Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học trong nông hộ tại xã nghĩa lạc huyện nghĩa hưng tỉnh nam định - Pdf 13

1
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra cơ bản
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Nghĩa Lạc nằm ở khu vực trung tâm của huyện Nghĩa Hưng, thuộc tả
ngạn sông Đáy và hữu ngạn sông Ninh Cơ.
Về vị trí địa lý của xã Nghĩa Lạc:
- Phía Bắc giáp xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Hưng và xã Hải Giang,
huyện Hải Hậu.
- Phía Đông giáp các xã Hải Giang và Hải Ninh, huyện Hải Hậu (ranh giới
tự nhiên là sông Ninh Cơ).
- Phía Nam giáp các xã Nghĩa Phong và Nghĩa Hồng, huyện Nghĩa Hưng.
- Phía Tây giáp các xã Chất Bình, Chính Tâm, Xuân Thiện, huyện Kim
Sơn và xã Khánh Thành, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình (ranh giới tự nhiên
là sông Đáy)
1.1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Xã Nghĩa Lạc nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm,
nhiệt độ trong năm dao động tương đối cao, thể hiện qua 2 mùa rõ rệt là mùa
hè và mùa đông. Về mùa hè, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, mưa lớn từ tháng 4
đến tháng 8. Mùa đông, do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên nhiệt
độ nhiều khi xuống thấp (tháng lạnh nhất là các tháng 12 và 1, với nhiệt độ
trung bình từ 16 – 17 °C) và kèm theo mưa nhỏ. Tháng 7 nóng nhất, nhiệt độ
khoảng trên 29 °C. Độ ẩm bình quân tương đối cao, cao nhất là tháng 3, 4 trong
năm (82-85%) với ẩm độ như vậy rất thuận lợi cho phát triển trồng trọt.
Điều kiện khí hậu, đất đai của xã thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
với cây trồng,vật nuôi phong phú và đa dạng. Tuy nhiên nó cũng gây ra nhiều
khó khăn trong chăn nuôi. Về mùa đông, khí hậu lạnh, thay đổi đột ngột, mùa
1
11111

địa bàn xã ngành dịch vụ phát triển mạnh mẽ, tạo thêm công ăn việc làm và
góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
Nhìn chung, kinh tế của xã đang trên đà phát triển. Tuy nhiên quy mô
sản xuất còn nhỏ, manh mún, chưa có kế hoạch phát triển chi tiết, dẫn đến
2
22222
2
3
hiệu quả kinh tế còn chưa cao, đây cũng là hạn chế của xã. Đối với hộ sản
xuất nông nghiệp, thu nhập bình quân lương thực là 779 kg/người/năm, chăn
nuôi chủ yêú quy mô nhỏ lẻ, hộ gia đình chiếm đa số. Tổng thu nhập bình
quân trên đầu người cao.
Trong những năm gần đây, mức sống của nhân dân trong xã đã được nâng
lên rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm hẳn. Các hộ gia đình đã có phương tiện nghe
nhìn như: Tivi, đài, sách, báo…Đa số các hộ đã mua được xe máy và nhiều đồ
dùng đắt tiền. Bên cạnh đó các chính sách của Đảng và Nhà nước đã và đang
góp phần nâng cao, cải thiện đời sống của nhân dân như: chính sách vay vốn xây
dựng phát triển kinh tế trang trại, chính sách về giao thông – thủy lợi, chính sách
vay vốn học sinh, sinh viên…Đặc biệt trong những năm gần đây việc áp dụng
các tiến bộ khoa học vào thâm canh sản xuất nâng cao năng suất cây trồng, vật
nuôi. Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được đầu tư phát triển đặc việt là giao
thông, thủy lợi phục vụ cho sự phát triển mọi mặt của đời sống, kinh tế, văn hóa
– xã hội của nhân dân.
1.1.2.2. Tình hình xã hội
Xã Nghĩa Lạc với 10.500 nhân khẩu, 2.535 hộ, trong đó có 80% số
hộ sản xuất nông nghiệp, số còn lại thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp
và dịch vụ.
Cơ cấu kinh tế của xã đang có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang công
nghiệp và dịch vụ. Trên địa bàn xã có 7 tổ hợp may công nghiệp, nhà máy gạch
Đồng Bằng (18triệu viên/năm)…đã tạo nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho

quyết, Quyết định, kế hoạch của của cấp trên.
Bên cạnh đó vẫn còn không ít khó khăn, thách thức đặt ra cho xã như
vấn đề: hệ thống điện – nước sạch, cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ…Chính vì
vậy, vấn đề đặt ra là đòi hỏi hoạt động của các ban ngành phải thường xuyên,
liên tục, tích cực và đồng bộ thống nhất từ trên xuống tiến tới xây dựng gia
đình văn hóa, thôn xóm văn hóa, xã văn hóa, đạt được mục tiêu xây dựng
nông thôn mới. Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đồng thời
đẩy mạnh lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm cho lao động dư thừa, từng
bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
4
44444
4
5
1.1.3. Tình hình sản xuất
1.1.3.1. Về ngành chăn nuôi
Hai ngành chăn nuôi và trồng trọt có mối quan hệ mật thiết với nhau, nó
song song và tồn tại hỗ trợ thúc đẩy lẫn nhau.
Ngành chăn nuôi cung cấp nhu cầu thực phẩm cho xã cũng như các
vùng lân cận. Ngành chăn nuôi sử dụng lao động dư thừa tại địa phương, tăng
thu nhập cho người dân. Đồng thời sử dụng các sản phẩm dư thừa của ngành
trồng trọt vào chăn nuôi làm tăng giá trị sản phẩm, biến các phế phẩm phụ của
ngành trồng trọt không có giá trị thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cao cho
người lao động.
* Chăn nuôi trâu, bò
Tình hình chăn nuôi trâu, bò có sự thay đổi qua các năm. Tổng số con
trâu năm 2009 là 127 con, năm 2010 là 106 con giảm 83,5% Nhưng năm
2011 thì số lượng trâu còn lại là 100 con, do chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ
nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ. Bên cạnh đó thì số lượng đàn bò
trên địa bàn xã cũng đang giảm đần qua các năm. Trước kia các hộ nông dân
thường sử dụng trâu bò làm sức cày kéo nhưng đến nay phần lớn đã sử dụng

Bảng 1.1: Số lượng, cơ cấu đàn gia súc, gia cầm của xã Nghĩa Lạc
giai đoạn 2009 - 2011
ĐVT: con
STT Loại gia súc Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
1 Trâu 127 106 100
2 Bò 21 14 10
3 Gia cầm 32,550 36,700 39,000
4 Lợn 2,980 3,360 3,700
5 Vật nuôi khác 960 1,240 1,670
Tổng 36,638 41,420 44,480
So sánh (%) 100 113,05 121,40
(Nguồn số liệu thống kê của xã Nghĩa Lạc tháng 1/2012)
6
66666
6
7
* Công tác thú y
Công tác thú y và vệ sinh thú y là vấn đề không thể thiếu trong quá
trình chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nó quyết định sự thành bại của người chăn
nuôi, hơn nữa nó còn ảnh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng. Nhận thức được
tầm qua trọng của công tác thú y, trong những năm gần đây lãnh đạo xã đã rất
chú trọng tới vấn đề này.
Căn cứ vào lịch tiêm phòng, hàng năm xã đã tổ chức tiêm phòng cho
đàn gia súc, gia cầm và tiêm phòng dại cho 100% chó nuôi trong xã.
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tiêm phòng cho đần gia súc, gia cầm
thì công tác kiểm dịch cũng đã được chú trọng. Do vậy trong những năm trở
lại đây trên địa bàn xã không xảy ra các dịch bệnh lớn. Tuy nhiên, cần phải
đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, để người dân hiểu và chấp
hành tốt pháp lệnh thú y.
1.1.3.2 Về ngành trồng trọt

Đặc biệt chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước đã
được mở rộng, tình chính trị ổn định tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội.
1.2.2. Khó khăn
Chăn nuôi gia cầm vẫn chủ yếu là theo phương thức chăn thả tự do,
thiếu tập trung, chưa được người dân chú trọng, hiệu quả kinh tế chưa cao.
Công tác tuyên truyền lợi ích của việc vệ sinh thú y là chưa thực sự
hiệu quả, người dân chưa ý thức được vai trò quan trọng của công tác vệ sinh
thú y trong chăn nuôi
Mặt khác, hàng năm tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hưởng
lớn đến ngành chăn nuôi và trồng trọt, khí hậu khắc nghiệt ở một số tháng gây
ra nhiều bệnh tật, làm giảm khả năng sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng.
1.3. Kết quả phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tại xã Nghĩa Lạc, được sự giúp đỡ tận tình của
thầy, cô giáo, UBND xã Nghĩa Lạc, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã
đạt được kết quả như sau:
1.1.1. Công tác chăn nuôi
Cùng với việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, chúng tôi đã tiến
hành nuôi gà theo quy trình chăn nuôi gà thịt cụ thể như sau:
* Ứng dụng kỹ thuật trong chăn nuôi gà thịt
(-)Chuẩn bị chuồng trại
Trước khi nhận gà vào chuồng nuôi 5 ngày chúng tôi tiến hành vệ sinh
chuồng nuôi. Chuồng được cọ rửa sạch sẽ bằng vòi nước cao áp và phun
8
88888
8
9
thuốc sát trùng bằng dung dịch Biocid - 30%, nồng độ 100ml/40 lít nước. Sau
khi vệ sinh, sát trùng, chuồng nuôi được khóa cửa, kéo bạt, che rèm kín.
Tất cả dụng cụ chăn nuôi máng ăn, khay ăn, máng uống, rèm che được
cọ rửa sạch sẽ bằng xà phòng ngâm trong dung dịch Formon 2% thời gian 10

10
+ Giai đoạn 21 - 77 ngày tuổi
Ở giai đoạn này, gà sinh trưởng nhanh, ăn nhiều. Do đó hàng ngày phải
cung cấp đủ thức ăn, nước uống cho gà, gà được ăn tự do theo nhu cầu. Thức
ăn phải luôn mới để kích thích gà ăn nhiều, máng uống phải được cọ rửa và
thay nước ít nhất 2 lần/ngày. Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, luôn theo
dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để phát hiện, chữa trị kịp thời những con bị
bệnh, bị ốm, áp dụng nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng bệnh.
1.3.2. Tham gia công tác thú y
Để đảm bảo an toàn dịch bệnh cho vật nuôi, đặc biệt là gia cầm, chúng
tôi đã tổ chức tập huấn về quy trình chăn nuôi gà an toàn sinh học và kỹ thuật
phòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi. Sau khi tập huấn, ý thức của người chăn
nuôi được nâng cao rõ rệt: trước khi xuống chuồng nuôi mọi người thay quần
áo đã được khử trùng và đi ủng.
* Công tác vệ sinh thú y đối với từng chuồng nuôi
Trong suốt quá trình nuôi phải tuyệt đối cách ly đàn gà, chuồng nuôi gà
với sự tiếp xúc của bên ngoài. Xung quanh chuồng nuôi đều có hàng rào bảo
vệ ngăn cách chuồng với khu vực xung quanh.
Dụng cụ, thức ăn, nước uống đều phải được đảm bảo vệ sinh trước khi
đem vào chuồng nuôi.
Hàng ngày, chúng tôi luôn theo dõi đàn gà nhằm phát hiện kịp thời gà
ốm, yếu để cách ly, điều trị; gà chết được mổ khám và thu gom hàng ngày vào
bao tải đưa ra khu xử lý để tiêu hủy. Bổ sung vôi bột vào hố sát trùng trước
mỗi cửa chuồng nuôi và trước mỗi khu chăn nuôi; cọ rửa máng uống, thay
đệm lót ướt…
Hàng tuần, các khu vực xung quanh chuồng nuôi đều được phun sát
trùng bằng dung dịch Antisep, quét dọn hai bên hành lang chuồng nuôi, khơi
thông cống rãnh, vệ sinh kho thức ăn, phát quang cỏ dại xung quanh khu vực
chuồng nuôi. Hàng tháng, tiến hành diệt chuột và côn trùng.
10

Unilyte – Vit – C. tạm thời không cho gà ăn ở thời điểm nóng nhất.
Khắc phục bằng cách: Thông thoáng, thêm mái che, phun nước lên
mái, chú ý không được phun trực tiếp vào gà bị nóng sẽ dễ gây đột tử
hoặc bệnh kế phát.
- Bệnh bạch lỵ gà con
+ Nguyên nhân: Do vi khuẩn Gr(-) Samonella gallinarum và
Samonella pullorum gây ra. Bệnh chủ yếu xảy ra trên gà con, gà trưởng thành
thường mắc bệnh ở thể mãn tính.
11
1111111111
11
12
+ Triệu chứng: Gà con mắc bệnh kém ăn, lông xù, ủ rũ, phân có
màu trắng, phân loãng dần và dính quanh hầu môn, đôi khi có biểu hiện
sưng khớp, liệt chân, ở gà lớn thường ở thể mãn tính.
+ Bệnh tích: Mổ khám gà chết chúng tôi thấy: Gan và lách có nhiều
điểm hoại tử trắng lấm tấm như đầu đinh ghim. Trong đoạn ruột cuối, thức ăn
không tiêu bị cô đặc màu vàng, lòng đỏ chưa tiêu, thành ruột dày lên.
+ Điều trị: Để chữa Bạch lỵ tôi sử dụng một số phác đồ điều trị sau:
Colistin: liều 1g/2 lít nước, B.complex 1g/3 lít nước cho gà uống liên
tục trong 3 – 4 ngày. Kết quả điều trị 98% khỏi bệnh.
Ampi - Coli với liều: 1g/lít nước, B.complex 1g/3 lít nước cho uống
liên tục 4 – 5 ngày. Kết quả điều trị 99% gà khỏi bệnh.
- Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)
+ Nguyên nhân: Bệnh cầu trùng do các loại động vật đơn bào khác
nhau thuộc họ Coccidia gây ra ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô ruột.
+ Triệu chứng: Thời kỳ nung bệnh là 4 – 5 ngày, gà mắc bệnh ăn ít,
lông dựng, phân dính quanh hậu môn. Nếu gà bị bệnh nặng, gà mất thăng
bằng, cánh tê liệt, thiếu máu ở niêm mạc, gà gầy dần, phân lẫn máu.
+ Bệnh tích: Mổ khám và quan sát thì thấy có nhiều điểm trắng trên

Ampi - Coli, liều 1g/lít nước cho uống liên tục 5 - 7 ngày.
Bio - Norfloxacin, liều 2g/lít nước, uống liên tục 5 - 7 ngày.
- Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (Chronic Respiratory Disease - CRD).
+ Nguyên nhân: Do Mycoplasma gallisepticum gây bệnh làm kế phát
các vi khuẩn, virut gây bệnh khác và dưới tác động xấu của môi trường bệnh
tái phát. Bệnh truyền từ gà ốm sang gà khỏe, từ gà mẹ sang gà con, qua thức
ăn nước uống và dụng cụ chăn nuôi.
+ Triệu chứng: Gà bị bệnh kém ăn, chậm lớn, còi cọc. Gà thường chảy
nước mắt, nước mũi, 2 cánh mở rộng, mỏ há to, thở dồn dập và khò khè. Gà
hay lắc đầu, vẩy mỏ, đứng ủ rũ. Gà đẻ trứng thì tỷ lệ đẻ giảm.
+ Bệnh tích: Tụ huyết ở thanh quản, khí quản; tiết dịch nhầy ở xoang
mũi và khí quản; túi khí viêm, đục mờ trông như vệt khói.
+ Điều trị: Dùng 1 trong các thuốc sau:
Tylosin 98% liều 1g/lít nước, uống liên tục 3 - 5 ngày.
CRD - Stop, liều 1g/lít nước, uống liên tục 3 - 5 ngày.
Tiamulin 1g/ 4 lít nước, uống liên tục 3 - 5 ngày.
Kết quả công tác phục vụ sản xuất được thể hiện qua bảng sau:
13
1313131313
13
14
Bảng 1.3: Công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc ĐVT
Số
lượng
Kết quả
Số lượng Tỷ lệ (%)
I. Chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt Tỷ lệ nuôi sống
Nuôi gà thịt Con 700 680 97,40
Nuôi vịt thịt Con 170 163 96,00

Con
Con
Con
286
88
545
123
44
280
87
542
211
42
98,00
98,86
99,45
99,06
95,50
III. Công tác khác An toàn
Vệ sinh chuồng trại
Vệ sinh bãi chăn thả
m
2
m
2
400
4600
400
4600
100,00

bộ kỹ thuật không những cần giỏi về chuyên môn, vững tay nghề mà còn biết
tổ chức quản lý công việc. Cụ thể là phải biết vận động bà con nông dân tiếp
thu và thực hiện tốt chủ trương chính sách và đường lối của Đảng, quy chế
của Nhà trường và đơn vị.
1.4.2. Đề nghị
Trong thời gian thực tập tại Xã Nghĩa Lạc với những khó khăn và thuận
lợi em xin đưa ra một số đề nghị sau:
- Đối với những hộ gia đình đã đủ điều kiện và đang áp dụng mô hình
chăn nuôi an toàn sinh học cần mở rộng quy mô hơn nữa. Bên cạnh đó
khuyến khích các hộ nông dân trên địa bàn xã học hỏi kinh nghiệm nhằm
nhân rộng mô hình để phát triển chăn nuôi theo hướng mới, đạt năng suất và
15
1515151515
15
16
chất lượng cao, xây dựng sản phẩm sạch và an toàn, nâng cao thu nhập cho
người dân trên địa bàn xã nói riêng và toàn tỉnh nói chung.
- Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền ý thức của người dân về tầm
quan trọng của công tác phòng chống dịch bệnh, vệ sinh thú y, tăng cường
công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm. Đồng thời, vận động, giải thích
cho nhân dân hiểu biết và tự giác thực hiện.
- Nhà trường tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện các đề tài nghiên cứu
khoa học tại cơ sở, để sinh viên có điều kiện tiếp xúc trực tiếp, làm quen với
thực tiễn sản xuất, củng cố kiến thức chuyên môn của mình.
16
1616161616
16
17
Phần 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

17
18
địa phương, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Vậy muốn chăn nuôi
gà có hiệu quả kinh tế cao và bền vững, hạn chế tối đa dịch bệnh, đảm bảo vệ
sinh môi trường…thì phải chăn nuôi gia cầm theo hướng ATSH.
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, chúng tôi tiến hành chuyên đề:
“Đánh giá hiệu quả của việc áp dụng quy trình chăn nuôi gà thịt an toàn sinh
học trong nông hộ tại xã Nghĩa Lạc - huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định”.
2.1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được hiệu quả của việc áp dụng quy trình an toàn sinh học
trong chăn nuôi gà thịt tại nông hộ trên địa bàn xã Nghĩa Lạc.
2.1.3. Mục tiêu của đề tài
- Để xây dựng mô hình chăn nuôi gà thịt theo hướng an toàn sinh học
trong nông hộ trên địa bàn xã Nghĩa Lạc, góp phần thúc đẩy chăn nuôi gia
cầm trong nông hộ phát triển bền vững.
- Xác định được hiệu quả nuôi dưỡng gà thịt theo hướng an toàn sinh học.
- Kết quả của chuyên đề là cơ sở để nhân rộng mô hình trên địa bàn
trong và ngoài tỉnh.
2.2. Tổng quan tài liệu
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1.1. Khả năng sinh trưởng, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
Ở vật nuôi nói chung và ở gia cầm nói riêng, những đặc tính như ngoại
hình, sinh trưởng, sinh sản không phải đã xuất hiện và phát triển hoàn chỉnh
ngay từ khi còn là hợp tử mà nó được hoàn thiện dần trong quá trình sống, sự
thay đổi ở một cá thể từ khi còn là một hợp tử đến giai đoạn già cỗi được gọi
là sự phát triển của cá thể.
18
1818181818
18
19

20
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng để đánh giá
khả năng sinh trưởng người ta sử hai chỉ số đó là: Sinh trưởng tương đối và
sinh trưởng tuyệt đối.
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về kích thước và khối lượng của cơ
thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39, 1977) [23] sinh
trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần. Giá trị sinh
trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
Sinh trưởng tương đối là tỉ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng kích
thước trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.40, 1977) [24].
Gà còn non sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi.
* Những yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của gà thịt.
- Ảnh hưởng của di truyền giống
Bằng thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được rằng:
Trong cùng một điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, các giống khác nhau có khả
năng sinh trưởng khác nhau. Sinh trưởng của giống gà chuyên thịt nhanh hơn
giống gà chuyên trứng, ngoài ra hướng sản xuất cũng ảnh hưởng tới khả năng
sinh trưởng của gia cầm.
Trần Công Xuân va cs (2007) [37] khi nghiên cứu khả năng sản xuất
của gà Lương Phượng Hoa nhập từ Trung Quốc, kết luận: khối lượng cơ thể
lúc 10 tuần tuổi đạt 1,79 kg ở dòng M
01
và 1,83 kg ở dòng M
03
.
Lê Huy Liễu (2006) [17] cho biết, gà Kabir nuôi thả vườn tại Thái Nguyên
có khối lượng cơ thể lúc 10 tuần tuổi 2,02 kg; gà Lương Phượng 1,70 kg.
Tác giả Bạch Thị Thanh Dân và cs (2007) [9] đã nghiên cứu, gà lai
Sasso – Lương Phượng nuôi thả vườn đến 10 tuần tuổi, có khối lượng cơ thể
2,47 kg; gà Lương Phượng 1,96 kg.

sản phẩm. Chính vì thế bất cứ yếu tố nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
thức ăn đều mang lại hiệu quả kinh tế. Do vậy để có năng suất cao trong
ngành chăn nuôi cần lập ra những khẩu phần hoàn hảo trên cơ sở tính toán
nhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi. Theo Kirchgeβner M. (1997)
[43], đối với gà Broiler khẩu phần ăn có mức năng lượng là 12,1 – 13,8
MJ/kg là thích hợp nhất.
Theo Lê Hồng Mận và cs (2003) [21], cho biết nhu cầu về protein thích
hợp cho gà Broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả đã nhấn
mạnh vấn đề cần giải quyết chính là tỉ lệ giữa năng lượng và protein trong
thức ăn rất quan trọng. Để phát huy được khả năng sinh trưởng tối đa cần
cung cấp đầy đủ dinh dưỡng với sự cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit
amin và năng lượng. Chế độ dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến tính thèm ăn của
21
2121212121
21
22
gia cầm, mức ăn vào của gia cầm từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng
và phát triển của gia cầm.
- Ảnh hưởng của chăm sóc
Theo Bùi Đức Lũng và cs (2004) [19], bên cạnh các yếu tố giống và
dinh dưỡng, sinh trưởng của gà còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác
như chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ, độ thông thoáng, mật
độ nuôi nhốt.
- Ảnh hưởng của nhiệt độ
Sự tác động của nhiệt độ không khí ảnh hưởng đến sức kháng của cơ thể
gia cầm thông qua phản ứng điều tiết thân nhiệt, nhiệt độ quá thấp hay quá cao
đều làm cho nhiệt cơ thể thay đổi và làm giảm sức đề kháng của cơ thể gia cầm.
Về mặt sinh học để chống đỡ nhiệt độ cao loài chim tự giảm sản sinh nhiệt
và tăng toả nhiệt. Chúng ăn ít, trở nên nhẹ cân từ đó mà hạn chế cung cấp năng
lượng qua trao đổi chất, giảm chuyển hoá đường và mỡ. Ước tính nhiệt độ tăng

2222222222
22
23
trong thức ăn cần phải cao hơn để đảm bảo dinh dưỡng mà gà tiếp nhận được
không thấp hơn nhu cầu của chúng. Do đó, trong điều kiện khí hậu nước ta
tuỳ theo mùa vụ, căn cứ vào nhiệt độ của từng giai đoạn mà điều chỉnh mức
ME và tỷ lệ ME/CP cho phù hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong chăn
nuôi nói chung và chăn nuôi gà thịt nói riêng.
Cũng theo Bùi Đức Lũng (2000) [18], nhiệt độ môi trường cao kéo dài
sẽ ngăn cản phản ứng miễn dịch thể dịch của gia cầm và làm giảm kháng thể
liên tục. Gắn liền với sự thay đổi Corticosteroidinduced trong các ion huyết
tương, kháng thể tế bào cũng bị ngăn cản do kéo dài nhiệt độ trên 30
0
C. Hiệu
quả này lan truyền qua tế bào hoặc điều chỉnh phản ứng khuyếch đại tế bào.
Như vậy, nhiệt độ môi trường quá lạnh hoặc quá nóng đều làm cho con
vật chết vì chúng không thể đương đầu với dòng năng lượng đi vào cơ thể
chúng quá mức hoặc thoát ra khỏi cơ thể quá mức.
- Ảnh hưởng của ẩm độ
Khi ẩm độ tăng làm cho chất độn chuồng dễ bị ẩm ướt. Thức ăn dễ bị
ẩm mốc. Đặc biệt là NH
3
do vi khuẩn phân giải các axit nucleic trong phân và
chất độn chuồng làm tổn thương tới hệ hô hấp của gà, làm tăng tỷ lệ nhiễm
các bệnh như Cầu trùng, Newcastle, CRD, Ecoli… dẫn đến làm giảm khả
năng sinh trưởng của gà.
- Lưu thông không khí (độ thông thoáng)
Độ thông thoáng trong chuồng nuôi rất quan trọng trong việc giúp gà có
đủ oxy và thải khí CO
2

giờ, cường độ chiếu sáng 5 lux/m
2
. Nhưng khi nuôi gà thịt dài ngày có khối
lượng cao thì áp dụng chế độ giảm thời gian chiếu sáng ở giai đoạn giữa. Cụ
thể: ngày thứ nhất chiếu sáng 24/24 giờ; ngày thứ hai: 20/24 giờ; ngày thứ 3 -
15: 12/24 giờ; ngày thứ 16 - 18: 14/24 giờ; ngày thứ 19 - 22: 16/24 giờ; ngày
thứ 23 - 24: 18/24 giờ và ngày thứ 25 đến kết thúc chiếu sáng 24/24 giờ.
Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều, làm giảm sinh
trưởng tích lũy. Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần phải che
ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng,
ánh sáng được phân bố đều trong chuồng và sử dụng bóng đèn có cùng công
suất để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn.
* Nước uống
Nước là thành phần quan trọng vì nước tham gia quá trình trao đổi chất
trong cơ thể và tham gia vào cấu tạo của mô bào. Ngoài ra, nước còn là thành
phần cung cấp dinh dưỡng cho gia cầm. Chính vì vậy, nước uống bị nhiễm
các loại vi sinh vật gây bệnh, các loại hoá chất, các chất độc hại do quá trình
phân giải các chất hữu cơ là nguyên nhân thường trực gây ra các biến loạn
tiêu hoá và dịch bệnh ở gia cầm.
* Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông
Tốc độ mọc lông cũng là một trong các đặc tính di truyền, đây là các
tính trạng có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng, phát triển của
gia cầm, là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục. Tính dục gia cầm có tốc độ
mọc lông nhanh thì sự thành thục về thể trạng sớm và chất lượng tốt hơn của
gia cầm mọc lông chậm.
* Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt
Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi đạt hiệu
24
2424242424
24

trung bình nuôi 32 con. Hình thức chăn nuôi nhỏ, hộ gia đình chiếm khoảng
68,5%. Chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp chiếm khoảng 31,5%. Khi
nghề chăn nuôi gà theo phương thức công nghiệp có xu hướng phát triển
mạnh thì dịch bệnh cũng ngày càng tăng và mức độ lây lan rộng.
Do phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, buôn bán, giết mổ phân
tán, không đảm bảo an toàn sinh học nên dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra,
gây tổn thất lớn về kinh tế. Các bệnh thường gặp là Newcastle, Gumboro, Tụ
huyết trùng, Dịch tả…Trong đó, tỷ lệ gia cầm bị bệnh Newcastle từ 40 - 53%,
bệnh Gumboro 27 - 32%, Tụ huyết trùng từ 14 - 15%. Theo số liệu điều tra
của Viện chăn nuôi Quốc Gia, tỷ lệ chết từ khi nở ra cho đến lúc trưởng
thành của đàn gà nuôi thả rông là 47%; chi phí thuốc thú y cho điều trị bệnh
25
2525252525
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status