ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ NGỌC ANH
Tên đề tài:
“ĐIỀU TRA SINH KẾ NÔNG HỘ TẠI XÃ VĨNH KIÊN,
HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện, mỗi sinh viên đang ngồi trên
ghế nhà trường ngoài những kiến thức lý thuyết đã được học thì thực hành
thực tập là khâu vô cùng quan trọng. Việc trang bị kiến thức thực tế cho sinh
viên là rất cần thiết, qua đó giúp sinh viên có điều kiện kiểm tra, kiểm
nghiệm, áp dụng những kiến thức đó một cách có khoa học, linh hoạt vào
thực tế sản xuất, giúp sinh viên có được thời gian nhất định để học hỏi, bổ
sung hoàn chỉnh những kiến thức đã tiếp thu ở trường. Thực hiện phương
châm “học đi đôi với hành - lý luận gắn với thực tiễn”, được sự nhất trí của
ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn, dưới sự hướng dẫn trực
tiếp của PGS.TS Dương Văn Sơn, tôi thực hiện đề tài: “Điều tra sinh kế
nông hộ tại xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”.
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dương Văn
Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu và hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Kinh tế & PTNT đã
dậy dỗ tôi trong những năm tháng học tập tại trường.
Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ UBND xã
Vĩnh Kiên, các hộ điều tra ở Vĩnh Kiên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập
số liệu và kiểm nghiệm những kết quả nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ tôi
trong quá trình nghiên cứu.
Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế 6
Hình 4.1: Bản đồ huyện Yên Bình và xã Vĩnh Kiên 20
MỤC LỤC
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 3
2.1.1. Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế 3
2.1.2. Cơ sở lí luận về sinh kế 6
2.2. Cơ sở thực tiễn 10
2.3. Hộ và kinh tế hộ 11
2.4. Quá trình phát triển và một số nghiên cứu về sinh kế 13
2.4.1. Quá trình phát triển sinh kế hộ nông dân ở một số địa phương
nước ta 13
2.4.2. Một số nghiên cứu về sinh kế 15
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 17
3.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.2. Nội dung nghiên cứu 17
3.3. Phương pháp nghiên cứu 18
3.3.1. Thu thập thông tin số liệu thứ cấp 18
3.3.2. Thu thập thông tin số liệu sơ cấp 18
3.3.3. Các phương pháp chung 19
3.3.4. Phương pháp phân tích sử lý số liệu 19
số làm trong nông nghiệp), nằm trong nhóm các nước đang phát triển và
thuộc trong số các nước nghèo trên thế giới. Với gần 70% dân số sống ở khu
vực nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn được xem là yếu tố quan trọng
nhất đảm bảo cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Trong khi đó cơ sở hạ
tầng còn thấp kém, sản xuất nông nghiệp hay gặp rủi ro, hệ số doanh lợi thấp
hơn so với các ngành khác, dân trí chưa phát triển theo kịp với yêu cầu của thị
trường vì vậy sức hấp dẫn của nông dânđối với các nhà đầu tư trong và ngoài
nước thấp. Bên cạnh đó một thách thức to lớn của khu vực nông thôn là sức
ép chi tiêu cho giáo dục, áp lực của tình trạng gia tăng ô nhiễm và suy thoái
môi trường đến mức báo động. Bởi vậy với trình độ dân trí và tập quán canh
tác còn hạn chế, năng suất lao động chưa cao, thu nhập của nông dân còn thấp
nên tình trạng đói nghèo vẫn diễn ra rộng. Xây dựng các hoạt động sinh kế
bền vững và xóa đói giảm nghèo là những chính sách xã hội cơ bản hướng
vào phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ
hội và điều kiện tiếp cận các nguồn lực để phát triển sản xuất tự vươn lên
thoát khỏi nghèo đói, có một cuộc sống ổn định hơn.
Sinh kế của người dân nông thôn được hiểu là các hoạt động sản xuất
nông nghiệp để nuôi sống cho chính gia đình họ. Vì vậy, xây dựng kế hoạch
chiến lược cải thiện sinh kế góp phần phát triển kinh tế và xóa đói giảm
nghèo. Để cải thiện sinh kế cho nông dân, đặc biệt là các cộng đồng dân tộc
thiểu số cần có sự quan tâm của Nhà nước và các tổ chức xã hội, thông qua
các hoạt động phát triển sản xuất bền vững và sử dụng các cây trồng lương
thực, thức ăn chăn nuôi cần được đầu tư cả về vốn, vật tư nông nghiệp, tiến
bộ khoa học kỹ thuật để phát triển nông nghiệp nông thôn, phát triển các
hoạt động sinh kế, giúp người nông dân cải thiện cuộc sống. Qua đó ta thấy
rằng sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay
2
- Đánh giá được đúng thực trạng của xã để đề ra các giải pháp phù hợp
phát triển xã.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan
2.1.1. Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế
- Khái niệm sinh kế:
Theo một số tác giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm
các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai,
nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để
kiếm sống của con người (Scoones, 1998).
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể
hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Hoạt động nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt (lúa, ngô, khoai, sắn, lạc,…),
chăn nuôi (lợn, gà, trâu, bò,…) và lâm nghiệp (trồng keo, bạch đàn, mỡ,…).
Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ,
buôn bán và các ngành nghề khác.
Như vậy, trong phạm vi báo cáo này, sinh kế của người dân nông thôn
được hiểu là các hoạt động sản xuất nông nghiệp để nuôi sống cho chính gia
đình họ.
- Tiếp cận sinh kế:
Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ. Nó phản ánh bức tranh
tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo
phương thúc truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như
nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp…). Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng
đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích
nhóm trợ giúp chính thức hay các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều
kiện cho các hoạt động được diễn ra (nguồn lực xã hội).
+ Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng
con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. có quan niệm cho
rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi
ở. Mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kĩ năng,
các mối quan hệ,….(Wallmann, 1984). Sinh kế cũng được xem như là “sự tập
5
hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những
quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được
các mục tiêu và ước nguyện của họ”(DFID). Về cơ bản các hoạt động sinh kế
là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng
của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan
hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng.
- Khung sinh kế bền vững:
Khái niệm khung sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo
Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh
kế được cho là bền vững khi con người có thể đố phó và khắc phục được
những áp lực và cú sốc. Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và
tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các
nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái
niệm phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway
(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm
con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản
của họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như
dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản
địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến
Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế
Kết quả
sinh kế
+ Tăng thu
nhập
+ Tăng sự
ổn định
+ Giảm rủi
ro
+ Nâng cao
an toàn
lương thực
+ Sử dụng
bền vững
hơn các
nguồn lực
tự nhiên
lệ
+ Chính
sách
+ Văn
hóa
+ thể
chế
chính
sách
Ký hiệu:
- H: Nguồn lực con người
- N: Nguồn lực tự nhiên
- S: Nguồn lực xã hội
- P: Nguồn lực tài chính
- P: Nguồn lực vật chất
P
H
S
N
P
Phạm
vi rủi
ro
+ Các
cú sốc
+ Các
khuynh
hướng
+ Tính
thời vụ
chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực. Vốn xã hội của mỗi cá
nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ thông qua sự tương tác
giữa cá các cá nhân.
+ Nguồn vốn tài chính: Tài chính là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối
với bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào. Các hoạt động sinh kế của
8
người dân nông thôn cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của các nhân tố
vốn sản xuất (tài chính). Trước đây vốn của các hộ sản xuất thường là vốn tự
có của từng gia đình hoặc vay mượn của bà con họ hàng, láng giềng nên quy
mô sản xuất không được mở rộng. Ngày nay, trong điều kiện của nền kinh tế
thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi hỏi các hộ
sản xuất phải có lượng vốn nhiều hơn để đầu tư, cải tiến công nghệ, đưa thiết
bị máy móc tiên tiến vào một số khâu, công đoạn, công việc này có thể thay
thế kỹ thuật lao động thủ công được, nhằm nâng cao năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng cuộc
sống người dân
* Quan điểm phát triển bền vững
Đây là một quan điểm thuộc xã hội hiện đại khi quan niệm về phát
triển không đơn thuần chỉ là sự tăng trưởng về mặt kinh tế. Lý thuyết này
ra đời sau một thời gian dài, sự phát triển được hiểu thiên lệch là sự tăng
trưởng về mặt kinh tế đã gây nên những hậu quả nặng nề: Sự phân hóa giàu
nghèo một cách sâu sắc, biến đổi khí hậu, môi trường bị tàn phá nặng nề,
sự nóng dần lên của trái đất,…những hậu quả ấy do bởi những hoạt động
phát triển của con người.
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường những năm 70 của thế kỷ XX và được định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau. Phát triển bền vững được hiểu như là: “Sự đáp ứng nhu cầu hiện tại mà
không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng
Lý thuyết này sẽ được vận dụng để giải thích các mối quan hệ kinh tế -
xã hội trong đời sống của người dân thôn (thôn 2, 3, 5, 6). Từ đó đưa ra giải
thích hợp lí cho lựa chọn hợp lí các hoạt động sinh kế của họ. Việc vận dụng
lý thuyết sẽ được đưa vào trong từng phần của bài nghiên cứu. Thôn được
xem như là một chỉnh thể xã hội thống nhất trong hệ thống quản lí chức năng
đoàn thể. Thôn nằm trong sự kiểm soát và quản lí của một hệ thống xã hội lớn
hơn là UBND xã Xuân Trạch. Xét về phạm vi tổ chức, cư dân trong thôn
được quản lý trực tiếp bởi ban điều hành như thôn trưởng, thôn phó, đội
trưởng đơn vị, ban công an, ban mặt trận, ban dân sự,… Là một chỉnh thể
thống nhất, các hộ gia đình trong thôn đều tồn tại với vai trò và chức năng
riêng song đều nằm trong mỗi liên kết chặt chẽ với những mối quan hệ hàng
xóm láng giềng thân thích và môi trường sống xung quanh.
* Quan điểm lý thuyết lựa chọn hợp lý
Lý thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học, nhân
học thế kỷ XVIII - XIX đại diện là các nhà xã hội học như: G.Simmel,
10
Hormans, J.Elster. Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào việc cho rằng con người
luôn hành động có chủ đích với những hành động xã hội. Khi làm việc gì,
người ta cũng suy nghĩ để lựa chọn phương án nhằm sử dụng các nguồn lực có
được để đạt được kết quả tối đa với chi phi thấp nhất. Thuật ngữ “lựa chọn”
được dùng để nhấn mạnh sự cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng phương
tiện tối ưu nào mà đạt được kết quả cao trong một điều kiện nguồn lực khan
hiếm. Bắt nguồn từ việc vận dụng quy luật này để giải thích các hiện tượng
kinh tế, các nhà xã hội học áp dụng vào nhằm giải thích các hành động xã hội.
Vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài nghiên cứu để giải thích cho việc tại
sao người dân ở địa bàn nghiên cứu lại lựa chọn phương thức sinh kế hiện tại
mà không phải lựa chọn phương thức sinh kế khác, với lựa chọn phương thức
đó liệu họ có đạt được hiệu quả tối đa trong cuộc sống hay không. Ngoài ra
thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh
thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai. Kinh tế vẫn
mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị
lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo thời vụ ngày càng gia tăng.
* Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh
vực đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. Một trong những thành tựu của Trung
Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao. Nguyên nhân
của thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan
trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho
sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản
xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây
trồng ,vật nuôi, vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông.
* Malaysia: Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp
hiện đại, sản xuất hàng hóa có giá trị cao. Vì thế chính sách nông nghiệp của
Malaysia tập trung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng. Bên cạnh đó chính
phủ nước này cũng chú trọng tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản. Nhờ đó
một vài năm gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao
và ổn định hơn.
2.3. Hộ và kinh tế hộ
- Một số khái niệm về hộ:
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hộ gia đình.Hộ là một tổ chức
kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau
của đất nước. Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên cứu của
nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những khái niệm khác nhau.
12
Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một
mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”.
kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.
13
Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông
nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức
lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn,
nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có su
hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Theo Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011
cho rằng: “hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động
thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn
nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực
vật…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.
- Kinh tế hộ nông dân:
Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ
gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình,
sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ
thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các
thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Tác giả T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Áthuộc
trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, cho rằng: “Ở các nước Châu Á
hầu hết người ta qua niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay
không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có
chung một ngân quỹ”.
“Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong
nông - lâm nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức
lao động, tiền vốn, của gia đình mình là chính.
2.4. Quá trình phát triển và một số nghiên cứu về sinh kế
2.4.1. Quá trình phát triển sinh kế hộ nông dân ở một số địa phương nước ta
Hàng loạt những chính sách đổi mới đó đã tạo được động lực thúc đẩy sản
xuất nông nghiệp phát triển. Kết quả là sản lượng lương thực từ chỗ dưới 18
triệu tấn năm 1984 - 1987 đã đạt 21,5 triệu tấn vào năm 1989 bình quân giai
đoạn 1986 - 1990 sản lượng lương thực tăng 13,50% năm. Từ một nước thiếu
lương thực trở thành nước xuất khẩu lương thực, năm 1989 xuất khẩu được
1,4 triệu tấn gạo, năm 1990 được 1,6 triệu tấn gạo, Đến năm 2003 Việt Nam
trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan.
* Từ 2009 đến nay: Đã cho thấy kinh tế hộ có nguồn thu nhập rất đa
dạng, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp. Việc tập chung
phát triển kinh tế hộ mang lại nhiều lợi ích do hộ là đơn vị kinh tế nhỏ,
năng động, có khả năng ứng phó nhanh với những cú sốc thị trường, trợ
giúp kinh tế hộ cũng dễ đảm bảo tính công bằng hơn. Ngoài ra, đối với cấp
15
hộ cũng dễ áp dụng nông nghiệp xanh, hạn chế việc sử dụng phân bón hóa
học, thuốc trừ sâu trên diện rộng.
2.4.2. Một số nghiên cứu về sinh kế
- Sinh kế của các hộ dân tái định cư ở vùng bán ngập huyện Thuận
Châu, tỉnh Sơn La
Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng, sinh kế của các hộ dân tái định
cư vùng bán ngập của công trình thủy điện Sơn La. Trên cơ sở đánh giá phân
tích, đề xuất một số giải pháp tạo sinh kế nhằm ổn định sản xuất và đời sống
của các hộ dân di chuyển đến nơi ở mới.
- Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế của
đồng bào dân tộc thiểu số tại Đakrong - Quảng Trị (Đại học Nông Lâm Huế)
Đề tài này nghiên cứu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với
chiến lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đề tài cũng đưa ra
những điểm được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các
hoạt động sinh kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế bền vững
17
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Là các hộ gia đình nông dân cùng với các hoạt động sinh kế của của họ
tại xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Số hộ trồng và thu nhập về trồng trọt;
- Số hộ nuôi và thu nhập về chăn nuôi;
+ Đề xuất giải pháp cải thiện sinh kế cộng đồng địa phương.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Thu thập thông tin số liệu thứ cấp
Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập các thông tin số liệu đã có
sẵn từ tất cả các nguồn có thể tiếp cận được. Đó là các số liệu, tài liệu được
thu thập từ UBND xã Vĩnh Kiên, từ thư viện của Khoa Kinh tế và PTNT
(Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), từ các trang mạng khai thác trên
Internet thông qua công cụ tìm kiếm Google,…
Đây là những nguồn tài liệu có giá trị để xây dựng tổng quan, cũng như
những thông tin cơ bản liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và
tình hình sản xuất nông nghiệp của địa phương.
3.3.2. Thu thập thông tin số liệu sơ cấp
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Đây là phương pháp chủ yếu để thu
thập số liệu liên quan đến đề tài. Một bảng hỏi (xem phụ lục) được hình
thành, gồm nhiều bộ phận khác nhau, từ những thông tin cơ bản của chủ hộ,
an ninh lương thực, sinh kế và thu nhập nông hộ, những liên quan đến tác động
của can thiệp trong sản xuất sắn, những tác động liên quan đến chế biến thức ăn
chăn nuôi và phát triển chăn nuôi trâu bò và lợn, thị trường, chế biến sắn,…
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích và đánh giá
các hoạt động sinh kế, thu nhập và thời gian giành cho các hoạt động sinh kế
(nông nghiệp và phi nông nghiệp) của cộng đồng địa phương. Đây là cơ sở để
có các tác động của can thiệp liên quan nhằm cải thiện sinh kế của cộng đồng
địa phương.
Số liệu được thu thập tại bốn thôn xác định là Khuân Đát, Đồng Tha,
Đồng Tâm, Khe Tam (thuộc xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái).
Tổng số có 40 phiếu điều tra đã được thu thập tại 40 hộ trong 4 thôn trên.
Nghiên cứu chọn mẫu dựa trên phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên.