1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát tư liệu 10
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Đóng góp của luận văn 11
6. Cấu trúc luận văn 11
Chương 1. Vấn đề cảm hứng trong sáng tác của nhà văn và hành trình
sáng tác của Lưu Quang Vũ - Bằng Việt
13
1.1. Vấn đề sáng tác cảm hứng trong sáng tác của người nghệ sĩ 12
1.1.1. Khái niệm cảm hứng 13
1.1.2. Quan niệm về cảm hứng với vấn đề sáng tác của nhà văn 15
1.1.3. Cảm hứng với các biến thể của nó 17
1.2. Cảm hứng chiến tranh trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của
Lưu Quang Vũ và Bằng Việt
22
1.2.1. Thơ trong sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ và Bằng Việt 23
1.2.2. Đề tài chiến tranh trong sáng tác nghệ thuật của Lưu Quang Vũ
và Bằng Việt
32
Chương 2. Các biến thể của cảm hứng chiến tranh trong thơ Lưu
Quang Vũ và thơ Bằng Việt
38
3.3. Nghệ thuật tổ chức dòng thơ 111
3.3.1. Sử dụng câu thơ điệu nói 111
3.3.2. Câu thơ dồn nén sự kiện, đa nghĩa, giàu hình tượng 116
KẾT LUẬN
120
TÀI LIỆU THAM KHẢO
123
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hiện thực ba mươi năm chiến tranh ở Việt Nam (1945 - 1975) tuy
đã đi qua gần bốn mươi năm nhưng cảm hứng sáng tạo vẫn còn dồi dào trong
các thế hệ nhà văn, tất nhiên giờ đây nó đã được thể hiện dưới cái nhìn mới.
Đó là lý do mà dẫu cho chiến tranh đã cơ bản kết thúc (1975) nhưng nền văn
học (và nghệ thuật) nước ta vẫn kéo dài cái “quán tính sử thi” ấy cho đến năm
1985 mới dần bước sang một nền văn học với cái nhìn mới về hiện thực, con
người, đồng thời có sự chuyển biến về cách viết. Nhưng đề tài chiến tranh
(một biểu hiện khá rõ của cảm hứng) vẫn là một đề tài lớn, ám ảnh những
phổ thông (THPT). Nếu Bằng Việt hiện diện trong chương trình đó từ thể loại
thơ mà chỉ riêng với bài Bếp lửa đã đủ gây nên cảm xúc với bao thế hệ thầy,
trò đến mức “nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” thì Lưu Quang Vũ lại có mặt
trên thể loại kịch với những trích đoạn vở Tôi và chúng ta (THCS), Hồn
Trương Ba da hàng thịt (THPT), đã tạo nên những tràng cười nghiêng ngả mà
cũng thật đau xót với bao lẽ trớ trêu của cuộc đời này. Vì thế, nghiên cứu cảm
hứng sáng tác của hai tác giả này cũng sẽ góp phần giúp chúng tôi hiểu thêm
về tác giả, tác phẩm phục vụ cho công tác giảng dạy và sẽ là nguồn bổ sung tư
liệu cho những ai quan tâm.
Với những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài Cảm hứng
chiến tranh trong thơ Lưu Quang Vũ và Bằng Việt làm luận văn tốt nghiệp
của mình.
2. Lịch sử vấn đề
Thơ ca bước vào thời kỳ kháng chiến chống Mĩ cứu nước (nhất là giai
đoạn 1965 - 1975) giống như người lính cũ đã trải qua những luyện rèn, thử
5
thách từ hai mươi năm trước đó đã dạn dày và tràn đầy sức vóc. Thơ giai đoạn
này phát triển một cách rực rỡ với những thành tựu to lớn, cả về sự sung sức
của lực lượng với một thế hệ các nhà thơ trẻ giàu tài năng, cá tính sáng tạo:
Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Đức Mậu, Hữu Thỉnh, Anh
Ngọc, Dương Hương Ly, Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Quỳnh,…bên cạnh
những nhà thơ của thế hệ trước và cả về những sáng tác có tầm vóc xứng
đáng với nhiều tác phẩm vẫn tràn đầy sức sống đến tận ngày nay. Trong “dàn
đồng ca” thế hệ oai hùng đó không thể không nhắc tới hai gương mặt tiêu
biểu: Lưu Quang Vũ và Bằng Việt, hai thi sĩ vừa có sự đồng điệu về cái “tôi
thời đại”, vừa có “điệu hồn” riêng mang đậm dấu ấn cá nhân.
2.1. Các công trình, bài viết về thơ Lưu Quang Vũ
Có một thời khi nói đến Lưu Quang Vũ người ta nghĩ đến ngay một
nhà viết kịch tài danh. Điều ấy hoàn toàn đúng bởi ở thập kỷ tám mươi của
khám phá thơ Lưu Quang Vũ với một biểu tượng gió đầy gợi cảm, khẳng định
đó là một môtip góp phần làm nên phong cách thơ ông.
Nguyễn Thị Minh Thái trong khi “đi suốt chiều dài một đời thơ của
Lưu Quang Vũ”, lại có “cảm giác như vào một kho báu. Ở những câu thơ ta
nhặt vô tình nhất, cũng óng ánh một vẻ đẹp riêng…” [34, tr.95] và chỉ rõ, thơ
Lưu Quang Vũ còn rất nhiều điều cần khám phá.
Với Huỳnh Như Phương thì “Lưu Quang Vũ thật sự là một nhà thơ của
tuổi trẻ, một tuổi trẻ luôn băn khoăn, dằn vặt, tự vấn về cuộc đời và tự vấn
chính lòng mình” [34, tr.108].
Lưu Quang Vũ thơ và đời do PGS.TS Lưu Khánh Thơ biên soạn được
coi là cuốn sách tổng hợp đầy đủ nhất về thơ Lưu Quang Vũ. Những bài thơ
tiêu biểu nhất của Lưu Quang Vũ đã được lưu lại trong đó, cùng với nó là
những bài viết của những người thân, những bạn thơ cùng thế hệ, những đồng
7
nghiệp cũng như gia đình Lưu Quang Vũ. Phần đời của Lưu Quang Vũ cũng
được chú ý tập hợp và giới thiệu với bạn đọc hầu hết những chặng đường gian
nan của ông.
Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật cũng của Lưu Khánh
Thơ chủ biên, xuất bản năm 2000, ra đời nhân dịp Lưu Quang Vũ được nhà
nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, cũng là một công
trình rất đáng chú ý. Cuốn sách chia làm ba phần rõ rệt, phần một là những
bài viết giới thiệu bản sắc và sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ ở lĩnh
vực thơ, kịch, văn xuôi. Riêng về thơ có những bài viết của Hoài Thanh, Lê
Đình Kỵ, Vũ Quần Phương, Phạm Xuân Nguyên, Anh Ngọc, Hoàng Sơn…
cho thấy đánh giá của giới phê bình về Lưu Quang Vũ từ rất nhiều góc độ,
nhưng tựu trung, ở góc độ nào cũng đều đã cho thấy một cái nhìn thiện cảm,
kỳ vọng ở một cây bút thơ đang hồi sung sức, có một giọng điệu riêng, một
phong cách đáng ghi nhận.
Cuốn Đối thoại tình yêu Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, ấn hành năm
liệt, một Lưu Quang Vũ “tha thiết muốn vượt lên trên nỗi mệt mỏi, hoài nghi
để yêu thương, để sống và viết”.
Cuốn sách cũng đã công bố những bài viết mới nhất về Lưu Quang Vũ
trong chủ đề “Người trong cõi nhớ”, với những trang viết cảm động của Bùi
Vũ Minh, Anh Chi, Ngô Thảo. Đáng chú ý nhất trong đó là bài viết của Anh
Chi “Lưu Quang Vũ, mộng ước, khổ đau và cái đẹp”, gợi nhiều những kỉ
niệm về cuộc đời Lưu Quang Vũ, về những trang thơ hay, và có những nhận
định về thơ Lưu Quang Vũ rất đáng chú ý: “Cá nhân tôi coi anh là một tài
năng khá đặc biệt của văn chương Việt Nam nửa sau thế kỷ 20. Do cách anh
đi trên đường đời, đường thơ thật khác biệt so với bạn thơ cùng trang lứa,
cùng thời, nên anh là một số phận khác biệt hẳn ra, có thể coi là cá biệt…”. Ở
một chỗ khác, tác giả viết, thơ Lưu quang Vũ là “một giọng thơ dễ xâm chiếm
9
lòng người”, một tiếng thơ có đủ “mộng ước, khổ đau và cái đẹp”, một “tứ
thơ say đắm, nhiều nước mắt và cũng thật nồng nàn…”
Trong bài viết “Nhớ về Lưu Quang Vũ - những khoảnh khắc chợt
hiện”, Ngô Thảo nhớ lại nhiều kỉ niệm giữa những người đồng nghiệp với
nhau, nhưng có một nhận định về tác phẩm Lưu Quang Vũ, bao gồm cả kịch,
thơ, văn xuôi rất thú vị có tính bao quát lớn: “Hai mươi năm chưa phải là dài,
nhưng đất nước và thế giới đã có nhiều biến động về chính trị, xã hội khiến
cho nhiều thước đo giá trị đã thay đổi, nhưng nhiều tác phẩm của Lưu Quang
Vũ không sợ những thước đo mới mẻ (tác giả luận văn nhấn mạnh): thấm
đượm nhân văn, hướng thiện, đầy tình yêu với cuộc sống, con người, đất nước
luôn là những giá trị nghệ thuật tôn trọng”.
Ngoài ra, cũng có nhiều luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về thơ Lưu Quang
Vũ ở rất nhiều phương diện như Phong cách thơ Lưu Quang Vũ của Nguyễn
Thị Thu Thủy, 2008, Đại học Vinh; Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Lưu
Quang Vũ của Phạm Thị Thanh Tâm, 2010, Đại học Đà Nẵng,…
Tuy nhiên, nhìn chung có thể thấy rằng việc nghiên cứu thơ và phong
mới. Nó vượt lên những cảm xúc đơn điệu, sáo mòn của loại thơ chỉ thiên về
tình cảm, vì thế mà đánh thức cả một thế hệ làm thơ hướng tới những sáng tạo
trong chiều sâu của trí thức và tư tưởng hiện đại” [54, tr.13].
Trong cuốn Phê bình, bình luận văn học (Bằng Việt, Phạm Tiến Duật,
Vũ Cao, Nguyễn Duy), Nxb Văn nghệ - Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả
Nguyễn Xuân Nam có bài viết “Bằng Việt”, đã rất tinh tế nhận ra các bước
trưởng thành trong thơ ông: “Trước kia trong thơ anh thường là những bức tự
họa đời sống tâm tình của một thanh niên trí thức, nay đã có những bức ký
họa ghi trực tiếp ở chiến trường. Trong thơ có nhiều cảnh, nhiều người với
những nét mạnh mẽ gân guốc, dữ dội” [36, tr.30]. Nhất là Nguyễn Xuân Nam
11
nhận ra sự vận động không ngừng trong thơ Bằng Việt để đuổi kịp thời đại:
“Điều chú ý là anh biết chủ động chuẩn bị thích ứng với quá trình thay đổi nó.
Anh mở rộng dung lượng phản ánh của thơ, mở rộng khái niệm chất thơ, nghĩ
đến hướng phát triển của đời thơ mình. Anh nhận thức tác dụng của thơ đối
với cuộc sống ngày càng rõ và rộng hơn” [36, tr.40].
Cũng trong cuốn Phê bình, bình luận văn học, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí
Minh, tác giả Nguyễn Văn Hạnh trong bài “Đọc thơ Bằng Việt”, nhận ra được
sự “làm mới mình” thường xuyên, liên tục để làm cho “có không khí hơn” cái
“tạng” chính mình của Bằng Việt: “Từ một phong cách nặng về biểu hiện tâm
tình, Bằng Việt lúc này đã dành nhiều chỗ trong thơ mình cho tiếng nói trực
tiếp của đời sống của nhân vật, của sự kiện, quan tâm hơn đến những chi tiết
tạo hình, đến nghệ thuật tả và kể. Câu thơ vốn mềm mại, duyên dáng trở nên
chắc gọn, linh hoạt hơn” [36, tr.248].
Thiếu Mai trong bài “Một bếp lửa, những khoảng trời”, đã nhận thấy
qua các tập thơ của Bằng Việt là “tấm lòng thủy chung, trung hậu của anh đối
với con người, với đất nước. Thơ anh bao giờ cũng nặng tình nghĩa với đất
nước, một đất nước trải qua bao năm chiến tranh khốc liệt đằng đẵng”. Đặc
biệt Thiếu Mai đã phát hiện ra sự công phu trong việc sử dụng ngôn ngữ của
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát tư liệu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề cảm hứng chiến tranh trong thơ
Lưu Quang Vũ và Bằng Việt.
3.2. Phạm vi khảo sát tư liệu
* Các tập thơ của Lưu Quang Vũ:
- Hương cây - Bếp lửa (1968), in chung với Bằng Việt
- Mây trắng của đời tôi (1989)
- Bầy ong trong đêm sâu (1993)
13
- Lưu Quang Vũ - Di cảo (2008).
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có đọc thêm tuyển tập của ông có tên gọi
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (2010, Nxb Hội nhà văn).
* Các tập thơ của Bằng Việt:
- Hương cây - Bếp lửa (1968), in chung với Lưu Quang Vũ
- Bếp lửa - khoảng trời (Tuyển tập, 1986)
- Thơ Bằng Việt (Tuyển tập, 2001).
Ngoài ra, luận văn có tham khảo thêm các tập thơ: Những gương mặt -
những khoảng trời (1973), Đất sau mưa (1977), Khoảng cách giữa lời (1984),
Phía nửa mặt trăng chìm (1995).
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích lịch sử : Đặt tác phẩm vào hoàn cảnh lịch sử -
xã hội cụ thể, vào hoàn cảnh sáng tác cụ thể để tìm hiểu.
- Phương pháp so sánh: từ hai bình diện đồng đại và lịch đại nhằm làm
nổi bật nét tương đồng/ dị biệt giữa thơ Lưu Quang Vũ và Bằng Việt về cảm
thức chiến tranh.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống : tiếp cận hệ thống các tác phẩm của
hai tác giả và hệ thống các công trình nghiên cứu về hai tác giả.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn bước đầu cố gắng làm rõ vấn đề cảm hứng sáng tác của nhà
nghệ sĩ trên ba phương diện: Khái niệm cảm hứng, quan niệm vấn đề cảm
hứng của nhà văn, cảm hứng với các biến thể của nó.
1.1.1. Khái niệm cảm hứng
Cảm hứng (theo tiếng HyLạp cổ: pathos) là sự thể hiện tình cảm sâu
sắc, nồng nàn, một trạng thái hưng phấn cao độ về tư duy.
Nhưng cái gì làm nên “tình cảm sâu sắc, nồng nàn, một trạng thái hưng
phấn cao độ về tư duy” ấy? Câu trả lời thật không đơn giản và lịch sử của lý
luận văn học không phải chỉ có một câu trả lời duy nhất, thuần nhất. Chẳng
hạn, yếu tố làm nên cảm hứng lần đầu tiên được Hegel dùng để chỉ sức sống
nội tại của tính cách. Còn với Belinski, yếu tố trên được dùng để chỉ tư tưởng
đặc thù của nhà văn - cái tư tưởng hùng mạnh, xâm chiếm trái tim người nghệ
sĩ, nhưng đó hoàn toàn không phải tư tưởng triết học trừu tượng, không phải
tư tưởng suy lí mà là tư tưởng nghệ thuật hay còn gọi là niềm đam mê - niềm
đam mê tinh thần, đam mê tư tưởng. Chỉ có đam mê cháy bỏng thì mới xâm
chiếm toàn bộ trái tim lẫn trí tuệ của người nghệ sĩ, nó làm bầu máu nóng sôi
sục, làm chấn động cả hệ thần kinh. Và để chứng minh cho nhận định của
16
mình Bêlinski đã lấy hai dẫn chứng về cảm hứng trong hai vở kịch: Roméo và
Juliet và vở Hamlet của W. Shakesperes. Cảm hứng trong vở kịch Romeo và
Juliet là cảm hứng về tình yêu bởi trong lời độc thoại trữ tình của đôi tình
nhân ấy không chỉ có một việc là hai người yêu nhau, chiêm ngưỡng nhau mà
còn là sự bộc bạch tình yêu một cách trang trọng, tự hào, say đắm, một tình
yêu hết sức thiêng liêng. Vì thế, trong những lời thoại của Roméo và Juliet ta
thấy rõ ràng là khi cái bất hạnh bắt đầu uy hiếp tình yêu của họ thì cái năng
lượng tình yêu bị kích động do bỗng nhiên gặp trở ngại chống lại dòng tình
cảm lai láng, tự do của họ đã trở thành dòng bão tố. Cảm hứng của Hamlet
trong vở kịch cùng tên là cuộc đấu tranh của lòng căm phẫn chống lại thói xấu
và tội ác với “một sự bất lực trong cuộc chiến đấu công khai và tuyệt vọng,
một cuộc chiến đấu do ý thức nghĩa vụ đòi hỏi” [39, tr.79].
thể hiện bàng bạc trong hầu hết các khâu của quá trình sáng tác, từ việc hình
thành ý đồ sáng tác cho đến khâu sửa chữa văn bản nghệ thuật.
1.1.2. Quan niệm về cảm hứng với vấn đề sáng tác của nhà văn
Như đã nói, cảm hứng sáng tác là khâu then chốt, không thể thiếu trong
quá trình lao động sáng tạo của nhà văn (và người làm công tác nghệ thuật nói
chung). Tuy nhiên, quan niệm về vai trò của cảm hứng đối với mỗi nhà văn
trong quá trình sáng tác không phải ai cũng giống nhau, nhất là cách nói của
họ về cảm hứng càng có vẻ trái ngược nhau. Có những nhà văn đề cao đến
mức tuyệt đối hoá vai trò của cảm hứng: các nhà triết học như Platon cho rằng
cảm hứng là sức mạnh huyền bí của những giây phút thần linh đột nhập; H.
Bergson, Croshet thì giải thích cảm hứng sáng tác hoàn toàn mang tính trực
giác; S. Freud lại cho rằng cảm hứng bắt nguồn từ bản năng tính dục,…Một
số nhà văn khác cũng phát biểu mang tính phụ họa cho quan điểm này. Chẳng
hạn như Homer cũng gán cảm hứng sáng tác của mình cho thần Zeud và thần
Apolon; Pushkin thừa nhận rằng mình sáng tác ngay trong những giấc mộng
và ông buộc phải vùng dậy ghi lại những câu thơ vừa nảy sinh; Hoàng Cầm
18
cũng nói mình không sáng tác bài thơ Lá diêu bông mà chỉ ghi lại lời “ai đó”
đọc cho nghe lúc nửa đêm…. Đặc biệt là ý kiến của H.Balzac: “Xét về mặt tự
tiện và đỏng đảnh thì không có một cô gái giang hồ nào so sánh nổi với cảm
hứng của nghệ sĩ, nên hễ cảm hứng xuất hiện một cái là phải tóm ngay lấy nó
như tóm lấy một dịp may hiếm có vậy” [23, tr.211].
Ngược lại, cũng có một số nhà văn không coi trọng vai trò của cảm
hứng: G. Flaubert, Stendhan, E. Zola, Georger Sand, Tô Hoài,v.v…Flaubert
không tin tưởng nhiều vào cảm hứng. Franse cảm thấy ngọn lửa cảm hứng
trong ông rất ôn hoà. Stendhan có lúc hối tiếc không sử dụng mười năm của
đời mình vì cứ chờ đợi cảm hứng. Georger Sand ngày ngày đều đặn viết một
số trang nhất định. Tô Hoài còn chia sẻ rõ hơn: “Dù không thấy hứng, cũng
cứ viết… Hôm ấy, dù không thích cũng viết… Lúc sửa còn vứt đi mấy trang
của mỗi nghệ sĩ bởi nó là trạng thái xúc động mãnh liệt, bùng cháy khi phát
hiện ra một điều gì đó của bản chất cuộc sống. Sự đột ngột bùng cháy này lại
xuất phát từ kết quả quan sát, nghiền ngẫm, chiêm nghiệm hiện thực đời sống
của nhà văn. Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại có cho riêng mình một “vùng thẩm
mỹ”, đó thường là mảnh đất, con người, lĩnh vực,… mình quen thuộc nhất,
dung chứa nhiều nhất những kỷ niệm của riêng mình, gắn bó và yêu mến
nhất, gây hứng thú nhất cho mình, tóm lại, đó chính là “cõi đi về” trong tâm
tưởng và trong thực tế của nhà văn. Hiện thực càng phong phú, đa dạng, chứa
nhiều bất ngờ với những tầng vỉa, những tận cùng cảm xúc khiến cho ta tưởng
chừng không hiểu hết, không nắm được bản chất,…thì càng thu hút cảm hứng
của nghệ sĩ. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhất là cuộc chiến đấu khốc liệt ở
giai đoạn 1965 - 1975, khi chúng ta trực tiếp đối đầu với hơn nửa triệu quân
Mỹ (chưa kể lực lượng quân đội Sài Gòn và lính chư hầu) là một hiện thực
như thế. Sau này rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã gọi
giai đoạn này là một “thời đại lớn” (Tố Hữu), “thời điểm sáng rực” (Hà Xuân
20
Trường), “Một thời chả có ai là xoàng cả” (Nguyễn Khải), một “hiện thực ưu
đãi” nhà văn (Phong Lê),…Thế nên cảm hứng tập trung của nhà văn Cách
mạng là cảm hứng về cái hiện thực chiến tranh này (thực ra, kể cả các nhà văn
thuộc chế độ Sài Gòn cũ như Duyên Anh, Võ Phiến, Thanh Tâm
Tuyền,…cũng tập trung ở cảm hứng này, chỉ khác về tư tưởng, thái độ, cách
tiếp cận hiện thực). Mở rộng ra, có thể nói, bất cứ dân tộc nào, ở mọi thời nào
đang phải đối phó với chiến tranh thì nền văn học và nghệ thuật của họ cũng
tập trung cảm hứng sáng tạo vào cái hiện thực lớn lao, kỳ vĩ ấy.
Mặt khác, do bản thân cuộc sống được nhận thức có những điểm khác
biệt cốt yếu: cái tốt, cái xấu, cái bi, cái hài, cái trác tuyệt, cái thấp hèn, cái
khẳng định, cái phủ định, cái đáng ngợi ca, cái đáng lên án,…nên cảm hứng
trong tác phẩm cũng bộc lộ nhiều biến thể khác nhau: Cảm hứng anh hùng,
cảm hứng bi kịch, cảm hứng lãng mạn, cảm hứng hài hước,…Thế nhưng việc
cao hơn là nhân loại. Đối tượng của cảm hứng anh hùng là những con người
vĩ đại gánh vác sứ mệnh lớn lao. Cuộc đời họ luôn gắn liền với sứ mệnh ấy và
đương nhiên quyền lợi chung của tập thể, của cộng đồng trở thành nhu cầu
nội tại của cá nhân họ đồng thời cá nhân đó cũng tự nguyện, tự xác định trách
nhiệm của mình chứ không phải sự chấp hành ngoan ngoãn. Chẳng hạn, cảm
hứng trong Người con gái Việt Nam (Tố Hữu), Tổ quốc bao giờ đẹp thế này
chăng (Chế Lan Viên), Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi
(Nam Hà), Nấm mộ và cây trầm (Nguyễn Đức Mậu), Bài ca chim Chơ-rao
(Thu Bồn),…là loại cảm hứng như vậy. Hoặc những Hector, Achillle,
Agamennon trong Iliad, Pyotr trong Pyotr Đại đế, Đam San trong Trường ca
Đam San,…cũng là những con người anh hùng gánh vác trên mình sự sống
còn của thành bang, nhiệm vụ lập quốc, phá tập tục… Thế nhưng, không chỉ
việc đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài mới làm nảy sinh tính anh hùng. Việc
22
giải quyết những xung đột công dân bên trong cần thiết cho sự phát triển xã
hội cũng làm này sinh chất anh hùng cách mạng - chất anh hùng của sự tự do
gánh vác nghĩa vụ công dân (G. N. Pospélov). Nó chẳng những đòi hỏi lòng
dũng cảm, tính mục đích, sự xả thân mà còn đòi hỏi một tính độc lập cao
trong hệ tư tưởng ở mỗi con người. Chất anh hùng mang màu sắc công dân ấy
xuất hiện ở khá nhiều nhân vật trong văn học hiện đại: Davưdov trong Đất vỡ
hoang của M. Solokhov, Paven Corsaghin trong Thép đã tôi thế đấy của N.
Ostrovski của văn học Nga - xô viết, hay các nhân vật ở văn học Việt Nam
hiện đại: Biền trong Tầm nhìn xa của Nguyễn Khải, Tiệp trong Bão biển của
Chu Văn, Thanh trong Chỗ đứng của Dương Thị Xuân Quý, anh chủ nhiệm
trong bài thơ cùng tên của Hoàng Trung Thông,…
Cũng có thể một cảm hứng lãng mạn tràn ngập trong toàn bộ bài thơ để
nói lên niềm vui, sự tự tin, bình thản hoặc một hình ảnh tươi mới, một chút kỷ
niệm tuổi thơ chợt hiện về: Đường ra trận mùa này đẹp lắm/ Trường Sơn
đông nhớ Trường Sơn tây hoặc: “Em ở Thạch Kim sao cứ đùa anh là Thạch
hướng/ Trông lại ngày xưa, trông tới mai sau/ Trông Bắc, trông Nam, trông
cả địa cầu, lập tức tác giả lại nói đến nỗi buồn xưa: Trải qua một cuộc bể dâu/
Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình/ Nỗi buồn kiếp sống lênh đênh/ Tố Như
ơi! Lệ chảy quanh thân Kiều. Cứ thế, trong bài thơ, tác giả xen kẽ liên tục
cảm hứng về niềm vui ở miền Bắc XHCN với nỗi đau ở miền Nam đang rên
xiết dưới gót giày Mỹ - Ngụy; về niềm vui trước những thành tựu hôm nay
của đất nước với nỗi đau xưa về thân phận kiếp người,…
Tóm lại, cảm hứng trong tác phẩm nghệ thuật bộc lộ nhiều biến thể.
Nhưng điều cần lưu ý là mọi biến thể của cảm hứng đều mang tính chất tương
đối nên khi đi vào xem xét ở những tác phẩm của những tác giả cụ thể ta cần
lưu tâm đến những đặc tính, sắc thái khái nhau biểu hiện trong cảm hứng. Có
24
như vậy mới có cái nhìn toàn diện, chuẩn xác về giá trị tư tưởng của tác phẩm
cũng như về phong cách của tác giả.
Nhân nói về cảm hứng với sự “bùng cháy” của tư duy, của tình cảm
nhà văn khi đột ngột phát hiện ra nét bản chất nào đó của đời sống nhờ quá
trình tích lũy, chiêm nghiệm của họ trước đó, nghĩa là phải thật “gan ruột”
mới có cảm hứng nghệ thuật, mới làm ra tác phẩm, thì hiện nay ở nước ta lại
mới xuất hiện kiểu “thơ máy”: chỉ cần 05 giây là “sáng tác” được một bài thơ
bằng cách nhập vài từ thể hiện nội dung chủ đề (tự chọn), cách nhau bởi dấu
phẩy, gõ vào lamtho.vn là trong chớp mắt có ngay bài thơ! Ví dụ: gõ vài từ,
chẳng hạn, tên bạn gái Châu Giang, anh, thương nhớ, chủ đề yêu thương, sau
5 giây màn hình sẽ hiện ra: “Châu Giang anh thương nhớ/ Giữa vô minh con
đường trắng từng/ Trằn trọc”!; hoặc: mưa, mùa hạ, cầu vồng, lá cỏ, long lanh,
dương cầm, chủ đề (tự chọn), sẽ có: “Mưa mùa hạ trên lá cỏ/ Nhịp nước mắt
là cầu vồng/ Long lanh dương cầm ơ cỏ/ Vương nắng xưa khi má hồng”!,
v.v…(báo Thanh niên, Chủ nhật, 13.5.2012)
Loại thơ này, xét về lý luận cảm xúc, theo chúng tôi là nhảm nhí bởi nó
không phải xuất phát từ trái tim, từ cảm xúc, từ trải nghiệm bản thân mà là từ
thế kỉ XX bởi chạm đúng mạch cuộc sống, đáp ứng được những trăn trở, tâm
sự cháy bỏng của khán giả và đặc biệt ông đã biến sân khấu trở thành diễn
đàn để trao đổi, luận bàn, giao lưu giữa tác giả và công chúng. Thế nhưng,
đúng như lời nhận xét của Vũ Quần Phương: “Anh viết kịch để sống với mọi
người và làm thơ để sống với riêng mình” [46, tr.76], thơ ca mới là mảng ông
đam mê nhất và nó đi cùng ông trong suốt những năm tháng của cuộc đời.
Chính Lưu Quang Vũ cũng tự “thú nhận” rất chân thành như một lời tuyên
ngôn: Trên hạnh phúc, trên cả niềm cay đắng/ Thơ tôi là mây trắng của đời tôi.
Đọc thơ Lưu Quang Vũ ta mới thấy rằng, đó chính là nơi ký thác nhiều
nhất nỗi niềm với những gì “khó nói” nhất trong tâm hồn vốn rất nhạy cảm