Thực trạng và những giải pháp phát triển kinh tế nông hộ tại xã Lăng Can – huyện Lâm Bình – tỉnh Tuyên Quang. - Pdf 29

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM CHẨU VĂN TUẤN
TÊN ĐỀ TÀI:

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
KINH TẾ NÔNG HỘ TẠI XÃ LĂNG CAN
HUYỆN LÂM BÌNH TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khoá : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Châu



3
LỜI CẢM ƠN

Với phương châm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực
tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”. Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên hàng năm đã tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tập tốt nghiệp.
Đây là cơ hội quý báu để các sinh viên tiếp cận và làm quen với công việc
sau khi ra trường. Được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. Từ
đó, nâng cao kiến thức và kỹ năng cho bản thân.
Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu Nhà tường, Ban
chủ nhiệm khoa Kinh Tế & PTNT tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt
nghiệp: “Thực trạng và những giải pháp phát triển kinh tế nông hộ tại xã
Lăng Can – huyện Lâm Bình – tỉnh Tuyên Quang”.
Đây cũng là lần đầu tiên thực hiện một khóa luận. Vì vậy khóa luận
còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong được sựu đóng góp ý kiến phê bình từ quý
thầy cô giáo, các bạn sinh viên để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng gửi lời cám ơn tới Ban giám hiệu Nhà Trường, Ban chủ
nhiệm Khoa kinh tế & PTNT. Đặc biệt cám ơn sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Th.s
Nguyễn Thị Châu - giảng viên khoa Kinh tế & PTNT, là người đã truyền đạt cho
tôi những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xin được bày tỏ tấm lòng biết ơn đến Hội Nông Dân xã Lăng Can -
Lâm Bình, cán bộ hội nông dân xã, UBND xã Lăng Can và bà con 3 thôn,
Bản Kè A, Bản Kè B và thôn Bản Khiển đã cung cấp những số liệu cần thiết

1.1.4.1. Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động 7
1.1.4.2. Theo tính chất của ngành sản xuất 8
1.1.4.3. Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ 8
1.1.4.4. Căn cứ vào tính chất ổn định của tình trạng ăn ở và canh tác. 9
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông dân. 9
1.1.5.1. Các yếu tố chủ quan 9
1.1.5.2. Các yếu tố khách quan 10
1.2. Cơ sở thực tiễn 12
1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở các nước trong 12
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở một số nước 12
1.2.2.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở Trung Quốc 12
1.2.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở Thái Lan 13
1.2.2.3. Thành tựu phát triển kinh tế hộ ở Đài Loan 14

5
1.2.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ nước ta 15
1.2.4. Xu hướng và phát triển kinh tế hộ nông dân và những bài học 17
1.2.4.1. Xu hướng phát triển của kinh tế hộ nông dân 17
1.2.4.2. Những bài hoc kinh nghiệm rút ra đối vơi kinh tê hộ nông dân. 18
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 20
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 20
2.1.2.1. Về không gian 20
2.1.2.2. Về thời gian 20
2.2. Nội dung nghiên cứu 20
2.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lăng Can và những 20
2.2.2. Thực trạng sản xuất kinh doanh của nông hộ 20
2.2.3. Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế 20
2.2.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân tại 21

3.1.3.1. Thuận lợi 40
3.1.3.2. Khó khăn 41
3.2. Thực trạng sản xuất kinh doanh của nông hộ 42
3.2.1. Khái quát chung về nhóm hộ điều tra 42
3.2.1.1. Tình hình về chủ hộ 42
3.2.3. Điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ 43
3.2.3.1. Điều kiện đất đai 43
3.2.3.2. Tình hình lao động và nhân khẩu. 45
3.2.3.3. Điều kiện về vốn sản xuất 46
3.2.4. Kết quả sản xuất của nông hộ 48
3.2.4.1. Tổng thu từ sản xuất nông – lâm nghiệp của nông hộ 48
3.2.4.2. Đầu tư chi phí sản xuất nông – lâm nghiệp của nông hộ 50
3.2.4.3. Tình hình thu nhập thực tế từ sản xuất nông – lâm nghiệp 51
3.2.4.4. Tổng thu từ ngoài sản xuất nông – lâm nghiệp của nông hộ 52
3.2.4.5. Chi phí ngoài sản xuất nông – lâm nghiệp của nông hộ 54
3.2.4.6. Thu nhập thực tế từ ngoài sản xuất nông – lâm nghiệp của hộ 55
3.2.5. Thu nhập của hộ 56
3.2.6. Tình hình về đời sống của nông hộ 57
3.3. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông 59
3.3.1. Các yếu tố nguồn lực 59
3.3.1.1. Trình độ của chủ hộ 59
3.3.1.2. Đất đai 61
3.3.1.3. Vốn đầu tư cho sản xuất 61

7
3.3.2. Yếu tố thị trường 62
3.3.3. Yếu tố về khoa học công nghệ 64
3.4. Đánh giá chung về kinh tế nông hộ xã Lăng Can. 64
3.4.1. Những thuận lợi trong phát triển kinh tế nông hộ tại xã Lăng Can 64
3.4.2. Những khó khăn của các hộ nông dân trong phát triển kinh tế 65

CPSX : Chi phí sản xuất
ĐVT : Đơn vị tính
GO : Giá trị sản xuất
GS – TS : Giáo sư, tiến sỹ
GT : Giá trị
HĐND : Hội đồng nhân dân
LĐ : Lao động
LĐNN : Lao động nông nghiệp
LĐPNN : Lao động phi nông nghiệp
Ng.đ : Nghìn đồng
NLN : Nông, lâm nghiệp
NN : Nông nghiệp
SL : Sản lượng
SX : Sản xuất
TB : Trung bình
TLSX : Tư liệu sản xuất
TNBQ : Thu nhập bình quân
UBND : Uỷ ban nhân dân 9
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Phân loại hộ và số hộ điều tra của xã Lăng Can 23
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Lăng Can 2013 29
Bảng 3.2: Dân số và lao động của xã Lăng Can qua 3 năm 2011 – 2013 33
Bảng 3.3: Kết quả sản xuất của xã giai đoạn 2011-2013 35
Bảng 3.4: Tình hình cơ bản về chủ hộ điều tra năm 2013 42
Bảng 3.5: Diện tích – cơ cấu sử dụng đất của nhóm hộ điều tra 2013 43
Bảng 3.6: Lao động và nhân khẩu của nhóm hộ điều tra năm 2013 45

mà người nông dân đang gặp phải đối mặt cũng không ít khi tham gia vào thị
trường này.
Trên đà hội nhập kinh tế thế giới, nước ta đã giành nhiều thành tựu quan
trọng về kinh tế – xã hội. Đó là kết quả cho bước đi đúng đắn, sáng tạo của
Đảng và Nhà nước ta. Cùng với phát triển công nghiệp và dịch vụ, phát triển
nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng là một trong những yếu tố quyết
định đến sự phát triển của đất nước. Như nghị quyết TW5 khóa IX của Đảng
khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn, làm tiền đề phát triển kinh tế xã hội của đất nước”.
Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của nước ta trong quá trình đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước. Và trong
quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn thì kinh tế hộ gia đình giữ một
vai trò quan trọng. Nó là đơn vị trong những năm qua, kinh tế hộ đã được coi
trọng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp nước ta, đưa
nước ta từ chỗ thiếu lương thực trở thành nước có khối lượng xuất khẩu gạo
đứng thứ hai thế giới và nhiều mặt hàng nông sản như cà phê, hồ tiêu, hạt
điều… cũng mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho nước ta. Kinh tế hộ đã khẳng
định trở thành đơn vị sản xuất kinh tế kinh doanh tự chủ.
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu, giữ một
vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là ở một quốc gia nông
nghiệp như Việt Nam, với gần 70% dân số sống ở nông thôn và gần 57% lao
động làm việc trong các lĩnh vực thuộc ngành nông nghiệp.
Mặc dù trong những năm qua kinh tế hộ đã đạt được những thành tựu to lớn,
song chính bản thân nó vẫn đang tồn tại những mâu thuẫn cơ bản cần giải
2
quyết. Do vậy cần có những phương pháp tìm hiểu, phân tích phù hợp để làm
sáng tỏ những khó khăn của các hộ để có các chính sách kinh tế, xã hội phù
hợp giúp nông dân phát triển kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống trong
tương lai, đây là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của một quốc gia nông
nghiệp như Việt Nam nói chung và của từng địa phương nói riêng.

- Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học vào thực tế.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Nghiên cứu và rút ra những kinh nghiệm từ thực tiễn phục vụ cho
việc phân tích và định hướng cho phát triển kinh tế tại hộ gia đình mình.
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở, căn cứ cho cán bộ các cấp
địa phương đề xuất các phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế hộ theo
hướng bền vững, theo định hướng thị trường.
4. Bố cục của khóa luận
- Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 4: Các định hướng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ
- Kết luận và Kiến nghị
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm về hộ
Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn
phát trển khác nhau của xã hội cho tới nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trong
từng gia đoạn, hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, hộ luôn là đối tượng thu
hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học, tổ chức thế giới.
Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ: “Hộ là những
người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung ngân quỹ.

là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh
tế độc lập tuyệt đối toàn năng, mà phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn
của nền kinh tế quốc dân. Khi trình độ phát triển lên mức cao của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường càng mở rộng đi vào chiều sâu, thì các hộ
nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ
trong phạm vị một vùng, một nước. Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ
nông dân nước ta trong tình hình hiện nay.[13].
1.1.1.3. Kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong
đó các nguồn lực của đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi
là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà,
ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc
vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển.
Có ý kiến lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu của
quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Kinh
tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ
nông nghiệp, hộ nông-lâm-ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương
nghiệp, ngư nghiêp.
Tôi đồng tình với quan niệm của Frank Ellis, về kinh tế hộ nông dân có thể
tóm tắt như sau: ‘‘ Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có
quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia
đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia
ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường’’ (Ellis, 1988).[13].
6
1.1.2. Vai trò của kinh tế hộ và kinh tế nông hộ
Kinh tế hộ đã có từ lâu đời đến nay vẫn còn tồn tại và phát triển. Trải
qua mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì kinh tế hộ biểu hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau, ngày càng khẳng định được tầm quan trọng và vai trò trong
nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế hộ là tế bào của xã hội, sự phát triển trước tiên giúp nâng cao

cũng đơn giản gọn nhẹ. Trong nông hộ chủ hộ vừa là người điều hành quản
lý sản xuất, đồng thời cũng là người trực tiếp tham gia lao động sản xuất nên
tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao.
- Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao.
Do kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ nên có sự thích ứng dễ dàng hơn so
với các doanh nghiệp nông nghiệp quy mô lớn. Nếu gặp điều kiện thuận lợi
nông hộ có thể tập trung mọi nguồn lực. Khi gặp điều kiện bất lợi thì cũng có
khả năng duy trì bằng cách thu hẹp quy mô sản xuất.
- Có sự gắn bó chặt chẽ giữa kết quả sản xuất với lợi ích người lao động.
Trong kinh tế hộ, mọi người gắn bó với nhau cả trên cơ sở kinh tế lẫn huyết
tộc và có chung ngân quỹ nên dễ dàng có được sự nhất trí, sự đồng tâm, hiệp
lực để cùng nhau phát triển kinh tế hộ của mình. Vì vậy có sự gắn bó chặt chẽ
giữa kết quả sản xuất với người lao động. Lợi ích kinh tế đã thực sự trở thành
động lực thúc đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả
sản xuất của kinh tế hộ.
- Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả.
Quy mô nhỏ không đồng nghĩa với sự lạc hậu, năng suất thấp. Kinh tế
nông hộ vẫn có khả năng cho năng suất cao hơn các doanh nghiệp nghiên cứu
có quy mô lớn. Kinh tế nông hộ vẫn có khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để cho hiệu quả kinh tế cao. Thực tế đã
chứng tỏ kinh tế nông hộ là loại hình thích hợp nhất với đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp, với cây trồng, vật nuôi trong quá trình sinh trưởng, phát
triển cần sự tác động kịp thời.
- Kinh tế hộ sử dụng sức lao động và tiền vốn của hộ là chủ yếu.[5].
1.1.4. Phân loại hộ nông dân
1.1.4.1. Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động
* Hộ nông dân hoàn toàn tự cung tự cấp không phản ứng với thị trường:
Hộ này có mục tiêu tối đa hóa lợi ích, đó là sản phẩm cần thiết để tiêu dùng
trong chính gia đình họ. Để có đủ sản phẩm lao động trong nông hộ phải làm
8

1.1.4.3. Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ
+ Hộ giàu + Hộ trung bình
+ Hộ khá + Hộ nghèo
9
Sự phân biệt này thường dựa vào quy định chung hoặc quy định của
từng địa phương.
Căn cứ vào tình hình điều tra hộ nghèo của xã Lăng Can năm 2012, theo
tình hình thực tế chia các nhóm hộ trong nhóm điều tra thành 3 nhóm theo
phân loại kinh tế hộ.
- Nhóm hộ khá: Là nhóm hộ có thu nhập trên 8 triệu đồng/hộ/năm.
- Nhóm hộ trung bình: Là nhóm hộ có thu nhập trên 5 – 8 triệu
đồng/hộ/năm.
- Nhóm hộ nghèo: Là nhóm hộ có thu nhập dưới 5 triệu đồng/hộ/năm.
1.1.4.4. Căn cứ vào tính chất ổn định của tình trạng ăn ở và canh tác.
+ Hộ du canh du cư + Hộ định canh, định cư
+ Hộ định cư, du canh
Sự phân loại này có tồn tại ở các xã và huyện vùng cao phía Bắc,
Tây Nguyên
1.1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông dân.
1.1.5.1. Các yếu tố chủ quan
- Đất đai: Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất ra sản phẩm, nó vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động
và là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế được, hiệu quả của sản
xuất nông nghiệp phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đất đai. Xác định rõ quyền
sử dụng đất lâu dài cho một cá nhân hoặc một nhóm và như vậy nó có tạo ra
các chủ thể sản xuất thực sự làm chủ các tư liệu sản xuất, làm chủ trong sản
xuất kinh doanh, từ đó làm chủ nông sản phẩm và tạo ra sản phẩm đáp ứng
nhu cầu thị trường. Việc cho phép nông dân được quyền sử dụng đất sản xuất
lâu dài thì nguồn tài nguyên đất đai mới sử dụng có hiệu quả, được bảo vệ và
phát triển độ màu mỡ trong quá trình khai thác, phát huy hết khả năng kinh

học và hiệu quả cao. Chất lượng lao động còn thể hiện khả năng tiếp thu khoa
học kỹ thuật, kinh nghiệm trong sản xuất, am hiểu thị trường và chính sách
của Nhà Nước [1].
1.1.5.2. Các yếu tố khách quan
- Thị trường: Là nơi diễn ra trao đổi hàng hóa, thị trường tác động rất
lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế thay đổi giá cả. Giá cả
lại phụ thuộc vào quy luật cung – cầu trên thị trường. Có hai loại thị trường là
thị trường đầu vào và thị trường đầu ra.
+ Đối với thị trường đầu ra (thị trường tiêu thụ sản phẩm): Trong nông
nghiệp cung về sản phẩm là cung muộn, hơn nữa sản phẩm trong nông
nghiệp thường khó bảo quản, vì vậy rủi ro thị trường đem lại rất lớn. Bên
cạnh đó, thị trường cạnh tranh sản phẩm trong nông nghiệp là thị trường hoàn
11
hảo, nên người nông dân không thể kiểm soát được thị trường, làm cho thu
nhập của người dân không ổn định.
+ Đối với thị trường các yếu tố đầu vào: giá cả đầu vào trên thị trường
ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất của nông hộ, vì thế nó có tác động
rất lớn đến quy mô sản xuất, đến mức độ đầu tư của nông dân.
- Điều kiện tự nhiên: Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào điều
kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu môi trường Nếu gặp điều kiện thuận lợi
phù hợp với các giai đoạn phát triển của cây trồng, vật nuôi thì sẽ cho năng
suất cao và ngược lại.
- Chính sách nhà nước: Trong quản lý kinh tế, mỗi chính sách ban hành
đều có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh dù lớn hay nhỏ.
Nếu chính sách đúng đắn và phù hợp sẽ kích thích sản xuất và ngược lại. Các
chính sách đã và đang được ban hành đã làm thay đổi đời sống kinh tế - xã
hội của dân cư nông thôn, tăng thu nhập, phát triển kinh tế cho hộ nông dân.
Ngoài các yếu tố trên, kinh tế nông hộ còn chịu ảnh hưởng của các
phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa


Truyền thống
tập quán
Hiệp hội
-
Thanh niên
-Phụ nữ
-Cựu chiến binh
-
Hội làm vườn Nhà nước
- Chính sách
- Luật pháp
Tổ chức
-Khuyến nông, lâm
-Trung tâm hỗ trợ
sản xuất
12
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở các nước trong khu vực
và thế giới
- Năm 1980, ở các nước Đông Âu, kinh tế hộ được đánh giá là kinh tế
phụ gia đình, nhưng trên thực tế nó lại đóng vai trò quan trọng sự phát triển
của mỗi quốc gia.
- Ở Hunggari sản phẩm hàng hóa nông trại gia đình chiếm tới 60% tổng
sản phẩm hàng hóa thu được từ nông thôn.
- Ở Trung Quốc trong những năm gần đây đã đạt được những thành tựu
hết sức kinh ngạc trong quá trình phát triển kinh tế nông hộ. ‘‘Hộ có mô
hình hộ tự chịu trách nhiệm”, là đơn vị sản xuất cơ bản của nông thôn.

quản lý rất chặt chẽ xuất nhập khẩu, đa dạng hóa các hình thức xuất khẩu từ
đó tạo điều kiện cho kinh tế hộ nông dân phát triển.
+ Năm 1984, chính phủ Trung Quốc đã tiến hành giao quyền sử dụng
đất lâu dài cho hộ nông dân. Tiếp đó khuyến khích mở rộng phát triển ngành
nghề, dịch vụ, phát triển hàng hóa, kích thích thành phần kinh tế trong nông
thôn cùng phát triển.
- Về đầu tư: Tiến hành nâng cấp cơ sở vật chất – kỹ thuật. Bên cạnh đó
Chính phủ còn tăng cường đầu tư tài chính, mở mang nhiều hình thức tín
dụng để nông hộ có điều kiện vay vốn và phát triển sản xuất.
- Về chuyển giao khoa học – kỹ thuật: Việc kết hợp giữa khoa học kĩ
thuật với tiềm năng kinh tế đã huy động và tận dụng mọi năng lực sẵn có
trong dân, đặc biệt nguồn vốn tự bỏ ra để không ngừng nâng cao mức sống
của hộ và xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa.[5].
1.2.2.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế hộ ở Thái Lan
Là một nước có nền kinh tế ổn định, kinh tế nông hộ ở Thái Lan phát
triển mạnh và hầu hết là các nông trại sản xuất hàng hóa. Chính vì thế Thái
Lan đã trở thành nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo từ mấy chục năm
trước trở lại đây, hiện tại Thái Lan đứng thứ hai về xuất khẩu gạo sau Việt
Nam (2013). Để thúc đẩy kinh tế nông hộ phát triển chính phủ Thái Lan đã
có những điều tiết vĩ mô như sau:
- Năm 1977, đưa ra chính sách đa dạng hóa nền kinh tế theo hướng sản
xuất sản phẩm xuất khẩu, khuyến khích hộ gia đình vừa chuyển dịch cơ cấu
kinh tế vừa nâng cao giá trị nông sản và hàng hóa có sức cạnh tranh trên thị
trường thế giới.
14
- Chính sách giá cả, thị trường: Khi giá nông sản thấp, chính phủ thường
dùng quỹ bình ổn giá bằng cách đặt mức tối thiểu, tạo nhu cầu dự trữ và điều
tiết hạt ngạch xuất khẩu gạo, đặc biệt hạn chế tối đa hóa sự bóc lột của tầng
lớp trung gian, thương nhân. Chính phủ hạ thấp giá mua vật tư, nâng giá bán
buôn nông sản.

cao, song đã có đường đi lên núi là đường nhựa, nhà có đủ điện nước, có ô tô
riêng. Từ 1974 họ thành lập nông trường, nông hội, trồng những sản phẩm
quý hiếm như "cao sơn trà", bán các mặt hàng sản phẩm của rừng như cao
các loại, thịt hươu, nai khô , cùng các sản phẩm nông dân sản xuất được
trong vùng. Về chính sách thuế và ruộng đất của chính quyền có sự phân biệt
giữa 2 đối tượng "nông mại nông" thì miễn thuế (nông dân bán đất cho nông
dân khác), "nông mại bất nông" thì phải đóng thuế gấp 3 lần tiền mua (bán
đất cho đối tượng phi nông nghiệp). Nguồn lao động trẻ ở nông thôn rất dồi
dào nhưng không di chuyển ra thành thị, mà dịch vụ tại chỗ theo kiểu "ly
nông bất ly hương". Các cơ quan khoa học ở Đài Loan rất mạnh dạn nghiên
cứu cải tạo giống mới cho nông dân và họ không phải trả tiền.[1].
1.2.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ nước ta
• Khái quát tình hình phát triển kinh tế hộ ở nước ta
- Trong thời kỳ Pháp thuộc: Tuyệt đại bộ phận nông dân đi làm thuê cho
địa chủ, một bộ phận ít nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ theo kiểu cổ truyền
với kinh nghiệm và kĩ thuật thô sơ. Trong thời kỳ này chính phủ đưa ra chính
sách giảm tô, giảm tức cho dân, động viên tăng gia sản xuất, thực hiện tiết
kiệm nhờ vậy mà sản lượng quy ra thóc năm 1954 đạt 3 triệu tấn tăng 13,7%
so với năm 1946.
- Từ năm 1955 – 1959: Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng
và Chính phủ ta đã thực hiện chính sách cải cách với mục đích ‘‘Người cày
có ruộng’’. Năm 1957, cải cách ruộng đất cơ bản đã được hoàn thành, cải
cách ruộng đất chia 81 vạn ha ruộng, 74 nghìn con trâu bò cho 2,1 triệu hộ
nông dân. Kết quả là hộ nông dân có đất canh tác, trâu bò để sản xuất, đời
sống kinh tế có phần được cải thiện.
- Từ năm 1960 – 1980: Đây là giai đoạn nước ta tiến hành cải cách
ruộng đất, thực hiện tập thể hóa một cách ồ ạt, song đây cũng là lúc tập thể
bộc lộ rõ tính yếu kém của mình, thời kỳ này kinh tế nông hộ không được coi
trọng. Đây là thời kỳ xuống dốc của nền nông nghiệp nước ta.
- Từ năm 1981 – 1987: Chỉ thị 100CT/TW được Ban bí thư Trung ương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status