Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm đánh giá mức độ nắm vững một số kiến thức thuộc chương Điện tích Từ trường của học sinh lớp 11 THPT (Nâng cao) - Pdf 29

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THI THIÊN KIM
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN NHIỀU LỰA CHỌN NHẰM ĐÁNH GIÁ
MỨC ĐỘ NẮM VỮNG MỘT SỐ KIẾN THỨC THUỘC
CHƯƠNG “ĐIỆN TÍCH ĐIỆN TRƯỜNG” CỦA HỌC SINH
LỚP 11 THPT (NÂNG CAO)
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số: 60 14 10


“Đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
rèn luyện thành lớp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các
phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình học …”.[22]
Việc đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh
là một trong những phương hướng quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy
học trong thời kỳ này.
Có thể nói kiểm tra, đánh giá là một khâu có vị trí vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình dạy học. Kiểm tra đánh giá tốt sẽ phản ánh được đầy đủ việc dạy của
thầy và việc học của trò, đồng thời giúp cho các nhà quản lý giáo dục hoạch định
được chiến lược trong quá trình quản lý và điều hành.
Cụ thể là đối với thầy, kết quả của việc kiểm tra đánh giá sẽ giúp họ biết trò
của mình học như thế nào để từ đó hoàn thiện phương pháp giảng dạy của mình.
Đối với trò, việc kiểm tra sẽ giúp họ tự đánh giá, tạo động lực thúc đẩy họ chăm lo
học tập.
Đối với các nhà quản lý giáo dục, kiểm tra đánh giá đúng sẽ giúp họ có cái
nhìn khách quan hơn để từ đó có sự điều chỉnh về nội dung chương trình cũng như
3

về cách thức tổ chức đào tạo. Nhưng làm thế nào để kiểm tra đánh giá được tốt? đây
là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và có thể
nói rằng đây là một vấn đề mang tính thời sự.
Từ trước tới nay, chúng ta đã vận dụng nhiều hình thức thi và kiểm tra trong
giáo dục. Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập rất đa dạng, mỗi
phương pháp có những ưu và nhược điểm nhất định, không có một phương pháp
nào là hoàn mĩ đối với mọi mục tiêu giáo dục. Thực tiễn cho thấy, dạy học không
nên chỉ áp dụng một hình thức thi, kiểm tra cho một môn học, mà cần thiết phải tiến
hành kết hợp các hình thức thi kiểm tra một cách tối ưu mới có thể đạt được yêu
cầu của việc đánh giá kết quả dạy học. Các bài thi, kiểm tra viết được chia làm hai
loại: Loại luận đề và loại trắc nghiệm khách quan.
Đối với loại luận đề, đây là loại mang tính truyền thống, được sử dụng một

công việc không đơn giản, đòi hỏi sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là các nhà
giáo (chất lượng bài trắc nghiệm được xác định một phần lớn do kĩ năng của người
soạn thảo bài trắc nghiệm ấy), phải qua nhiều thử nghiệm và mất nhiều thời gian.
Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ ở trên, qua thực tiễn giảng dạy môn vật
lý ở THPT và tính cấp thiết của việc đổi mới kiểm tra đánh giá là những lí do chính
cho việc lựa chọn đề tài theo hướng xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách
quan nhiều lựa chọn với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
dạy học môn vật lý ở trường phổ thông.
Trong khuôn khổ giới hạn của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ dừng lại ở
việc “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm
đánh giá mức độ nắm vững một số kiến thức thuộc chương “Điện tích -Điện
trường” của học sinh lớp 11-THPT ”(Chương trình nâng cao).
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn,
đáp ứng được yêu cầu kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương “Điện tích-
Điện trường” ở lớp 11-THPT (nâng cao).
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
ở trường phổ thông.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và nguyên tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm
khách quan nhiều lựa chọn.
- Nghiên cứu nội dung chương trình Vật lí lớp 11(nâng cao) và chương:
“Điện tích- Điện trường” trên cơ sở đó xác định trình độ của mục tiêu nhận thức mà
học sinh cần đạt được.
- Nghiên cứu những khó khăn, sai lầm của học sinh hay mắc phải khi học
phần này.
- Vận dụng cơ sở lý luận xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
nhiều lựa chọn chương “Điện tích - Điện trường” lớp 11 THPT (nâng cao).

8.2. Đóng góp về mặt thực tiễn.
- Soạn thảo được hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
để kiểm tra đánh giá kết quả học tập chương “Điện tích-Điện trường” lớp 11 THPT
(nâng cao).
- Bổ sung và làm phong phú tài liệu tham khảo cho giáo viên Vật lý THPT,
vì hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan này có thể phục vụ nhiều mục đích như
là: Giúp cho giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp hơn hoặc có
thể làm một lần trắc nghiệm 15 phút, hay là kiểm tra hết chương, thi cuối học kì
nhằm xếp hạng học sinh.
9. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài gồm ba
chương:
Chương I: Cơ sở lí luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
trong dạy học ở trường phổ thông.
Chương II: Soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn chương “Điện tích- Điện trường”.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm. 7
CHƯƠNG I
Cơ sở lí luận của việc kiểm tra đánh giá kiến thức vật lý
I.1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ TRONG QUÁ TRÌNH
DẠY HỌC.
I.1.1: Khái niệm về kiểm tra đánh giá:
Có nhiều định nghĩa về công tác kiểm tra đánh giá. Chúng ta đặc biệt chú ý
đến một số định nghĩa sau đây:

- Truyền đến cho học sinh những kỳ vọng, mong muốn của giáo viên và
điều gì là quan trọng nhất,…
 Xác định thông tin là một quy trình giúp phân biệt những phẩm chất, đặc
tính hoặc hành vi:
- Có thể sử dụng nhiều thủ thuật để xác định một đặc tính đã phân định
hoặc một mục đích học tập: bài kiểm tra, xếp loại, quan sát, phỏng vấn (tìm hiểu).
- Có nhiều loại bài kiểm tra khác nhau: Khác nhau về hình thức: trắc
nghiệm,viết tiểu luận; khác nhau về người ra đề kiểm tra: giáo viên, một cơ quan
trong trường, cơ quan ngoài nhà trường, nhà xuất bản,…; khác nhau về cách thức
làm bài: viết hoặc nói;….
- Việc lựa chọn phương pháp xác định thông tin tuỳ thuộc vào mục đích và
mục tiêu học tập.
 Xử lý, giải thích (đánh giá):
- Đánh giá chất lượng: mức độ tốt xấu của hành vi hoặc việc làm.
- Giải thích những gì thu thập được trong bước xác định thông tin.
- Phán quyết về kết quả học tập của học sinh.
- Yếu tố quyết định để đánh giá một hoạt động chính là bản chất những tiêu
chuẩn hành động mà ta sử dụng. Tiêu chuẩn hành động được áp dụng để xác định
một hành động là “tốt” hay “xấu”.
9

- Tiêu chí đóng vai trò quan trọng trong quá trình đánh giá. Tiêu chí là
những hành động hoặc khía cạnh cụ thể được minh chứng sẽ đạt tới chuẩn mực. Đó
là các tiêu chí chấm điểm, hướng dẫn chấm, giải thích, chỉ dẫn .
 Sử dụng:
- Kết quả kiểm tra và những thông tin khác gắn chặt với những quyết định
của giáo viên về điều chỉnh giảng dạy, quyết định về đánh giá, đáp ứng yêu cầu của
học sinh và phụ huynh họ.
I.1.3 Một số khái niệm liên quan:
Liên quan đến khái niệm về đánh giá, phải kể đến một số thuật ngữ thường

- Chuẩn, tiêu chí đánh giá: Trong giáo dục thì chuẩn, tiêu chí đánh giá là
mục tiêu giáo dục đã được cụ thể hoá thành các mục tiêu cụ thể về kiến thức, kỹ
năng và thái độ của từng môn học hoặc hoạt động học tập. Để có thể đo được kết
quả học tập thì các mục tiêu này phải được lượng. Hoá thành các chuẩn có thể đo
lường được. [18]
I.1.4. Mục đích của kiểm tra đánh giá.
Việc kiểm tra đánh giá có thể có các mục đích khác nhau tuỳ trường hợp
.Trong dạy học kiểm tra đánh giá gồm ba mục đích chính:
- Kiểm tra kiến thức kĩ năng để đánh giá trình độ xuất phát của người học,
có liên quan tới việc xác định nội dung phương pháp dạy học một môn học,
một học phần sắp bắt đầu.
- Kiểm tra đánh giá nhằm mục đích dạy học: Bản thân việc kiểm tra đánh
giá nhằm định hướng hoạt động chhiếm lĩnh kiến thức cần dạy.
- Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập hoặc nhằm
nghiên cứu đánh giá mục tiêu phương pháp dạy học. [20]
Căn cứ vào mục đích kiểm tra đánh giá trên mà mục đích đánh giá trong đề
tài này là:
+ Xác nhận kết quả theo mục tiêu đề ra (Nhận biết, hiểu, vận dụng)
+ Xác định xem khi kết thúc một phần của dạy học, mục tiêu của dạy học đã
đạt đến mức độ nào so với mục tiêu mong muốn.
11

+ Tạo điều kiện cho giáo viên nắm vững hơn tình hình học tập của học sinh
và qua đó giúp cho giáo viên giảng dạy tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học Vật lý.
I.1.5. Chức năng của kiểm tra đánh giá:
Chức năng của kiểm tra đánh giá được phân biệt dựa vào mục đích kiểm tra
đánh giá. Các tác giả nghiên cứu kiểm tra đánh giá nêu ra các chức năng khác nhau
GS. Trần Bá Hoành đề cập ba chức năng của đánh giá trong dạy học: Chức năng sư
phạm; Chức năng xã hội; Chức năng khoa học.

thức kĩ năng. Các bài kiểm tra trắc nghiệm như vậy có thể được sử dụng để nghiên
cứu đánh giá mục tiêu dạy học và hiệu quả của phương pháp dạy học. [20]
I.1.6. Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của học sinh:
Kiểm tra, đánh giá kiến thức kĩ năng của học sinh chỉ có tác dụng khi thực
hiện tốt các yêu cầu sau:
I.1.6.1. Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá:
- Phản ánh trung thực kết quả học tập của học sinh so với yêu cầu quy định.
- Tổ chức thi và chấm thi phải nghiêm minh.
Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá thì phải khách quan
trong các khâu: ra đề, tổ chức thi, cho điểm, và tuỳ theo đặc trưng môn học mà lựa
chọn hình thức thi phù hợp.
I.1.6.2. Đảm bảo tính toàn diện:
Để kiểm tra đánh giá được kết quả học tập của học sinh về khối lượng và
chất lượng kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh được, kĩ năng vận dụng môn học, kết
quả phát triển năng lực tư duy sáng tạo, thái độ, tình cảm…. Bên cạnh đó còn đánh
giá cả về số lượng, nội dung và hình thức của câu hỏi dùng để kiểm tra đánh giá.
I.1.6.3. Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống:
- Cần kiểm tra, đánh giá học sinh thường xuyên trong mỗi tiết học sau mỗi
phần kiến thức.
- Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống.
I.1.6.4. Đảm bảo tính phát triển:
13

- Hệ thống câu hỏi theo mục tiêu đã đề ra (nhận biết, hiểu, vận dụng).
- Trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến bộ trong học
tập của học sinh.
- Đảm bảo tính công khai trong đánh giá. [21]
I.1.7. Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá:
Để đảm bảo tính khoa học của việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng thì

nay vốn quen thuộc tại các trường học của ta cũng là những bài trắc nghiệm nhằm
khảo sát khả năng của học sinh về các môn học, và điểm số về các bài khảo sát ấy là
những số đo lường khả năng của chúng.
Thuật ngữ “luận đề” ở đây không chỉ giới hạn trong phạm vi các bài “Luận
văn” mà nó bao gồm các hình thức khảo sát thông thường trong lối thi cử, chẳng
hạn như những câu hỏi lí thuyết, những bài toán, các chuyên gia đo lường gọi
QUAN SÁT
TRẢ LỜI NGẮN (TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN)
(objective test)
ĐA PHƯƠNG ÁN (MCQ)
(Multiple Choice Question)

VẤN ĐÁP
VIẾT
TRẢ
LỜI
NGẮN
TIỂU LUẬN
Đúng-Sai Điền Ghép
CÁC PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGIỆM
(THI VÀ KIỂM TRA)
15

chung các hình thức kiểm tra này là “trắc nghiệm luận đề” (essay-type test) cho
thuận tiện để phân biệt với các loại trắc nghiệm gọi là “Trắc nghiệm khách quan”
(objective test). Thật ra, việc dùng danh từ “khách quan” này để phân biệt với hai
loại kiểm tra nói trên cũng không đúng hẳn, vì trắc nghiệm luận đề cũng không nhất
thiết là trắc nghiệm “chủ quan” và trắc nghiệm khách quan không phải là hoàn toàn
“khách quan”.
Giữa luận đề và trắc nghiệm khách quan có một số khác biệt và tương đồng,

chỉ sử dụng ba mức độ đầu:
- Nhận biết: Nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, là mức độ, yêu
cầu thấp nhất của trình độ nhận thức thể hiện ở chỗ học sinh có thể và chỉ cần nhớ
hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một
khái niệm, một sự vật, một hiện tượng. Học sinh phát biểu đúng một định nghĩa,
định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được.
- Thông hiểu: Là hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, sự vật,
giải thích được, chứng minh được, là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ
thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các
mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết.
- Vận dụng: Vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt
ra, là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương
pháp, nguyên lý hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó. Yêu cầu áp dụng
được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định luật, công thức để giải
quyết một vấn đề trong học tập hoặc thực tiễn. Đây là mức độ thông hiểu cao hơn
mức độ thông hiểu trên.
I.2.3. Cách phát biểu mục tiêu:
Các câu phát biểu mục tiêu cần:
- Phải rõ ràng, cụ thể.
- Phải đạt tới được trong khoá học hay đơn vị học tập.
- Phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học.
- Phải quy định rõ kết quả của việc học tập, nghĩa là các khả năng mà
người học sẽ có khi họ đã đạt đến mục tiêu.
17

- Phải đo lường được.
- Phải chỉ rõ những gì người học có thể làm được vào cuối giai đoạn học
tập. [15]
I.3. PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
NHIỀU LỰA CHỌN:

những câu lựa chọn, trong đó có cả những câu rõ ràng là không thích hợp.
I.3.1.c.Trắc nghiệm điền khuyết:
Là hình thức trắc nghiệm được trình bày dưới dạng những câu hỏi với giải
đáp ngắn, hay cũng có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ để trống
mà học sinh phải điền vào bằng một từ hay một nhóm từ ngắn. Câu trắc nghiệm
điền khuyết có ưu nhược điểm sau:
- Ưu điểm:
+ Khảo sát được khả năng nhớ.
+ Dễ biên soạn.
+ Thí sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường.
+ Thích hợp cho các môn ngoại ngữ, xã hội và các lớp cấp dưới.
- Nhược điểm:
+ Cách chấm không dễ dàng, thiếu yếu tố khách quan khi chấm điểm. Đặc
biệt nó chỉ kiểm tra được khả năng nhớ, không có khả năng kiểm tra phát hiện sai
lầm của học sinh. [17]
I.3.1.d. Phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn:
Như đã đề cập đến ở phần lí do chọn đề tài và những ưu khuyết điểm của
phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn với phương pháp tự luận và
các phương pháp trắc nghiệm khác. Đây là phương pháp mà chúng tôi sử dụng ở
chương sau: Câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có những ưu khuyết điểm
sau:
- Ưu điểm:
+ Độ tin cậy cao.
+ Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi trả lời câu hỏi.
19

+ Tính chất giá trị tốt hơn.
+ Có thể phân tích được tính chất “mồi” của câu hỏi.
+ Đảm bảo tính khách quan khi chấm.
+ Có thể sử dụng cho mọi loại kiểm tra đánh giá.

+ Câu lựa chọn không nên quá ngây ngô.
+ Độ dài các câu trả lời nên gần bằng nhau.
+ Các câu trả lời nên có dạng đồng nhất.
+ Nên thận trọng khi dùng“Tất cả đều sai” hay“Tất cả đều đúng” làm câu
lựa chọn. [17]
Vì vậy trong đề tài này, chúng tôi chọn trắc nghiệm khách quan bốn lựa
chọn. Theo chúng tôi, nếu ít lựa chọn hơn không bao quát được các khả năng sai
lầm của học sinh và nhiều lựa chọn hơn sẽ có những mồi nhử thiếu căn cứ.
I.3.3 Tiến trình soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn:
- Cách tốt nhất để lên kế hoạch cho một bài trắc nghiệm là liệt kê các mục
tiêu giảng dạy cụ thể hay năng lực cần đo lường (trả lời câu hỏi: Cần khảo sát
những gì ở học sinh?) hay nói cách khác là xác định rõ mục đích của bài trắc
nghiệm.
- Một sự phân tích về nội dung sẽ cho ta một bản tóm tắt ý đồ chương trình
giảng dạy được diễn dạt theo nội dung: Đặt tầm quan trọng vào những phần nào của
môn học và vào mục tiêu nào? Những lĩnh vực nào trong các nội dung đó nên đưa
vào trong bài trắc nghiệm này.
Cần phải suy nghĩ cách trình bày các câu dưới hình thức nào cho hiệu quả
nhất và mức độ khó dễ của bài trắc nghiệm đến đâu.
1.3.3.a. Mục đích của bài trắc nghiệm:
Một bài trắc nghiệm có thể sử dụng nhiều mục đích, nhưng bài trắc nghiệm
ích lợi và có hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo đề nhằm phục vụ cho mục đích
chuyên biệt nào đó.
21

- Nếu bài trắc nghiệm là một bài thi cuối học kì nhằm xếp hạng học sinh thì
các câu soạn thảo phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng, như vậy mới phát hiện
ra được học sinh giỏi và học sinh kém.
- Nếu bài trắc nghiệm là một bài kiểm tra, nhằm kiểm tra những hiểu biết

ra.
Một mẫu dàn bài:
Mục tiêu nhận thứcNội dung
kiến thức
Nhận
biết
(nhớ
số câu)
Hiểu
(áp dụng
tình huống
quen thuộc)
(số câu)
Vận dụng
(vận dụng linh
hoạt giải quyết
những vấn đề
mới)(số câu)
Tổng

Nội dung 1 5 4 3 12
Nội dung 2 4 6 7 17
Nội dung 3 5 9 7 21
Tổng cộng
14
19
17

CÂU

A

B

C

D
BỎ
TRỐNG

GHI
CHÚ
1
………

………

………

………
2
………

………

………

………

- Căn dặn, phải nhắc nhở cho học sinh trước khi làm bài.
+ Học sinh phải lắng nghe và đọc kĩ càng những lời chỉ dẫn cách làm bài trắc
nghiệm.
+ Học sinh phải được biết về cách tính điểm.
24

+ Học sinh phải được nhắc nhở rằng họ phải đánh dấu các câu lựa chọn một
cách rõ ràng, sạch sẽ. Nếu có tẩy xoá thì cũng phải tẩy xoá thật sạch.
+ Học sinh cần được khuyến khích trả lời tất cả các câu hỏi, dù không hoàn
toàn chắc chắn.
+ Học sinh nên bình tĩnh khi làm bài trắc nghiệm không nên ngại quá. [15]
I.4.3. Công việc của giám thị:
- Đảm bảo nghiêm túc thời gian làm bài.
- Xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho tránh được nạn quay cóp.
- Phát đề thi xen kẽ hợp lí.
- Cấm học sinh đem tài liệu vào phòng thi.
- Ra những chỉ thị rõ ràng về kỉ luật phòng thi trước khi môn thi bắt đầu.
[17]
I.4.4. Chấm bài:
- Cách chấm bài thông dụng nhất của thầy giáo ở lớp học là dùng bảng đục
lỗ. Bảng này có thể dùng một miếng bìa đục lỗ ở những câu trả lời đúng, những dấu
gạch ở các câu trả lời đúng hiện qua lỗ.
- Dùng máy tính chấm bài. [17]
I.4.5.Các loại điểm của bài trắc nghiệm:
Có hai loại:
- Điểm thô: Tính bằng điểm số cho trên bài trắc nghiệm. Trong bài trắc
nghiệm mỗi câu đúng được tính 1điểm và câu sai là 0 điểm. Như vậy điểm thô là
tổng điểm tất cả các câu đúng trong bài trắc nghiệm.
- Điểm chuẩn: Nhờ điểm chuẩn có thể so sánh điểm số của học sinh trong
nhiều nhóm hoặc giữa nhiều bài trắc nghiệm của nhiều môn khác nhau.

N
i
i


+ Trung bình lí tưởng: Là trung bình cộng của điểm tối đa có thể có với
điểm may rủi có thể làm đúng (số câu chia cho số lựa chọn). Điểm này không thay
đổi với một bài trắc nghiệm cố định. [17]
Ví dụ : Một bài có 55 câu hỏi, mỗi câu 4 lựa chọn, ta có:
Điểm mau rủi: 55/4 = 13,75
Trung bình lí tưởng:
2
5575,13

= 34,38
I.5. PHÂN TÍCH CÂU HỎI:
I.5.1. Mục đích của phân tích câu hỏi:
- Kết quả bài thi giúp giáo viên đánh giá mức độ thành công của công việc
giảng dạy và học tập để thay đổi phương pháp, lề lối làm việc.Việc phân tích câu
hỏi là để xem học sinh trả lời mỗi câu như thế nào, từ đó sửa lại các câu hỏi để bài
trắc nghiệm có thể đo lường thành quả khả năng học tập một cách hữu hiệu hơn.
I.5.2. Phương pháp phân tích câu hỏi:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status