Hoạt động quản lý tỷ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Qua 10 năm đổi mới nền kinh tế, nớc ta có những bớc đi mạnh mẽ và
giành đợc những thành quả hết sức to lớn trên nhiều lĩnh vực nh:kinh tế,
chính trị,xã hội.Đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế chúng ta có những bớc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáng khích lệ để đạt đợcnhững thành quả đó ta
không thể không nhắc tới sự đóng góp đáng kể của hệ thống ngân hàng
nh chúng ta có câu với vai trò bà đỡ. Trong nghiệp vụ xây dựng và điều
hành chính sách tiền tệ ngân hàng trung ơng đã rất chú trọng đến việc đổi
mới phơng pháp quản lývà điều hành tỷ giá một trong những công cụ mà
chính phủ sử dụng để tác động vào nền kinh tế. Sự xuất hiện thơng mại
ngoại thơng là cơ sở cho sự ra đời của tỷ giá hối đoái, trong bối cảnh nền
kinh tế thế giới hiện nay, quá trình quốc tế hoá đang diễn ngày càng sâu
sắc bao trùm lên tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội thì sự
gia tăng của các hiệp hội tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới
nhằm phát huy và tận dụng những lợi thế so sánh của mình thì việc quản
lý tỷ giá hối đoái ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống kinh tế của
mỗi quốc gia. Vì tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế nhạy cảm và hết
sức phức tạpvà đặc biệt là những diễn biến của tỷ giá hối đoái những tháng
gần đây đòi hỏi có sự quan tâm đánh giá một cách chính xác, toàn diện để
có hớng điều chỉnh thích hợp, vì vậy việc quản lý và điều hành tỷ giá hối
đoái cần có sự quan tâm một cách thích đáng của chính phủ để có thể đa
ra những cơ chế,chính sách tỷ giá một cách chính xác và hợp lý , phù hợp
với thực trạng của nền kinh tế tạo cho quốc gia mình có sức cạnh tranh
trong khu vựcvà trên trờng quốc tế nhằm đạt đợc mục tiêu của chính sách
tiền tệ góp phần tăng trởng kinh tế.
Thấy đợc vai trò quan trọng trong việc điều hành và quản lý tỷ giá
hối đoái,cũng nh những ảnh hởng của tỷ giá hối đoái đối với nền kinh tế
em đã quyết định đi sâu nghiên cứu đề tài này, em xin giới thiệu đề tài
Hoạt động quản lý tỷ giá hối đoái của ngân hàng nhà nớc việt nam.
Dù em đã hết sức cố gắng trong việc thu thập tài liệu và nghiên cứu

2. Tỷ giá hối đoái thực tế.
Khả năng cạnh tranh còn gọi là tỷ giá hối đoái thực tế. Để hiểu đợc vấn đề
này phải phân biệt đợc tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực. Tỷ giá
hi đoái danh nghĩa là một khái niệm tiền tệ phản ánh mức giá tơng đối của hai
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đồng tiền trong khi tỷ giá hối đoái thực lại phản ánh mức giá tơng đối giữa hai
loại hàng hoá. Chính xác hơn, tỷ giá hối đoái thực là mức giá tơng đối của
những hàng hoá mậu dịch tơng ứng với các hàng hóa phi mậu dịch. Nh vậy
điểm cân bằng của tỷ giá thực sẽ tơng ứng với giá so sánh giữa hàng hoá thơng
mại hoá và hàng hoá không thơng mại hoá đem lại đồng thời sự cân bằng nội và
cân bằng ngọai. Cân bằng nội có nghĩa là thị trờng hàng hoá không thơng mại
hoá đợc thanh toán liên tục, cân bằng ngoại có nghĩa là thâm hụt cán cân vãng
lai đợc tài trợ một cách bền vững từ luồng vốn nớc ngoài.
Một trong những nhân tố quan trọng nhất của tỷ giá hối đoái thực (RER)
là vị trí cạnh tranh quốc tế của quốc gia có đồng tiền tơng ứng. Tỷ giá hối đoái
thực giảm xuống phản ánh mức tăng chi phí sản xuất của những hàng hoá mậu
dịch trong nớc. Nếu không có sự tăng giá tơng ứng ở các quốc gia khác thì việc
đó đồng nghĩa với việc suy giảm vị trí cạnh tranh đó : họ sản xuất hàng hoá mậu
dịch kém hiệu quả hơn các nớc khác.
3. Các nhân tố tác động lên quá trình hình thành tỉ giá.
Trên thực tế, sự hình thành quan hệ tỷ giá là tác động của nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan. Tuy có những mâu thuẫn trong phơng pháp nghiên
cứu, tiếp cận và đánh giá vai trò, tính chất, phơng thức cờng độ, tốc độ tác động
của các yếu tố cụ thể, song nhìn chung có một số yếu tố quan trọng, trực tiếp
cấu thành NP và tác động lên quá trình hình thành tỷ giá hối đoái, đó là :
-Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nớc
-Trạng thái cán cân thanh toán ảnh hởng đến cung cầu ngoại tệ, thông qua
đó tác động lên mức tỉ giá và kéo theo sự dao động của tỷ giá lệch khỏi sức mua
của đồng tiền

hệ thống sau:
* Chế độ bản vị vàng :
Trong chế độ này chính phủ của mỗi quốc gia cố định giá vàng tính bằng
tiền nớc họ và duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong nớc thành vàng
chính phủ sẽ mua và bán vàng nhiều bằng mức mà nhân dân muốn giao dịch tại
giá trị ngang giá này và chính phủ tuân theo quy tắc nhằm gắn liền đồng tiền
trong nớc với số vàng nhà nớc có. Chính phủ chỉ có thể phát hành tiền bằng
cách mua vàng của công chúng, tức là nếu công chúng chuyển đổi tiền giấy của
họ thành vàng thì lợng tiền lu hành sẽ giảm đi. Dới chế độ bản vị vàng khả năng
của chính phủ trong việc tăng mức cung tiền bị hạn chế nghiêm ngặt bởi yêu
cầu là chỉnh phủ phải nắm giữ một giá trị vàng tơng đơng trong kho bạc.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định, đồng tiền rất ít khi bị mất giá,
việc thanh toán nợ nần giữa các quốc gia cũng đợc thực hiện bằng vàng nh vậy
nó thực sự đẩm bảo một cơ chế tự động điều chỉnh sự mất cân đối trong thơng
mại và thanh toán quốc tế. Vì vậy chế độ này đã đợc sử dụng hầu nh suốt thế kỷ
19 và đầu thế kỷ 20 ở các nớc. Bản vị vàng có một u điểm lớn và một nhợc điểm
đáng kể. Bằng cách gắn chặt, nếu không phải là hoàn toàn mức cung tiền nội
địa với mức dự trữ vàng, bản vị vàng thực sự đã loại trừ việc phát hành tiền liên
tục trên quy mô lớn và tỉ lệ lạm phát một cách thờng xuyên cao. Tuy nhiên do
cơ chế chủ yếu để phục hồi công ăn việc làm đầy đủ là sự giảm giá và tiền lơng
nội địa mà phải mất nhiều năm để điều chỉnh hoàn toàn theo mức giảm đáng kể
về tổng cầu cho nên thời kì của bản vị vàng là thời kì trong đó các nền kinh tế
riêng lẻ dễ bị tổn thơng dẫn tới những giai đoạn suy thoái lâu dài và sâu sắc.
2. Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods :
Dới chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đợc cố định một cách
vô thời hạn. Bây giờ chúng ta sẽ bàn về hệ thống điều chỉnh hạn chế, trong đó
các tỷ giá hối đoái thông thờng đợc cố định nhng một đôi lúc các nớc đợc phép
thay đổi tỷ giá hối đoái của mình. Hệ thống này đợc ra đời gần cuối thế chiến

thể đợc coi là phù hợp trong tình huống các công cụ tài chính và thị trờng tài
chính cha phát triển đủ mức cho sự vận hành của chính sách tiền tệ theo cơ chế
thị trờng.
Tuy nhiên tỷ giá hối đoái cố định trong trờng hợp thiếu tin cậy sẽ bị ảnh h-
ởng rất lớn của đầu cơ, điều này có thể dẫn tới sự phá vỡ hoàn toàn sự ổn định
tiền tệ, ổn định kinh tế hay ảnh hởng tới dự trữ ngoại hối; tỉ giá hối đoái cố định
có thể làm ngời ta phải từ bỏ đầu cơ, do đó thị trờng sẽ buồn tẻ, khó có thể xác
định đâu là tỉ giá hối đoái tối u, hay hợp lý cho một nền kinh tế, mặc dù cả
chính phủ và nhân hàng trung ơng đều cần thiết phải hiểu hơn ai hết đâu là mức
cân bằng. Tỉ giá hối đoái danh nghĩa cố định có thể là quan trọng nhng nó
không quyết định tỉ giá hối đoái thực tế mà nó chỉ đợc coi là chỉ số hay mục
tiêu quan trọng mà thôi. Duy trì tỉ giá hối đoái cố định đòi hỏi ngân hàng trung
ơng phải luôn sẵn sàng can thiệp vào thị trờng ngoại hối để đảm bảo mức tỉ giá
hối đoái cố định.Tuy nhiên, khó có thể đa ra về mức độ cần can thiệp nh thế nào
để tác dộng vào nền kinh tế nhằm đạt đợc mục tiêu can thiệp. Ngân hàng trung -
ơng cần thiết phải duy trì một mức nhất định về dự trữ ngoại hối, nh vậy chi phí
về quản lý tài sản sẽ lớn. Tỉ giá hối đoái này cũng phụ thuộc vào chính sách tiền
tệ của quốc gia khác, và đó là điều đôi khi gây bất lợi do việc gắn đồng tiền
bản tệ vào một đồng ngoại tệ nào đó.
* Tỷ giá hối đoái thả nổi:
Là tỷ giá hối đoái đợc hình thành trên cơ sở diễn biến cung cầu. Có hai
loại tỷ giá thả nổi là thả nổi tự do và thả nổi có quản lý. Chúng ta biết rằng nền
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kinh tế cân bằng dài hạn là phải cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài (tức là đầy
đủ việc làm, xuất khẩu ròng bằng không và tài khoản vãng lai cân bằng) Nhu
cầu nhập khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng trong nớc và tỷ giá hối đoái thực tế.
Nhu cầu xuất khẩu phụ thuộc vào mức sản lợng ở nớc ngoài và tỉ giá hối đoái
thực tế. Do đó khi nền kinh tế trong nớc và nớc ngoài đều ở trong tình trạng cân
đối hoặc ở mức sản lợng tiềm năng,thì chỉ có một tỉ giá chính thức duy nhất

giá thành sản phẩm. Mặt khác sự tự do hoạt động của chính sách tiền tệ trong n-
ớc có thể bị lợi dụng, chẳng hạn nh chính phủ, do không có trách nhiệm phải
ngăn chặn sự mất giá của đồng tiền, nên có thể dễ thực hiện việc lạm phát qua
đờng ngân sách và tiền tệ.
Nh vậy trong chừng mực nào đó có thể nói rằng tỉ giá hối đoái thả nổi
hay cố định cũng đều có những u điểm và hạn chế. Việc lựa chọn một cơ chế tỉ
giá cố định hay thả nổi ở mức nào đó chắc chắn sẽ phụ thuộc vào từng quốc gia
với những diều kiện kinh tế và thị trờng khác nhau.. hay nói chung là phụ thuộc
vào lý do riêng nhằm mục đích phát huy những điểm mạnh và khắc phục những
hạn chế của mỗi cơ chế ở mỗi môi tròng kinh tế xã hội khác nhau. Những quốc
gia chủ trơng thả nổi tỉ giá hối đoái cho rằng: Nếu áp dụng cơ chế này, thị trờng
ngoại hối có tính minh bạch cao, thị tròng hoạt động hiệu quả, và hơn nữa thị tr-
ờng phải để tự nó tự điều chỉnh. Chính sách tiền tệ phải đợc thiết lập một cách
độc lập, phù hợp với tình hình kinh tế trong nớc (nghiã là đạt đợc sự ổn định
mức giá chung của nền kinh tế), và tỉ giá hối đoái cần phải đợc thả nổi theo bất
kì hớng nào mà do thực tế đem lại mức tỉ giá hối đoái đó.
Trong khi đó , những quốc gia chủ trơng cố định tỉ giá (tức là chủ trơng
gắn vào một hay một số đồng tiền chủ chốt, hoặc các đối tác kinh doanh chính
của nớc đó) với mục tiêu dung hoà các yếu tố chính trị, kinh tế và thơng mại.
Các nhà kinh tế công nhận tầm quan trọng và lợi ích của việc gắn đồng tiền này
trong việc thực hiện một chính sách tiền tệ chặt chẽ và tỉ giá hối đoái cố định đ-
ợc a thích hơn bất kì một dạng thả nổi nào, vì tỉ giá hối đoái cố định không đợc
coi là công cụ độc lập hữu hiệu của chính sách tiền tệ trong dài hạn. Những lợi
ích do tỉ giá cố định đem lại đợc coi là nhiều hơn cái giá phải trả cho những hậu
quả mà nó gây ra cho nền kinh tế.
Các nhà nghiên cứu về tỉ giá hối đoái thờng tập trung vào vai trò của tỉ giá
trong việc bảo đảm cho nền kinh tế một mức sản lợng kinh tế cao, trong điều
kiện có rất nhiều bất ổn, hay các cú sốc trong nớc và quốc tế tác động đến nền
kinh tế. Và vì vậy, các nhà khoa học cho rằng, cơ chế tỉ giá hối đoái thả nổi có
khả năng đối phó tốt nhất đối với các cú sốc trong một nền kinh tế. Vì sự thay

đồng tiền nớc ngoài bằng cách mua thêm nhiều ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối
làm cho cầu ngoại tệ tăng lên thì có thể làm cho tỉ giá hối đoái chuyển dịch.
Một công cụ nữa mà ngân hàng trung ơng có thể sử dụng nữa là phá giá
đồng tiền. Phá giá hay nâng giá là việc giảm bớt hay tăng lên tỉ giá hối đoái mà
đợc chính phủ cam kết ủng hộ, đây là một phơng pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái
danh nghĩa (theo hớng làm giảm giá nội tệ so với đồng ngoại tệ). Phơng pháp
này đã đợc khẳng định về mặt lý thuyết và đã đợc hầu hết các nớc trên thế giới
áp dụng.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong ngắn hạn, khi giá cả và tiền lơng điều chỉnh một cách chậm chạp
việc phá giá làm tăng giá trong nớc của hàng nhập khẩu và làm giảm giá ngoài
nớc của hàng xuất nớc đó. Cả hai loại tác động này đều cải tiến mức cạnh tranh
quốc tế, các nguồn lực sẽ đợc thu hút vào nền kinh tế nội địa và đặc biệt là đợc
thu hút vào các ngành xuất khẩu mà giờ có thể cạnh tranh có hiệu quả hơn trên
thị trờng nớc ngoài. Tuy nhiên việc phá giá có thể không cải thiện đợc tài khoản
vẵng lai trong thời gian trớc mắt thậm chí có thể dẫn đến thâm hụt nhng khi xét
về lâu dài, khi những ngời mua và ngời bán điều chỉnh lợng xuất khẩu và nhập
khẩu thì sẽ tạo ra thặng d trong tài khoản vãng lai của cán cân thanh toán.
Trong dài hạn, nếu nền kinh tế không thực sự phát triển, việc phá giá sẽ
làm tăng mức tiền lơng và giá danh nghĩa để cho phù hợp với mức giá nhập
khẩu cao hơn làm cho tất cả các biến số thực tế khác không thay đổi. Cuối cùng
là phá giá sẽ không có tác động gì cả.
Nh vậy phá giá thờng đợc các chính phủ sử dụng để điều chỉnh kinh tế
trong ngắn hạn, nhng nếu không xem xét một cách kĩ lỡng thì việc phá giá sẽ
gây ra những hậu quả khôn lờng. Thứ nhất phá giá sẽ làm tăng lạm phát vì nó
làm tăng giá vật t, thiết bị nhập,thu hẹp lãi của các doanh nghiệp sản xuất, sẽ
ảnh hởng đến nguồn thu tài chính và làm cho lạm phát sẽ khó kiểm soát hơn,
đồng thời lạm phát tăng sẽ làm tăng tỷ giá, càng phá giá càng không kiểm soát
nổi tiền tệ. Thứ hai là phá giá sẽ dẫn đến tăng giá hàng nhập, hạn chế tốc độ

ơng... Nếu việc phá giá danh nghĩa đợc thực hiện đồng thời với các chính sách
thắt chặt tiền tệ và tài chính không đi đôi với chỉ số tiền lơng thì chắc chắn sẽ
đạt đợc sự giảm giá trên thực tế và khiến cho tỉ giá hối đoái thực trở về mức cân
bằng.
Nh vậy không phải phá giá cũng mang lại kết quả nh ý muốn có khi không
đẩy mạnh đợc xuất khẩu mà lại gây ra hiệu quả khó lờng. Mặt khác, xuất khẩu
tăng hay giảm không chỉ phụ thuộc vào tỉ giá mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân
tố khác, ví dụ nh đồng YEN tăng giá liên tục so với đồng USD trong mấy thập
kỉ qua nhng hàng hoá của Nhật vẫn tiệp tục cạnh tranh trên thị trờng quốc tế và
cả thị trờng Mĩ là bởi vì hàng hoá của Nhật có chất lợng cao và giá thành thấp.
Về nguyên tắc, cũng có một số phơng pháp khác có thể sử dụng thay thế
cho biện pháp phá giá đồng tiền, mặc dù không phải lúc nào cũng đạt đợc mọi
kết quả mong muốn. Các biện pháp đó là đánh thuế nhập khẩu đồng thời với hỗ
trợ xuất khẩu; duy trì chế nhiều tỉ giá hối đoái danh nghĩa và các chính sách về
thu nhập.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng II
Hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam
I. nhìn lại hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam từ
năm 1955 đến nay.
Trong giai đoạn từ năm 1955 đến 1989, mặc dù nhiều nớc trên thế giới
đang áp dụng cơ chế thả nổi và thả nổi có quản lý, nhng các nớc xã hội chủ
nghĩa, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nớc luôn can thiệp mạnh vào mọi
mặt hoạt động kinh tế, thì quả thực cơ chế hối đoái thả nổi không thể tồn tại, và
phát huy tác dụng, thay vào đó là tỉ giá cố định, Việt Nam cũng không nằm
ngoài khuôn khổ đó. Tỉ giá chính thức của VND đợc công bố vào ngày 25 / 11 /
1955, là tỷ giá giữa VND và đồng nhân dân tệ trung quốc là 1NDT =1470 VND
và giữa đồng Việt Nam với đồng Liên Xô là 1 Rúp bằng 735 đồng Việt Nam.
Tỷ giá này đợc xác định bằng cách so sánh giá bán lẻ của 34 mặt hàng tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status