụng để làm cơ sở lí luận của đề tài.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra bằng phiếu : Tìm hiểu thực trạng dạy học ở một số trường THCS
và chuẩn bị điều kiện cho thực nghiệm sư phạm, ngoài ra điều tra để xác định vốn
kiến thức, hiểu biết ban đầu của học sinh liên quan đến nội dung kiến thức trong
chương "Cơ học" vật lí 8. Kết quả thu được sẽ được xử lí bằng phương pháp thống
kê toán học để rút ra kết luận.
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên về phương pháp dạy và phương pháp học
của học sinh để từ đó vận dụng bài tập sáng tạo vào dạy học sao cho có hiệu quả.
6.3. Thực nghiệm sư phạm :
- Nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của giả thuyết khoa học ban đầu.
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để rút ra kết quả định lượng về
điều tra và tổ chức thực nghiệm.
7. Những đóng góp của đề tài nghiên cứu
7.1. Đóng góp về mặt lí luận
- Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến khái niệm “
sáng tạo” và “ dạy học sáng tạo”.

12 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN NĂNG LỰC
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

1.1. Sáng tạo và năng lực sáng tạo
1.1.1. Khái niệm sáng tạo
Trong từ điển Tiếng Việt thì "sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới,
không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có".
"Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần
hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị giúp giải quyết một khó
khăn, bế tắc nhất định " (Theo bách khoa toàn thư Liên Xô, tập 42, tr 54)
Sáng tạo là bất cứ hoạt động nào của con người tạo ra được cái mới, không
kể rằng cái được tạo ra ấy là một vật nào đó của thế giới bên ngoài hay một cấu tạo
nào đó của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ trong bản thân con người.
Sáng tạo thường được hiểu là đề ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích phù
hợp với hoàn cảnh. Người ta thường nghĩ, sáng tạo là khả năng chỉ có ở các nhà
khoa học. Nhưng thực ra trong mọi lĩnh vực hoạt động và mọi người đều có khả
năng sáng tạo.
Ngoài tính cách tân của sản phẩm, sáng tạo còn có những đặc điểm tâm lí là

Năng lực gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng.
Song kĩ năng, kĩ xảo liên quan đến việc thực hiện một loạt hành động hẹp, chuyên
biệt, đến mức thành thạo, tự động hóa, máy móc. Còn năng lực chứa đựng yếu tố
mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết nhiệm vụ thành công trong
nhiều tình huống khác nhau, trong một lĩnh vực rộng hơn.
Năng lực của mỗi người một phần dựa trên cơ sở tư chất. Nhưng điều chủ
yếu là năng lực hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt động tích cực của con
người dưới sự tác động của rèn luyện, dạy học và giáo dục. Việc hình thành và phát
triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng
lực. 141.1.3. Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh
thần, tìm ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu
biết đã có vào hoàn cảnh mới.
Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể.
trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì
càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, phương án lựa chọn. Vì
vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với hình thành kiến
thức về một lĩnh vực nào đó.
Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đàu từ một ý tưởng mới, bắt
nguồn từ NLST của mỗi người. Người có năng lực sáng tạo thường có đặc trưng
sau :
- Có tư duy độc lập và biết nhận xét, phê phán theo quan điểm riêng không
phụ thuộc, gò bó vào những cái cũ, không tư duy theo lối mòn.
- Luôn đi vào các vấn đề bản chất nhằm tìm ra quy luật.

giới hạn tiến bộ của xã hội loài người nói chung và của từng người nói riêng.
Những đặc điểm sinh học mặc dù có ảnh hưởng đến quá trình hình thành tài năng,
xúc cảm, sức khỏe, thể chất của con người, nhưng nó chỉ tạo nên tiền đề của sự phát
triển năng lực.
Mặt khác, những tư chất được di truyền chỉ đặc trưng trong những lĩnh vực
hoạt động hay sáng tạo cụ thể, do trình độ phát triển của những loại hình sản xuất,
khoa học, nghệ thuật và như là hoạt động sáng tạo của cá nhân quyết định. Những
tư chất có sẵn trong cấu tạo của não, trong các cơ quan cảm giác, các cơ quan vận
động và ngôn ngữ là điều kiện để thực hiện có kết quả một hoạt động cụ thể.
Tuy nhiên, sự thành công trong một lĩnh vực đó phần lớn phụ thuộc vào hoàn
cảnh thực tiễn, vào lao động học tập, rèn luyện cũng như vào việc tích lũy kinh
nghiệm của cá nhân.
1.1.4.2 Yếu tố của hoạt động chủ thể
Như đã nói ở trên, năng lực không có sẵn trong con người. Con người bằng
hoạt động của chính mình mà chiếm lĩnh những kinh nghiệm hoạt động của các thế
hệ đi trước, biến thành năng lực của chính mình. Đặc biệt là về mặt khoa học, nghệ
thuật, ngày nay trên thế giới có rất nhiều nhà khoa học, nghệ sĩ hoạt động rất thành 16công trong một lĩnh vực nào đó mà một phần rất quan trọng là do đã tiếp thu được
những kinh nghiệm sáng tạo của biết bao thế hệ đi trước.
Lịch sử nhân loại cho thấy : các thiên tài về một lĩnh vực nào đó trước hết là
những người hoạt động rất say mê, tích cực, miệt mài, kiên trì, dồn hết thời gian và
tâm trí vào hoạt động đó. Nhiều nhà khoa học lỗi lạc đều cho rằng " thiên tài, chín
mươi chín phần trăm là do lao động, chỉ có một phần trăm là do bẩm sinh".
Tùy theo đặc điểm của loại hình hoạt động của con người mà các yếu tố bẩm
sinh có thể phát triển mạnh theo hướng này hay hướng khác hoặc có thể bị thui chột

Sự hình thành và phát triển năng lực của học sinh lại phải thông qua chính
hoạt động của học sinh trong mối quan hệ với cộng đồng. Bởi vậy, nhà trường hiện
đại phải là nhà trường hoạt động, lấy hoạt động của học sinh làm động lực chính để
đạt được mục đích đào tạo. Chỉ có dạy học trong nhà trường mới có khả năng tạo ra
những loại hoạt động đa dạng, phong phú, cần thiết, tạo điều kiện phát triển những
năng lực khác nhau ở trẻ em, phù hợp với năng khiếu bẩm sinh của họ và yêu cầu
của xã hội.
Tất nhiên, không phải là nhà trường đóng cửa lại mà dạy; trái lại, chính nhà
trường còn phải tạo điều kiện để cho mỗi cá nhân học sinh giao lưu với các thành
viên khác trong nhà trường cũng như ngoài xã hội.
Chính trong quá trình dạy học có thể lựa chọn kĩ lưỡng những hình thức hoạt
động. Có sự định hướng chính xác sẽ giúp học sinh sớm ý thức được những yêu cầu
của xã hội đối với hoạt động của mỗi người trong những lĩnh vực khác nhau. Nhà
trường cũng tích lũy được những phương pháp tổ chức hoạt động học tập của học
sinh có tính hiệu quả cao, tránh được sự mò mẫm của mỗi cá nhân.
Như vậy, giáo dục, dạy học có thể mang lại những hiệu quả, những tiến bộ
của mỗi học sinh mà các yếu tố khác không thể có được. Đặc biệt là dạy học có thể
đi trước sự phát triển, thúc đẩy sự phát triển.
Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý rằng : trong quá trình dạy học có khả năng
định hướng, thúc đẩy sự phát triển năng lực của trẻ em thì cũng có khả năng gò ép
học sinh theo một khuôn mẫu cứng nhắc, do đó hạn chế sự phát triển đa dạng ở họ.
Tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành
năng lực là phương pháp hữu hiệu để khắc phục xu hướng xấu đó.
1.1.5. Những biểu hiện năng lực sáng tạo và các yếu tố cần thiết cho việc bồi
dưỡng NLST trong học tập của học sinh. 18

19học tập. Hứng thú gây ra sáng tạo và sáng tạo lại thúc đẩy hứng thú mới, HS cần có
hứng thú nhận thức cao, cần có sự khao khát nhận thức cái mới và vận dụng cái mới
vào thực tế như áp dụng kiến thức để làm các bài tập vận dụng, khái quát hóa các
bài tập vận dụng để làm các dạng BT mới.
Yếu tố thứ hai cần thiết để sáng tạo là phải có kiến thức cơ bản vững chắc.
Một quá trình sáng tạo bất kì nào đều bắt đầu từ sự tái hiện những cái đã biết. Tâm
lí học hiện đại không phủ nhận những vai trò của trí nhớ. Dĩ nhiên, chỉ ghi nhớ đơn
thuần, không biết suy nghĩ vận dụng sáng tạo thì đó là kiến thức chết, vô dụng.
Người HS phải vận dụng tri thức đã biết vào tình huống mới, vào giải thích các hiện
tượng vật lí, giải các BTVL trong các trường hợp khác nhau.
L.X.Vưgôtxki đã phê phán những quan điểm không đúng cho rằng sáng tạo
là mảnh đất riêng của những người có tài, thiên tài, còn con người bình thường thì
tuyệt nhiên không có khả năng đó. Ông cho rằng ở những nơi con người biết phối
hợp những cái cũ, tạo ra cái mới đều là sáng tạo. Vì vậy kiến thức cơ bản vững chắc
phải là yếu tố cần thiết cho rèn luyện NLST.
Yếu tố thứ ba để sáng tạo là : HS cần có tính " nghi ngờ khoa học", luôn đặt
câu hỏi " cách làm này hay phương án giải BT này đã tối ưu chưa ?, " "có còn cách
giải khác nào không ?" hay BT "này có thể mở rộng như thế nào? "
Theo P.L Capitxa :" giáo dục khả năng sáng tạo trong con người dựa trên sự
phát triển của tư duy tự lập ". Do đó một yếu tố nữa không thể thiếu của việc rèn
luyện NLST cho HS là : HS cần phải có khả năng tư duy độc lập. Đó là khả năng
của con người trong việc tự xác định phương hướng hoạt động của mình trong tình
huống mới, tự phát hiện và nêu lên các vấn đề cần giải quyết và thực hiện nó. Như
vậy các điều kiện để hoàn thành các phát kiến càng được chuẩn bị tốt bao nhiêu thì
tính chủ động sáng tạo càng được nâng cao bấy nhiêu.
1.1.6. Cơ chế sáng tạo khoa học
21Ví dụ :
- Các định luật Newton và cả thuyết tương đối hẹp của Anhxtanh đều dựa
trên một loạt các tiên đề, chẳng hạn tính đồng nhất và đẳng hướng của không gian,
sự tương đương của khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn,
- Trước khi tìm ra định luật I Newton thì Newton đã có những dữ liệu trực
tiếp của kinh nghiệm cảm tính về chuyển động của các vật và lực. Đặc biệt là những
tài liệu của Galile và những thí nghiệm của Galile.
-Nhiều thế kỉ trước người ta cho rằng để cho vật chuyển động với vận tốc
không đổi cần phải có sự tác động thường xuyên của các vật thể khác vào vật.
Galile làm thí nghiệm về chuyển động của vật trên mặt phẳng nghiêng và
nhận thấy :
Khi vật chuyển động xuống dưới, vật chuyển động nhanh dần (có gia tốc).
Để giữu cho nó đứng yên cần phải dùng sức.
Khi vật đi lên cần phải dùng lực để đẩy nó lên cũng như giữ nó ở phía trên.
Từ các tiên đề và những dữ kiện rút ra được khẳng định bộ phận là :
Một vật nếu không có tác dụng của vật khác sẽ chuyển động thẳng đều mãi
mãi (bằng lôgic). Khi đối chiếu điều khẳng định đó với những dữ liệu E người ta đã
thường xuyên sử dụng những thí nghiệm tương đương với một mặt phẳng nhẵn dài
vô tận. Việc sử dụng thí nghiệm trên đệm không khí hiện nay cũng chỉ có giá trị
giúp cho việc khái quát hóa đó.
1.1.6.2. Chu trình sáng tạo khoa học ( cơ chế Algôrit )
V.G.Razumopxki khi khái quat những lời phát biểu của các nhà khoa học nổi
tiếng như Anhxtanh, Plang, Boocno, Kapitta, đã đề ra chu trình sáng tạo khoa học
gồm 4 giai đoạn (Sơ đồ 1.2). Từ việc khái quát hóa những sự kiện đi đến xây dựng
mô hình trừu tượng của hiện tượng (đề xuất giả thuyết); từ mô hình dẫn đến việc rút

Sơ đồ 1.2 23Trong mọi giai đoạn của chu trình đều cần đến sự sáng tạo nhưng có hai giai
đoạn đòi hỏi sự sáng tạo cao nhất là đưa ra mô hình giả thuyết trừu tượng và đưa ra
các phương án thực nghiệm để kiểm chứng vì ở đây không thể dùng tư duy lôgic
mà nhờ trực giác khoa học. Ví dụ : Tìm ra định luật rơi tự do (Sơ đồ 1.3)

Trong khuôn khổ bài học không cho phép tổ chức quá trình học tập sao cho
HS hoàn toàn "khám phá lại" những định luật VL, nhưng cũng hoàn toàn đủ để cho
họ "trải qua" những phát hiện khoa học, hiểu được vai trò và vị trí của những thành
phần chu trình sáng tạo : Ý nghĩa của dữ kiện xuất phát, vai trò sáng tạo của lí

1.1.7.1. Trí nhớ
Trí nhớ là quá trình tâm lí ghi nhớ, lưu giữ và tái hiện trong óc các thông tin
cá nhân có được trong các hoạt động của mình.
Trí nhớ là chất liệu để tư duy, không có trí nhớ thì không thể tư duy. Tuy
nhiên trí nhớ không phải là sản phẩm của tư duy sáng tạo mà là của tư duy tái hiện.
Để có chất liệu tư duy sáng tạo, cần phải luyện tập trí nhớ, tích lũy sự kiện làm cơ
sở cho tri giác phát triển.
Thành tựu của tâm lí học về đặc điểm của trí nhớ rất có ý nghĩa trong dạy
học. Để có trí nhớ, cần luyện tập, gắn kết các sự kiện có tính chọn lọc và mang ý
nghĩa chủ quan nhận thức. Việc huy động nhiều giác quan đồng thời thu nhận thông
tin là biện pháp giúp ghi nhớ tốt.
Để rèn luyện tư duy sáng tạo đạt hiệu quả, cần phải thực hiện ở giai đoạn sau
khi HS đã lĩnh hội được một số kiến thức và kỹ năng cơ bản thông qua dạy học bài
học lí thuyết và giải các bài tập luyện tập.
1.1.7.2. Ngôn ngữ, kí hiệu, hình vẽ
Ngôn ngữ, kí hiệu, hình vẽ vừa là phương tiện vừa là kết quả của tư duy. Các
đối tượng nhận thức khi phản ánh vào đầu óc chủ thể trở thành biểu tượng tâm lí,
biểu tượng là bản sao của đối tượng thông qua nhận thức chủ quan của chủ thể được
diễn đạt bằng ngôn ngữ. Tư duy của con người luôn gắn với ngôn ngữ. Nói rõ hơn,
con người suy nghĩ bằng ngôn ngữ và bị tác động bởi ngôn ngữ.
Ngoài ra, con người còn tư duy bằng các kí hiệu, hình vẽ. Nó giúp cho tư duy
trở nên gọn hơn. Hình vẽ là một loại kí hiệu mô tả trực quan đối tượng. Hầu hết các
phát minh và sáng chế đều bắt đầu dưới dạng hình ảnh, biểu tượng trong đầu, sau đó
mới là từ ngữ. Trong bất kì giai đoạn nào của tư duy, nếu có thể hãy trình bày suy
nghĩ bằng hình vẽ.
khoảng thời gian xây dựng và tồn tại hình ảnh, người tưởng tượng không tiếp thu
đối tượng đó một cách trực tiếp thông qua các giác quan.

Trích đoạn xuất các nguyên tắc xây dựng BTST Quan niệm về STKH-KT theo lí thuyết TRIZ xuất các tiêu chí của biểu hiện năng lực sáng tạo Các mục tiêu trong dạy học chương "Cơ học " Vật lí 8 THCS
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status