Thế giới nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi - Pdf 29

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nguyễn Đình Thi (1924-2002), là một nghệ sĩ đa tài và có một vị trí
đặc biệt trong nền văn học Việt Nam. Ông là một trong những người hoạt
động văn nghệ chủ chốt từ những ngày đầu cách mạng tháng Tám đến nay,
đồng thời có những đóng góp tiêu biểu trong nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ
thuật như: thơ, âm nhạc, văn xuôi, lí luận phê bình, kịch… Nguyễn Đình Thi
là một mẫu hình của thế hệ nhà văn trưởng thành trong cách mạng. Nhà văn
tài hoa này đến với cuộc đời mới với nhiều tham vọng khai thác trên nhiều
bình diện lớp sâu của hiện thực qua tiểu thuyết, những xung đột giàu kịch tính
và chất thơ của cuộc đời. Nguyễn Đình Thi bắt đầu bằng chính sự bắt đầu –
ông ít chịu ảnh hưởng của văn chương thời kì trước Cách mạng tháng Tám.
Tỉnh táo, thông minh, giàu tưởng tượng và liên tưởng, Nguyễn Đình Thi đã
đem đến văn chương niềm vui và sự trong sáng của lí tưởng và cuộc đời mới.
Trong khoảng thời gian hơn 60 năm cầm bút với những đóng góp tìm tòi của
mình. Nguyễn Đình Thi ngày càng thu hút được sự chú ý tìm hiểu, lí giải,
đánh giá không chỉ của giới văn học nghệ thuật mà còn của nhiều công chúng,
của giới thuyền thông. Đến nay những gì mà chúng ta đã biết, đã đánh giá về
cuộc đời và sự nghiệp của ông chắc chắn mới chỉ là những bước đầu, tuy rất
quan trọng, nhưng còn cần được tiếp tục tìm hiểu, suy ngẫm, khám phá.
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy từ trước tới nay đã có nhiều công
trình nghiên cứu về Nguyễn Đình Thi, khẳng định những thành công của ông
trong sự nghiệp sáng tác và nghiên cứu phê bình nghệ thuật. Tuy nhiên, trong
đó việc nghiên cứu nghệ thuật sáng tạo về kịch của ông còn chưa nhiều. Các ý
kiến mới chủ yếu đề cập đến các vở kịch cụ thể và đời sống của chúng trên
sàn diễn. Trong đó chỉ có ở hai công trình nghiên cứu của Lê Thị Chính và
2
Bùi Thị Thanh Nhàn chúng tôi mới thấy kịch của Nguyễn Đình Thi bước đầu
được nghiên cứu một cách có hệ thống. Tuy nhiên, trong đó các vấn đề mới

Minh Đức]. So với những mảng sáng tác khác, kịch Nguyễn Đình Thi đã từng
chịu số phận long đong, thậm chí còn oan ức. Dù không sớm được đề cao,
khẳng định nhưng cho đến nay những kịch phẩm của ông cũng đã giành được
sự quan tâm đích đáng. Trong số đó, có không ít bài viết thực sự tâm huyết
của các tác giả như Huy Cận, Hà Minh Đức, Tất Thắng, Tuệ Minh, Phan
Trọng Thưởng. Qua những bài nghiên cứu của các tác giả này, nhiều phương
diện đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của kịch Nguyễn Đình Thi đã
được chỉ ra như: tính triết lí, màu sắc bi kịch, nội dung nhân bản hay khuynh
hướng tượng trưng, sự đan xen giữa hiện thực và huyền ảo. Có thể kể đến một
số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Khi nghiên cứu về hai vở kịch ngắn
“Người đàn bà hóa đá” và “Cái bóng trên tường”, tác giả Huy Cận có đưa ra
cách nhìn nhận xác đáng:“Hai vở kịch ngắn đều nói tới định mệnh nghiệt ngã,
tàn khốc đối với nhân vật để rồi cuối cùng một vở để lại cái bâng khuâng, xa
xót nghìn đời, cái xa xót sừng sững giữa trời đất, và cuối vở sau để lại nỗi ân
hận, hối hận chẳng bao giờ nguôi được”. Đồng thời tính chất mới mẻ, sáng
tạo của hai tác phẩm này còn được khẳng định, đó là “chuyện xưa nhưng hồn
truyện vẫn trẻ” [inter.].
Cùng nghiên cứu về đặc điểm kịch của Nguyễn Đình Thi, Trần Khánh
Thành và Bùi Thị Hợi viết: “Kịch của Nguyễn Đình Thi giàu chất triết lí,
hình tượng nghệ thuật đa nghĩa, nhiều ẩn dụ, không dễ hiểu với tầng lớp bình
dân. Thế giới nghệ thuật kịch của Nguyễn Đình Thi là một thế giới văn hóa đa
dạng nhiều màu sắc, nơi mà dấu vết văn hóa cổ kim, đông tây, dân gian, bác
học được hội tụ và tỏa sáng. Dù đa dạng về sắc thái tính chất nhưng tất cả
4
đều thể hiện tình yêu tha thiết của một nghệ sĩ tài năng tâm huyết với đất
nước, với dân tộc, với nhân dân, thể hiện xót xa về số phận con người và
những khát vọng sáng tạo nghệ thuật” [37, inter]. Tác giả Trần Hữu Tá cho
rằng: “Kịch Nguyễn Đình Thi giàu chất suy tưởng và thiên về tính trữ tình,
triết lí”. Tương tự, nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn còn khẳng định thêm:
“Phần lớn các vở kịch của Nguyễn đình Thi đều ít nhiều mang màu sắc bi

thế giới kịch của Nguyễn Đình Thi. Ở đây cuộc đời có quá khứ, hiện tại và
tương lai, chủ yếu là những vấn đề chung của lịch sử ở một thời điểm và cũng
là muôn đời. Ở đây có những gương mặt hiền lành cụ thể của người con gái,
bà mẹ, người chiến binh như mới từ cuộc đời đi vào trang sách và cũng sâu
xa hơn họ lại đến với thế giới có màu sắc huyền thoại” [11, tr. 27]. Cũng
chính ông còn phát hiện: “Điểm mạnh của ngòi bút kịch Nguyễn Đình Thi là
những đột phá vào thế giới bên trong của nhân vật” [11, tr. 25-26].
Năm 1999, nhân sự kiện vở Rừng Trúc được dàn dựng và đạt huy
chương vàng tại Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp cuối cùng của thế kỉ XX,
Phan Trọng Thưởng phân tích khá sâu về vở kịch với những phát hiện quan
trọng về tư tưởng nghệ thuật cũng như tính cách các nhân vật và nghệ thuật tổ
chức xung đột, từ đó nêu lên một số vấn đề lí luận sáng tác về đề tài lịch sử.
Tác giả bài viết cho rằng: “ Rừng trúc cho thấy khả năng khai thác vào các sự
kiện lịch sử tưởng như đã cũ để tìm ra trong đó những bài học”. Trong một
bài nghiên cứu khác (Về một số nhân vật lịch sử trong vở kịch “Rừng trúc”
của Nguyễn Đình Thi), tác giả Lê Thị Chính cũng đã khẳng định thêm rằng:
“Khai thác đề tài lịch sử, ngòi bút Nguyễn Đình Thi muốn tìm trong lịch sử
những gì gần gũi, mượn lịch sử để gửi gắm, chiêm nghiệm tư tưởng của
mình”. Tác phẩm vừa dựng lên những sự kiện lịch sử đầy bạo động, vừa khái
6
quát được những vấn đề sâu sắc về thế sự, nhân sinh. Mặc dù là vở kịch “giàu
chất văn học và rất khó sân khấu hóa” nhưng khi đã dược hóa thân trên sàn
diễn nó thực sự có thể tạo nên một hiệu quả chinh phục lớn lao. Có thể nói,
sau 21 năm sống trong im lặng, rừng trúc có nhiều ưu điểm vượt trội và hiện
hình thực sự trên sân khấu, sống cuộc sống đầy đủ của một kịch bản sân khấu.
Sau này, có thêm nhiều ý kiến bộc lộ sự quan tâm tâm tới mảng sáng tác kịch
của ông. Tô Hoài “đặc biệt chú trọng khu vực sáng tác kịch bản sân khấu của
Nguyễn Đình Thi và thấy ở mỗi vở kịch đều mang triết lí của nhân vật lịch sử,
một truyền thuyết hay huyền thoại”[15, tr. 79]. Lê Thiếu Sơn phát hiện:
“Những nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi đa diện và mở ra nhiều hướng

tâm huyết tạo dựng, vun đắp trong suốt khoảng thời gian gần 30 năm của
mình Đồng thời góp thêm một tiếng nói, một cái nhìn mới về viêc nghiên
cứu và giảng dạy kịch ở các cấp học.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tập hợp, khảo sát, phân tích trọn bộ 10 tác phẩm kịch
của Nguyễn Đình Thi, luận văn hướng tới làm nổi bật nét đặc sắc về thế giới
nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong kịch Nguyễn Đình Thi.
Đồng thời, quá trình tìm hiểu, nghiên cứu cũng khẳng định tài năng
sáng tạo và vị trí, sự đóng góp của Nguyễn Đình Thi đối với sự phát triển của
thể loại kịch trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung vào việc tìm hiểu Thế giới nhân vật trong kịch
Nguyễn Đình Thi
* Phạm vi nghiên cứu:
8
Những tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi(gồm 10 tác phẩm)
1. Con nai đen (1961)
2. Hoa và Ngần (1974)
3. Giấc mơ (1977)
4. Rừng trúc (1978)
5. Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979)
6. Tiếng sóng (1980)
7. Người đàn bà hóa đá (1980)
8. Cái bóng trên tường (1982)
9. Trương Chi (1983)
10. Hòn cuội (1986)
Ngoài ra để thấy được những đặc sắc về nhân vật kịch của Nguyễn
Đình Thi, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của một
số nhà viết kịch khác như Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Quang Vũ.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN VẬT KỊCH
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC KỊCH CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI

1.1. Những vấn đề lý luận về nhân vật kịch
1.1.1. Nhân vật
Nhân vật là một khái niệm quan trọng trong lý luận và nghiên cứu văn
học. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nhân vật văn học nhưng đều gặp
nhau ở những nội hàm không thể thiếu của khái niệm này:
Thứ nhất, đó là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng những
phương tiện văn học khác nhau.
Thứ hai, đó là con người hoặc con vật, đồ vật, sự vật hiện tượng mang
linh hồn, đặc điểm của con người, là hình ảnh ẩn dụ của con người.
Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời
sống hiện thực, bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn.
Nhân vật văn học chính là đối tượng được miêu tả có sức sống riêng nào đó
bên trong tùy thuộc vào nhiệm vụ nghệ thuật mà tác giả trao cho nó.
Đối với mỗi nhân vật văn học thì tính cách được coi là hạt nhân, là đặc
điểm quan trọng nhất, là “nội dung của mọi nhân vật văn học” [9, tr. 64].
Trong nghiên cứu văn học, theo nghĩa rộng nhất của nó, khái niệm
“nhân vật” mới chỉ là hình ảnh về con người, khái niệm “tính cách điển hình”
chính là điển hình về con người. Như vậy, dùng khái niệm “nhân vật” là chỉ
đối tượng được nói đến, còn dùng “tính cách” và “tính cách điển hình” là đã
bao hàm cả sự đánh giá về chất lượng tư tưởng nghệ thuật của đối tượng đó”
[31, tr. 162 – 163]. Nhân vật và tính cách là những yếu tố thuộc nội dung
nhưng các biện pháp thể hiện chúng sao cho sinh động, hấp dẫn là thuộc về
11
hình thức của tác phẩm. Không thể phát huy vai trò của các chi tiết trong việc
miêu tả ngoại hình và hành động nhân vật như tự sự; việc khắc họa tính cách,
nhân vật kịch tập trung vào hành động và ngôn ngữ của nhân vật. Nhờ đó mà
với nghệ thuật trình diễn, nhân vật kịch mới có thể hiện lên một cách chân

gửi gắm những giá trị nội dung và tư tưởng. Có thể khẳng định nhân vật sẽ
quyết định đến mầu sắc và tính chất của tác phẩm, có nghĩa là loại nhân vật sẽ
quyết định việc nhà văn đi sâu vào vấn đề cốt lõi nào của đời sống và thế giới
nghệ thuật mà nó tạo nên vì thế mà cũng có nét riêng phù hợp.
Nhân vật còn là phương tiện để khái quát lên tính cách xã hội. Điều này
là do nhân vật là nơi chứa đựng tính cách duy nhất. Khi đã mang trong mình
sự khái quát tính cách nhất định, nhân vật vừa có nét riêng lại vừa có khả
năng đại diện cho một lớp người nào đó. Lý luận văn học đã chỉ ra tính cách
là sự khái quát bản chất xã hội – lịch sử, tâm lý con người bằng hình thức con
người cụ thể, là sự thể hiện các phẩm chất xã hội của con người với tư cách là
con người xã hội. “Tính cách là điểm trung tâm của các mối quan hệ giữa nội
dung và hình thức” [Hêghen]. Về mặt nội dung: nhân vật với tính cách của nó
là phương tiện để thể hiện tư tưởng tác phẩm. Về hình thức: nhân vật với tính
cách của nó quyết định đến phần lớn các yếu tố hình thức kết cấu, những quy
luật loại thể, ngôn ngữ…
Tập hợp các cá thể nhân vật sẽ tạo nên một thế giới nhân vật. Ở đó
truyền tải ý đồ nghệ thuật của người cầm bút với những quan niệm nghệ
thuật, cách nhìn nhận và thể hiện con người…Trong thế giới nhân vật, từ con
người cá thể với những đặc điểm về tính cách, cuộc đời, số phận, cho phép ta
hình dung nên bức tranh tổng thể về đời sống. Thế giới nhân vật chính là phần
tất yếu trong thế giới nghệ thuật của người cầm bút.
13
Với vai trò, vị trí quan trọng như vậy, một lần nữa có thể khẳng định:
nhân vật là yếu tố không thể thiếu đối với tác phẩm văn chương.
1.1.2. Nhân vật kịch và đặc điểm của nhân vật kịch
Nhân vật kịch là con người được miêu tả trong tác phẩm kịch. Tất cả
mọi nội dung, diễn biến của câu chuyện, hành động, xung đột và tư tưởng,
quan niệm của tác giả đều phải thể hiện qua nhân vật – và trực tiếp là qua hoạt
động biểu diễn của diễn viên trên sân khấu. Nhân vật kịch luôn hiện hình
trong tác phẩm đúng vào thời điểm “bước ngoặt số phận” và dù ở bất cứ dạng

riêng, có thể thấy, trong kịch, yếu tố nhân vật đóng vai trò vô cùng quan
trọng. Nhân vật kịch vừa là nơi trực tiếp và duy nhất khắc họa hình tượng, thể
hiện mâu thuẫn, xung đột, vừa là nơi để truyền tải thông điệp, tư tưởng của
tác giả đến công chúng. Việc đi vào tìm hiểu về nhân vật trong một vở kịch
hay tìm hiểu về thế giới nhân vật trong các sáng tác của một kịch tác gia văn
học là một việc bao quát và toàn diện cho thấy quan niệm, tư tưởng, tài năng
nghệ thuật của tác giả cũng như toàn bộ tác phẩm, đặc biệt khi nó được trình
diễn trên sân khấu. Đó sẽ luôn là một con đường hiệu quả nhất để tiếp cận với
kịch.
1.2. Hành trình sáng tác kịch của Nguyễn Đình Thi
Nguyễn Đình Thi tiêu biểu cho một thế hệ trí thức trưởng thành từ cuộc
cách mạng tháng Tám vĩ đại, “là sản phẩm của một thời đại đẹp, sáng, oai
hùng”. Là một trí thức có vốn văn hóa uyên bác, lịch lãm, lại đa tài, ông đã
đem đến cho nền văn nghệ Việt Nam một diện mạo mới, một khuynh hướng
sáng tạo nghệ thuật mới mẻ.
15
Nói như Nguyễn Trọng Tạo “Ở đời người đa tài như Nguyễn Đình Thi
đâu có nhiều, mà đa tài kiểu Nguyễn Đình Thi chỉ có một” [11, tr. 328].
Không chỉ là “lục sĩ” như Đặng Vương Hưng đã gọi mà ông còn là một nhà
báo, một nhà hùng biên, một nhà điện ảnh…Với cách nói giàu hình ảnh, giản
dị và đầy sức thuyết phục Nguyễn Đình Thi còn là người viết thuyết minh cho
nhiều phim (Việt Nam trên đường thắng lợi, Hồ Chí Minh – chân dung một
con người). Dường như tất cả những gì thuộc về văn chương nghệ thuật đều
không xa lạ đối với ông. Trên hành trình đi tìm cái đẹp, Nguyễn Đình Thi đã
nỗ lực, kiên trì thể nghiệm tài năng của mình và thành công ở nhiều thể loại
khác nhau: âm nhạc, thơ, lí luận phê bình…Và đặc biệt Kịch là thể loại ông
dành tâm huyết gần 30 năm cuối cuộc đời. Tuy số phận của các tác phẩm kịch
còn gặp nhiều sóng gió nhưng Nguyễn Đình Thi đã để đời những tác phẩm
bất hủ như (Con Nai đen, Cái bóng trên tường, Nguyễn Trãi ở Đông Quan,
Rừng Trúc…). Bên cạnh những cây bút kịch đầy tài năng như Lưu Quang

lên để thắp sáng tác phẩm”. Từ phút đó cả nhà hát im phăng phắc… Rồi
tiếng vỗ tay ào lên như sấm… mọi người ùa lên sân khấu tặng hoa, bắt tay,
ôm hôn tác giả… Nhưng sau 8 buổi diễn, vở kịch có lệnh cấm”. Giới sân
khấu lúc đó có giai thoại vui “nếu kịch bản mang tên Nguyễn Đình Thi, đạo
diễn Nguyễn Đình Nghi thì khâu duyệt vở sẽ là Nguyễn Đình …Chỉ”. Chính
Nguyễn Đình Thi cho biết với vở kịch này ông còn gặp rất nhiều phiền phức
rắc rối. Điều đáng nói dù không được diễn, hoặc không được in, Nguyễn Đình
Thi vẫn cứ viết.
Số phận của Rừng trúc còn long đong hơn. Rừng trúc được viết trước
Nguyễn Trãi ở Đông Quan, ngay tháng áp tết 1978. Nguyễn Đình Thi đã ôm
bản thảo đến đoàn kịch Trung ương đọc cho nghệ sĩ Đào Mộng Long, Phạm
17
Thị Thành và Tuệ Minh, cả ba đều xuýt xoa tấm tắc. Đoàn kịch Điện ảnh định
dàn dựng nhưng không thành. Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi đã rất mê Rừng
trúc từ ngày ấy và đem giới thiệu cho một số đoàn kịch (Đoàn kịch Trung
ương, Nhà hát cải lương Trung ương, nghệ sĩ Bạch Tuyết ở Thành phố Hồ
Chí Minh…). Nhưng tất cả mới chỉ dừng lại ở dự định. Rừng trúc lặng lẽ tồn
tại ở dạng bản thảo đánh máy và truyền tay từ người này sang người khác.
Gần 10 năm sau, bước vào công cuộc đổi mới, Rừng Trúc mới được công bố
toàn văn trên Tạp chí Tác phẩm mới. Sau đó đạo diễn Nguyễn Đình Nghi và
đoàn kịch Hà Nội đã đưa vào kế hoạch dàn dựng, nhưng rồi phải gác lại bởi
những lí do bất khả kháng [14, tr. 380].
Đến tận cuối 1999, sau 21 năm “im lặng”, Rừng trúc mới thực sự hiện
diện trên sân khấu Nhà hát tuổi trẻ do công của các đạo diễn Nguyễn Đình
Nghi và Phạm Thị Thành, cùng lớp diễn viên nổi tiếng của nhà hát. Vở diễn
đã đạt huy chương vàng trong Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp cuối cùng
của thế kỉ XX. Lúc ấy Nguyễn Đình Thi đang nằm cấp cứu tại bệnh viện Hữu
Nghị, nhưng ông thấy mình còn may mắn vì được chứng kiến đứa con tinh
thần của mình hóa thân trọn vẹn trên sân khấu. Ông ngậm ngùi nhớ Nguyễn
Huy Tưởng “Khi Vũ Như Tô được công diễn, Nguyễn Huy Tưởng đã chết

sâu triết luận giàu tính nhân văn.
Dường như, mỗi tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi đều có xu hướng
muốn vươn tới những chủ đề vĩnh cửu. Huy Cận đọc hai vở kịch ngắn của
ông là Cái bóng trên tường và Người đàn bà hóa đá đã nghĩ đến chủ đề định
mệnh trong sân khấu thế giới. Tương tự Con nai đen, Hòn cuội là cuộc đấu
tranh giữa cái Thiện và cái Ác, giữa sự thật và dối trá; vấn đề trong Giấc mơ
là hành trang dành quyền tồn tại giữa Sự sống và Cái chết, là ước mơ sống
19
đẹp và sống thật vươn lên mọi nỗi đau, mọi sự thiệt thòi mà không cần đến sự
khôn ngoan, toan tính…
Đối với văn học, đạo diễn chỉ là người ăn theo, còn với kịch không có
đạo diễn sẽ không có kịch. Nguyễn Đình Thi cho rằng “Người đạo diễn là
người giải mã, biến ước mơ in trên trang giấy thành tác phẩm nghệ thuật”.
Mặc dù Nguyễn Đình Thi viết kịch khá nhiều song mới chỉ có một vài vở
được dàn dựng diễn trên sân khấu (Nguyễn Trãi ở Đông Quan và Rừng
Trúc). Theo một số đạo diễn, đa số các vở kịch của Nguyễn Đình Thi trong
khi giàu chất văn học đặc biệt chất hình tượng và chất triết lí của kịch cùng
với chất chau chuốt của văn chương đối thoại nhưng lại có phần nghèo tính
sân khấu, cụ thể có những vở kịch đọc thì hay mà diễn thì khó, khó không có
nghĩa là không diễn được. Chính vì những yếu tố đó, mãi về sau này các vở
kịch của Nguyễn Đình Thi mới được bàn tay tài ba của đạo diễn Nguyễn Đình
Nghi dàn dựng thành công và ra mắt công chúng. Tuy còn nhiều tranh cãi
nhưng cũng đủ để khẳng định tài năng nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi về
kịch.
Kịch Nguyễn Đình Thi là những vấn đề ông nghĩ từ lâu, những vấn đề
không chỉ của một thời, những vấn đề mang triết lí nhân văn sâu sắc. Lời
thoại trong kịch của Nguyễn Đình Thi, ở nhiều vở mang vẻ đẹp cổ điển, đậm
dấu ấn văn hóa, giàu chất thơ và thấm đẫm chất triết lí trí tuệ. Nó đòi hỏi một
năng lực diễn xuất, một không khí và cả một trình độ thưởng thức cao…Ưu
điểm này cũng đi liền với hạn chế tất yếu của các vở diễn, vì với đông đảo

và chúng ta, Người tốt số nhà 5, Bệnh sĩ, Lời thề thứ 9… Trong hành trình
chinh phục những đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật, người nghệ sĩ có xu
hướng lựa chọn những đề tài khác nhau, những điểm nhìn khác nhau và thể
21
hiện chúng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nguyễn Huy Tưởng viết Vũ
Như Tô mà “chẳng biết Vũ Như Tô phải hay kẻ giết Vũ Như Tô phải…Cửu
trùng đài không thành nên mừng hay nên tiếc…Cầm bút chẳng qua cùng bệnh
với Đan Thiềm”. Đây là sự băn khoăn day dứt của một nghệ sĩ mang lương
tâm nghệ thuật nhưng loay hoay không biết đường đi đến nỗi lạc vào mê cung
của nghệ thuật! Còn Lưu Quang Vũ hiện đại trong chủ đề tư tưởng ngay cả
khi viết về đề tài lịch sử. Điều có thể thấy là khác hơn ở hiện tượng Nguyễn
Đình Thi chính nằm ở sự liên hệ trực tiếp giữa những vấn đề cốt yếu của hiện
thực xã hội đương đại, như vấn đề dân tộc, chủ quyền nổi bật trong Rừng
Trúc, như vấn đề dân tộc và giữ gìn bản sắc văn hóa trong Nguyễn Trãi ở
Đông Quan. Ở những tác phẩm sau cùng, lại là những vấn đề kiếp người,
thân phận con người. Nguyễn Đình Thi vừa nhạy bén, hiện đại với thời cuộc
vừa sâu lắng, truyền thống của một bản lĩnh văn hóa.
Khi có điều kiện nhìn lại, 10 tác phẩm kịch của Nguyễn Đình Thi cho
thấy một hành trình sáng tác: Thời kì đầu với Con nai đen, Hoa và Ngần,
Giấc mơ, Rừng Trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Nguyễn Đình Thi viết
trong nung nấu “viết những điều mình thấy là nên viết” bằng những suy nghĩ
cân não, một tầm nhìn sâu rộng về những vấn đề lớn lao, đại cục. Đến thời kì
sau với Tiếng sóng, Người đàn bà hóa đá, Cái bóng trên tường, Trương
Chi, nhà viết kịch viết trong chiêm nghiệm về những điều bé nhỏ, bình dị,
bằng con đường tìm về gần hơn với mảnh đất văn hóa dân gian sâu lắng từ
thuở nào, như một bông lúa rủ về với đất. 7/10 tác phẩm kịch của ông đều
mượn đề tài là những tích cũ, chuyện xưa, 3/10 tác phẩm còn lại phảng phất
hơi hướng huyền thoại, vậy nhưng Nguyễn Đình Thi không hướng đến khai
thác tỉ mỉ cốt, tích truyện cũ hay làm mới nội dung những cốt, tích truyện cũ
ấy, mà tiếp cận ở hai góc độ, một là ý nghĩa xã hội và nhân bản của xung đột

ta vừa bắt gặp những con người của lịch sử xa xưa: Nguyễn Trãi, Trần Thủ
Độ, Lý Chiêu Hoàng, Trần Cảnh…lại vừa bắt gặp những con người rất gần
như Hoa, Ngần, người lính, bà lão… lại gặp những con người bước ra từ cổ
tích như Tiên Dung, Chử Đồng Tử, Mỵ Nương, Trương Chi, nàng chinh phụ,
phú ông, nàng cuội… ta lại gặp cả nữ hoàng Clêôpat, Tần Thủy Hoàng, Thần
chết, ở đây còn có cả pho tượng đá, cái lá đa, con nai đen, cái bóng trên
tường…cho đến dòng sông, tiếng sóng… Thế giới mênh mang giữa hư và
thực mở rộng không gian của tác phẩm, nới rộng những chiều kích đưa con
người đến một cõi có hình mà vô hình trong sự toàn vẹn giữa những điều
mong muốn, khát khao. Đó là một nét phong cách kịch Nguyễn Đình Thi.
Nếu thời gian và không gian sân khấu hạn chế sự xuất hiện của quá nhiều
nhân vật, thì kịch của Nguyễn Đình Thi đã bước qua ranh giới ấy. Người nghệ
sĩ đưa nhân vật ra sân khấu cuộc đời, sống với con người.
24
Trong thế giới hư thực đó, để hiểu về thế giới nhân vật trong kịch
Nguyễn Đình Thi chúng tôi sẽ chia thành 2 kiểu nhân vật chính: nhân vật từ
hiện thực cuộc sống và những nhân vật biểu tượng. Sau đó, luận văn sẽ tiến
hành đi sâu vào phân tích một số nhân vật tiêu biểu, thể hiện những đặc trưng
cơ bản trong sáng tạo kịch Nguyễn Đình Thi.
2.1 Nhân vật từ hiện thực đời sống
Đây là loại hình nhân vật nằm trong những tác phẩm mà Nguyễn Đình
Thi viết về đề tài lịch sử. Không giống với các nhà chép sử khác (chỉ quan
tâm đến minh định đúng sai, thật giả của các chi tiết, các sự kiện lịch sử…),
các nghệ sĩ được tự do lựa chọn bất kỳ giai đoạn, sự kiện và nhân vật lịch sử
nào miễn sao có thể chuyên chở được những khát vọng sáng tạo, gửi gắm
được những ý tưởng hằng ấp ủ, và đặc biệt khai thác được mối quan hệ giữa
thời đại và lịch sử.
Viết về nhân vật lịch sử, Nguyễn Đình Thi đặc biệt quan tâm tới những
người đứng đầu xã tắc, nắm giữ việc nước, nắm giữ quyền bính quốc gia, và
những người trí thức, nghệ sĩ…, chiêm nghiệm về vai trò của họ đối với lịch

phận, một thân phận, một kiếp người. Nguyễn Đình Thi chú ý đến họ là đại
diện cho một kiếp người – Người cầm quyền.
Để thấu suốt nội dung tác phẩm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và
phân tích bộ ba nhân vật Trần Thủ Độ – Lý Chiêu Hoàng – Trần Cảnh trong
cơn biến loạn dữ dội của lịch sử.
a)Nhân vật Trần Thủ Độ
Trong tác phẩm Rừng Trúc, Nguyễn Đình Thi xoay quanh sáu nhân
vật lịch sử đời Trần ở thế kỷ XIII. Trong hoàn cảnh đất rối ren giặc ngoại xâm
lăm le bờ cõi, thời điểm chuyển giao ngôi báu từ triều Lý sang triều Trần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status