Đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh tại công ty cổ phần chứng khoán sài gòn SSI - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây có sự phát
triển vượt bậc cả về lượng và chất. Điều này thể hiện trước hết ở quy mô của
thị trường tăng mạnh, nếu như năm 2006 mức vốn hóa của thị trường chứng
khoán chiếm khoảng 22.7% GDP thì năm 2007 đã tăng lên trên 43%
GDP( chỉ tính riêng đối với cổ phiếu)“Nguồn Báo Chứng khoán Việt Nam
tháng 1,2 năm 2008”
Và đi cùng với sự phát triển của thị trường là sự ra tăng nhanh chóng của các
công ty chứng khoán trong những năm gần đây. Tính đến cuối năm 2007 Sở
Giao Dịch Chứng Khoán TP HCM đã có 62 công ty Chứng khoán thành
viên và Trung tâm giao dịch Chứng khoán Hà Nội có 61 công ty chứng
khoán thành viên. Sự ra đời của các công ty chứng khoán này trước hết đáp
ứng nhu cầu quá tải trong việc khối lượng giao dịch tăng cao. Ngoài các dịch
vụ chính của mình như là môi giới, tư vấn, bảo lãnh phát hành.. thì một số
công ty chứng khoán đã tiến hành hoạt động tự doanh chứng khoán cho
chính công ty của mình. Với mục tiêu đem lại lợi nhuận cho công ty cũng
như đóng vai trò là những nhà tạo lập thị trường để mang lại sự ổn định cho
thị trường.
Trong năm 2007 vừa qua đã có một số công ty có lợi nhuận từ hoạt động tự
doanh chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng số lợi nhuận. Điều đó khẳng định
vai trò ngày càng quan trọng của hoạt động này.
Vì vậy để hiểu rõ thêm phương pháp, quy trình tiến hành hoạt động tự
doanh, tôi đã quyết định chọn đề tài :” Đầu tư chứng khoán thông qua
nghiệp vụ tự doanh tại công ty cổ phần chứng khoán sài gòn SSI” để làm
đề tài cho nghiên cứu chuyên đề tốt nghiệp của mình.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Có thể nói công ty cổ phần chứng khoán sài gòn SSI là một công ty chứng
khoán lớn, đã thành lập và ra đời cùng với thị trường chứng khoán. Do đó
nhận thấy tiềm năng và cơ hội đầu tư sinh lời của thị trường, họ đã tiên

chế...). Hoạt động đầu tư vào các tài sản phi vật chất như các loại giấy tờ có
giá, cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ…Vậy hoạt động đó chính là hoạt
động đầu tư chứng khoán.
Đầu tư chứng khoán là quá trình phân tích chứng khoán để đưa đến
quyết định đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu,chứng chỉ quỹ, chứng khoán phái
sinh nhằm đạt được một mức tỷ suất lợi nhuận hợp lý phù hợp với mức độ
rủi ro của khoản đầu tư/ danh mục đầu tư trong một thời kỳ.
2. Các hình thức đầu tư chứng khoán.
2.1. Phân loại theo thời gian đầu tư.
* Đầu tư ngắn hạn là hình thức đầu tư diễn ra trong một thời gian
ngắn. Nghĩa là họ tiến hành hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua việc
giao dịch đặt lệnh trong 5 phiên, 10 phiên, 20 phiên hay 1 tháng.
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đó là hình thức đầu tư mà người đầu tư chứng khoán thường phải thường
xuyên bám sát diễn biến, sự vận động của các cổ phiếu blue-chip đóng vai
trò chi phối thị trường. Họ thường thông qua các xu huớng biến động giá
cũng như khối lượng giao dịch hàng ngày để đưa ra các giao dịch mua, bán
hay giữ cổ phiếu.
Trong hình thức đầu tư chứng khoán ngắn hạn người ta thường nhắc đến
một khái niệm đó là hình thức đầu tư chứng khoán theo kiểu “lướt sóng”. Đó
là hình thức đầu tư giao dịch mua bán chứng khoán liên tục, tạo ra sự lên,
xuống nhanh chóng của một hay nhiều mã chứng khoán với mục tiêu là thu
được lợi nhuận tối đa.
Đầu tư theo kiểu "lướt sóng" phải mất nhiều công sức theo dõi cập nhật
thông tin không chỉ chung của cả thị trường mà của từng mã chứng khoán,
phân tích, dự đoán về triển vọng đầu tư; khi có dấu hiệu chững lại thì kịp
bán ra để chuyển sang mã chứng khoán khác đang có triển vọng tăng giá...
Cứ như thế, nhà đầu tư sẽ tìm cách thu được lợi nhuận cao nhất.
* Đầu tư dài hạn. Đó là hình thức đầu tư và lắm giữ chứng khoán

có vốn được gọi là kiểu phân tích căn bản (fundamental analysis).
*Trường phái đầu cơ (Speculator).
Đây là trường phái mua bán chứng khoán trong một thời gian rất ngắn từ vài
ngày đến vài giây.
Ngày nay thì Internet đã, đang và sẽ làm những cuộc cách mạng lớn. Riêng
đối với chứng khoán Internet đã tạo ra những “triệu phú tại gia”, Từ bất kì
nơi đâu trên thế giới, từ thợ thuyền đến tri thức, từ hưu trí đến thất nghiệp,
học sinh đến công nhân…Không nhân viên, không văn phòng, không lệ
thuộc vào bất cứ ai, vừa tự do về thời gian, vừa tự do về không gian. Họ
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
thông qua Internet họ có thể giao dịch, mua bán chứng khoán một cách
nhanh chóng và trực tuyến.
2.3 Phân loại theo hình thức đầu tư.
* Hình thức đầu tư chứng khoán trực tiếp. là quá trình nhà đầu tư
mua cổ phiếu của một hay nhiều công ty cổ phần đơn lẻ, tự tạo cho mình
danh mục đầu tư cá nhân.
Đầu tư trực tiếp được ví như việc nhà đầu tư tự nắm lấy số phận trong
tay mình, tự lựa chọn và đưa ra quyết định của riêng mình. Việc này đòi hỏi
nhà đầu tư phải có thời gian và kinh nghiệm. Lợi điểm của nó thể hiện ở chỗ
nhìn chung các khoản phí thấp hơn.
* Hình thức đầu tư gián tiếp. Là nhà đầu tư mua một hay nhiều gói
hàng hỗn hợp của một hay nhiều quỹ đầu tư. Tùy theo mức độ rủi ro của các
gói hàng hỗn hợp có thể bao gồm cổ phiếu các công ty, trái phiếu các loại,
chứng chỉ quỹ, tiền mặt, ngoại tệ…theo tỷ lệ thay đổi linh hoạt vào từng thời
kỳ.
Đầu tư gián tiếp kể như phó thác số phận vào tay các chuyên gia làm
việc cho ngân hàng hay công ty đầu tư nào đó, thích hợp cho những ai ít có
điều kiện bám sát thị trường. Cái giá phải trả cho các “quản trị viên tiền tệ”
này chắc chắn sẽ cao hơn, nhưng mức độ rủi ro lại được giảm xuống.

7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Thông thường, các công ty tăng trưởng có tỷ số P/E cao; vốn cổ phần lớn
hơn hoặc bằng tổng nợ; tăng trưởng đều đặn, không ngừng trong thu nhập
tính theo đầu cổ phiếu ít nhất là 10%/năm.
Đầu tư mua cổ phiếu của những công ty quen thuộc, lĩnh vực
quen thuộc
Đó là cổ phiếu của các công ty thường xuyên được tiếp xúc, được quan sát
hay đơn giản là sản phẩm của công ty đó được nhà đầu tư thường xuyên
mua. Cũng có khi chỉ vì thích sản phẩm của công ty đó hoặc do ảnh hưởng
bởi danh tiếng hay mối quan hệ quen biết mà họ quyết định đầu tư vào công
ty đó. Đây có thể là một sự khởi đầu tốt nhưng cần phải biết kỹ hơn về công
ty dự định sẽ đầu tư.
Điểm hạn chế của chiến lược này là sự chủ quan, chỉ nhắm vào các khía
cạnh phiến diện về công cuộc kinh doanh của công ty mà thôi. Và nó hạn
chế nhà đầu tư vào một hoặc hai ngành nghề. Đầu tư theo chiến lược này đòi
hỏi sự nhạy bén trước các sự kiện mới mẻ. Nhiều công ty có vẻ xa lạ nhưng
nếu chịu khó tìm hiểu thì có thể thấy đó thực sự là một cổ phiếu tốt đáng để
khai thác. Qua việc nghiên cứu, cảm nhận riêng về một loại cổ phiếu có thể
được xác nhận hay bị bác bỏ. Điều này sẽ giúp cho các nhà đầu tư tiết kiệm
được rất nhiều.
Đầu tư mua cổ phiếu thượng đẳng
Cổ phiếu thượng đẳng là cổ phiếu của các công ty lớn có tiếng tăm, tiềm lực
tài chính mạnh, thành tích kinh doanh vững chắc, lợi nhuận ổn định. Việc
nắm giữ cổ phiếu này sẽ giảm thiểu yếu tố rủi ro, ngay cả trong thời kỳ suy
thoái hay khủng hoảng kinh tế, nhưng thành tích của nó hiếm khi nổi bật.
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chiến lược này phù hợp với những nhà đầu tư ngại rủi ro và muốn có thu
nhập đều đặn.

Mới đây, Chính phủ vừa ban hành dự thảo quy chế giao dịch trái
phiếu, và sẽ được áp dụng vào quý 3/2008. Theo dự thảo, toàn bộ giao
dịch trái phiếu chính phủ và các trái phiếu khác đang niêm yết tại HoSE
sẽ được giao dịch tập trung, niêm yết tại HaSTC.
Cách thức mua bán khá mới được nêu ra trong dự án là giao dịch repo
trái phiếu chính phủ: trong quá trình giao dịch, 2 bên mua và bán phải ký
hợp đồng với điều khoản tới một thời hạn nhất định, người bán sẽ mua lại
của người mua số trái phiếu đã bán với mức giá được ghi trong hợp đồng.
Phương thức giao dịch thỏa thuận điện tử và giao dịch thỏa thuận thông
thường sẽ được áp dụng.
3.3 Đầu tư chứng chỉ quỹ.
Hiện nay thì đầu tư vào chứng chỉ quỹ cũng khá hấp dẫn nhờ tính
chuyên nghiệp của quỹ đầu tư chứng khoán và thị giá cũng khá thấp và mức
trả cổ tức cũng khá cao.
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chứng chỉ quỹ là một mặt hàng ngày càng được ưa chuộng trên thị
trường này. Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của
nhà đầu tư đối với một phần vốn góp trong quỹ đại chúng.
Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán hình thành từ vốn góp của
nhà đầu tư với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc đa dạng hóa đầu tư vào
chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác nhau nhằm phân tán rủi ro,
trong đó nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra
quyết định đầu tư của quỹ. Khi muốn thành lập quỹ thì các công ty quản lý
quỹ phải phát hành chứng chỉ quỹ, nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ tức là đã
xác nhận sự góp vốn của mình vào quỹ chung đó. Về bản chất chứng khoán
quỹ cũng giống như cổ phiếu của một công ty: là bằng chứng xác nhận
quyền sở hữu, hưởng lợi nhuận trên phần vốn góp, và đặc biệt được niêm yết
trên thị trường chứng khoán để mua bán giữa các nhà đầu tư.
Tuy nhiên có ba điểm khác nhau giữa chúng: cổ phiếu là phương tiện

1. Công ty Chứng Khoán.
1.1. Khái niệm .
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các
nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán.
Theo luật chứng khoán 2006 quy định công ty chứng khoán được tổ chức
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy
định của Luật doanh nghiệp.
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động
cho công ty chứng khoán. Giấy phép này đồng thời là Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh.
Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ
kinh doanh sau đây: Môi giới chứng khoán, Tự doanh chứng khoán, Bảo
lãnh phát hành chứng khoán, Tư vấn đầu tư chứng khoán.
1.2. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán.
* Môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
một CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế
giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách
hàng phải chịu trách nhiệm đói với những hậu quả kinh tế của việc giao dịch
đó.
* Tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua bán các chứng
khoán cho chính mình.
Hoạt động tự doanh của CTCK có thể được thực hiện trên các thị trường
giao dịch tập trung (TTGDCK, SGDCK), hoặc trên thị trường OTC…Trên
thị trường giao dịch tập trung, lện giao dịch của các CTCK được đưa vào hệ
thống và thực hiện tương tự như lệnh giao dịch của các khách hàng. Trên thị
trường OTC, các hoạt động này có thể được thực hiện trực tiếp giữa công ty

chiều hướng không thuận lợi của giá chứng khoán.
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
• Hoạt động tạo lập thị trường: Nhiệm vụ của các nhà hoạt động tạo lập
thị trường là tạo tính thanh khoản cho thị trường thông qua việc nắm giữ một
lượng chứng khoán để sẵn sàng giao dịch với khách hàng.
• Hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát: Các nhà đầu tư thường chấp
nhận bỏ ra một chi phí lớn để nắm được quyền kiểm soát và trong tương lai
dễ dàng điều tiết và thu được những nguồn lợi cao như mong muốn. Mục
đích của họ không chỉ nhằm vào các công ty đang hoạt động trên thị trường
mà còn thực hiện đầu tư nắm giữ các công ty mới thành lập, hoặc các công
ty sáp phá sản…để thực hiện hoạt động thâu tóm sát nhập, tận dụng ưu thế
trên thị trường và thương hiệu trước đó của cá công ty bị thâu tóm, nắm
quyền kiểm soát.
Mục đích của hoạt động tự doanh
Mục đích của hoạt động tự doanh của các CTCK nhằm thu lợi cho chính
mình. Tuy nhiên, để đảm bảo sự ổn định và tính minh bạch của thị trường,
pháp luật các nước đều yêu cầu các CTCK khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh
phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định ngoài các điều kiện về vốn và con
người.
• Tách biệt quản lý:
Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ
môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự tách bạch
này bao gồm cả yếu tố con người và các quy trình nghiệp vụ. Bên cạnh đó
các CTCK phải đảm bảo sự tách bạch về tài sản của khách hàng với tài sản
của chính công ty.
• Ưu tiên khách hàng.
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Pháp luật của hầu hết các nước đều yêu cầu CTCK phải tuân thủ nguyên

Hoạt động tư vấn chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:
Theo hình thức của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp gỡ
khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư tín điện thoại) và tư vấn gián tiếp
(thông qua các ấn phẩm sách báo) để tư vấn cho khách hàng.
Theo mức độ ủy quyền của tư vấn: bao gồm tư vấn gợi ý (gợi ý cho
khách hàng về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của khách
hàng) và tư vấn ủy quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, ủy
quyền thực hiện của khách hàng).
Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn cho người phát
hành (tư vấn cho tổ chức dự kiến phát hành: cách thức,hình thức phát hành,
xây dựng hồ sơ, bản cáo bách và giúp tổ chức phát hành trong việc lựa chọn
tổ chức bảo lãnh, phân phối chứng khoán) và tư vấn đầu tư (tư vấn cho
khách hàng đầu tư chứng khoán trên thị trường thứ cấp về giá, thời gian,
định hướng đầu tư vào các loại chứng khoán ).
*Các hoạt động phụ trợ khác
- Lưu ký chứng khoán
Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua các tài
koản lưu ký chứng khoán. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứng
khoán, bởi vì giao dịch chứng khoán trên thị trường trường tập trung là hình
thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tại
các công ty chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ)
hoặc ký gửi các chứng khoán (nếu phát hành dưới hình thức chứng chỉ vật
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chất). Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ
nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí
chuyển nhượng chứng khoán.
- Nghiệp vụ tín dụng
Đối với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán
cho khách hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho vay

- Bảo toàn số vốn so với số lượng vốn ban đầu và sức mua của nó không
thay đổi nếu thị trường có biến động.
- Có lợi tức dù trong hoàn cảnh nào của nền kinh tế.
- Thời gian đầu tư: Không có nguy cơ rủi ro, biểu hiện là chứng khoán sẽ
không bao giờ bị đáo hạn khi người đầu tư vẫn còn muốn giữ nó.
- Dễ bán ngay khi được giá hoặc khi người đầu tư không muốn giữ nó
nữa.
- Công ty phát hành chứng khoán đang là một công ty lớn mạnh, đang
tăng trưởng, có cơ sỏ vững chắc, không bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh.
2.1.2 Khai thác, tìm kiếm cơ hội đầu tư
Sau khi xây dựng được mục tiêu đầu tư của công ty, bộ phận tự doanh sẽ
triển khai tìm kiếm các nguồn hàng hóa, cơ hội đầu tư theo mục tiêu đã định.
Công việc này đòi hỏi mỗi cán bộ tự doanh phải mất công sức khá lớn để
tìm kiếm và phát hiện cơ hội đầu tư tốt nhất.
2.1.3 Phương pháp phân tích, lựa chọn cơ hội đầu tư
Trong giai đoạn này, bộ phận tự doanh có thể kết hợp với bộ phận phân
tích trong công ty tiến hành thẩm định, đánh giá chất lượng của các khoản
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
đầu tư. Kết quả của giai đoạn này sẽ là những kết luận cụ thể về việc công ty
có nên đầu tư hay không và đầu tư với số lượng, giá cả bao nhiêu thì hợp lý.
Cụ thể có các bước phân tích sau:
2.1.3.1 Phân tích cơ bản.
Phân tích cơ bản là một trong những phương pháp phân tích chứng
khoán được sử dụng rất phổ biến. Các nhà đầu tư theo cách tiếp cận này
thường quan tâm nhiều tới các thông số cơ bản một của công ty như tốc độ
tăng trưởng doanh số và lợi nhuận, từ đó rút ra những kết luận về giá trị thực
tế của cổ phiếu. Sau đó, bằng cách so sánh thị giá cổ phiếu với giá trị thực tế
đó sau đó nhà đầu tư có quyết định mua hay là không.
*Phân tích vĩ mô nền kinh tế:

+ Trình độ công nghệ của ngành: công nghệ của công ty sản xuất
đóng vai trò khá quan trọng vì nó là phương tiện trực tiếp tạo ra sản phẩm
cung cấp ra thị trường giúp cho doanh nghiệp tồn tại.
+ Chiến lược phát triển của ngành : Nó cho biết sự phát triển trong
tuơng lai của ngành như thế nào. Qua đó dự toán được tốc độ tăng trưởng
của công ty trong ngành đấy. Qua đó phân tích được triển vọng của ngành để
có thể dự đoán được tương lai.
+ Quy mô thị trường và thị phần của những đối tượng lớn.
+ Tính cạnh tranh trong ngành
+ Triển vọng phát triển của ngành. Điều này thể hiện thông qua chính
sách vĩ mô của chính phủ trong việc phát triển ngành này như thế nào, và cơ
hội của ngành này trong giai đoạn mở cửa và hội nhập.
*Phân tích chung về doanh nghiệp.
+ Lịch sử của doanh nghiệp
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đôi khi việc nghiên cứu quá khứ của một doanh nghiệp là điều rất có
ích để có thể hiểu rõ được chiến lược phát triển của nó hiện nay và trong
tương lai. Ngoài ngày thành lập, điều có thể tạo thuận lợi cho việc theo dõi
khả năng thích ứng của doanh nghiệp, phương thức thành lập doanh nghiệp
cũng là một lợi ích không nhỏ.
+ Nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực cũng quan trọng tương đương với khả năng tài chính
của doanh nghiệp. Khả năng tài chính của doanh nghiệp có thể sẽ mất dần
theo thời gian nhiều vụ đầu tư vào các hợp đồng tương lai đã làm biến mất
hoàn toàn khả năng tài chính của nhiều công ty đa quốc gia, nhưng rất hiếm
khi một doanh nghiệp bị mất hoàn toàn năng lực của nhân viên của nó. Mặt
khác, tuy đào tạo được một nguồn nhân lực có khả năng vừa mất nhiều thời
gian, vừa tốn kém hơn là thay đổi kỹ thuật sản xuất nhưng không phải khi
nào máy móc cũng có thể thay thế con người. Một doanh nghiệp có hai dạng

- EPS là chỉ số cho biết khả năng sinh lợi của công ty trên mỗi cổ phần của
cổ đông đóng góp là bao nhiêu.
- Nếu chỉ số EPS càng cao thì nó càng cho thấy khả năng sinh lời của công
ty càng lớn và ngược lại.
- So sánh chỉ số EPS qua các thời kỳ sẽ giúp chúng ta biết được tốc độ tăng
trưởng của doanh nghiệp đang phân tích.
+ P/E : Price / EPS
Thị giá hiện tại của cổ phiếu
P/E =
Thu nhập của cổ phiếu (EPS)
P/E cho biết NĐT sẵn sàng trả giá cho mỗi cổ phiếu cao hơn mức thu
nhập hiện tại bao nhiêu lần
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
- P/E là chỉ số cho biết giá cổ phiếu đang ở mức được đánh giá cao hay thấp
trên thị trường.
- Nếu chỉ số P/E càng cao thì nó cho thấy cổ phiếu được thị trường đánh giá
cao và ngược lại.
- So sánh chỉ số P/E giữa các công ty cùng ngành để đánh giá giá trị của cổ
phiếu mình quan tâm.
+ROE : Lợi nhuân trên Vốn chủ sở hữu
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
Nguồn vốn chủ sở hữu
- ROE được dùng để đo lường xem công ty tận dụng vốn của NĐT tốt đến
mức nào. Hay hiểu một cách đơn giản ROE phản ánh mức độ sinh lời của
một công ty , tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn mà nhà đầu tư đã đóng
góp .
- Thông thường thì một công ty hoạt động tốt thì cần phải có ROE cao hơn
mức trung bình của các công ty cùng ngành . Sở dĩ như vậy vì điều này cũng

dịch trong quá khứ và dự đoán xu thế giá trong tương lai.
* Đường MACD là gì?
MACD là 1 trong những chỉ số được người giao dịch tiền tệ sử dụng
phổ biến nhất. Đây là chỉ số động lượng hỗ trợ trong việc xác định những xu
hướng, cùng lúc đó có thể chỉ ra được sự đảo ngược hay những điều kiện
vượt mua (mua quá mức chấp nhận - overbought)/ vượt bán (bán quá mức
chấp nhận - oversold). MACD được tính bằng cách lấy sự khác biệt giữa 2
25

Trích đoạn Điều chỉnh danh mụcđầu tư Tốc độ tăng trưởng của Danh mụcđầu tư chứng khoán Định hướng phát triển của SSI cho đến năm 2010 Hoàn thiện hoạtđộng nghiên cứu và phân tích
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status