ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Lớp QL12
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN,
PHÁT TRIỂN, LỊCH SỬ CỤ THỂ
TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN
Thành viên trong nhóm :
Lê Vĩnh Phúc Mssv:1254030059
Huỳnh Tấn Hiếu Mssv:1254030018
Nguyễn Đức Duy Mssv:1254030009
Nguyễn Ngọc Nghĩa Mssv:12540300
Phạm Minh Đăng Mssv:12540300
Kha Mssv:12540300
Tp Hồ Chí Minh – Tháng 11 năm 2012
ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Lớp QL12
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN,
PHÁT TRIỂN, LỊCH SỬ CỤ THỂ
TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN
Thành viên trong nhóm :
Lê Vĩnh Phúc Mssv:1254030059
và các khoa học nói chung. Theo Ph.Ănghen: "Phép biện chứng là phương
pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của
chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự
ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng". Là cơ sở của
nhận thức lý luận tự giác, phép biện chứng duy vật là phương pháp dùng để
nghiên cứu toàn diện và sâu sắc những mâu thuẫn trong sự phát triển của hiện
thực, đưa lại chìa khoáđể nghiên cứu tổng thể những quá trình phức tạp của tự
nhiên, xã hội và tư duy. Vì vậy, phép biện chứng duy vật được áp dụng phổ
biến trong lĩnh vực và có vai trò quyết định trong sự vật, hiện tượng. Phép
biện chứng duy vật không chỉđưa ra hướng nghiên cứu chung, đưa ra các
nguyên tắc tiếp cận sự vật, hiện tượng nghiên cứu màđồng thời còn làđiểm
xuất phát đểđánh giá những kết quảđạt được.
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ
biến - một trong hai nguyên lý cơ bản của phép duy vật biện chứng.Đây là một
phạm trù của phép biện chứng duy vật dùng để chỉ sự quy định, tác động qua
lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt của
một sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan.
Triết học Mác khẳng định: Cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện
tượng là thuộc tính thống nhất vật chất của thế giới. Các sự vật, hiện tượng dù
đa dạng và khác nhau đến mấy thì chúng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau
của một thế giới duy nhất là vật chất mà thôi. Ngay bản thân ý thức vốn không
4
phải là vật chất nhưng cũng chỉ là sự phát triển đến đỉnh cao của một thuộc
tính, của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộóc con người, nội dung
của ý thức có mối liên hệ chặt chẽ với thế giới bên ngoài.
Theo triết học Mác, mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là khách
quan vốn có của bản thân chúng, đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ
biến và tính phổ biến ấy được thể hiện ở những vấn đề sau đây:
1.1.1. Xét về mặt không gian:
Mỗi sự vật hiện tượng là một chỉnh thể riêng biệt, song chúng tồn tại
này thể hiện rõ trong mối liên hệ giữa quá khứ - hiện tại - tương lai (hiện tại
chẳng qua là bước tiếp theo của quá khứ và là bàn đạp cho tương lai).
Qua điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan,
tính phổ biến vốn có của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình
mà nó còn nêu rõ tính phong phú, đa dạng và phức tạp của mối liên hệ qua lại
đó. Khi nghiên cứu hiện thực khách quan có thể phân chia mối liên hệ thành
từng loại khác nhau tuỳ tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay
hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp… khái quát lại có
những mối liên hệ sau đây: mối liên hệ bên trong - bên ngoài, chủ yếu - thứ
yếu, chung - riêng, trực tiếp - gián tiếp, bản chất - không bản chất, ngẫu nhiên-
6
tất nhiên. Trong đó có những mối liên hệ bên trong, trực tiếp, chủ yếu, bản
chất và tất nhiên bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng, quyết định cho sự tồn tại
và phát triển của sự vật, hiện tượng. Triết học Mác xít đồng thời cũng thừa
nhận rằng các mối liên hệ khác nhau có khả năng chuyển hoá cho nhau, thay
đổi vị trí của nhau vàđiều đó diễn ra có thể là sự thay đổi phạm vi bao quát sự
vật, hiện tượng hoặc có thể do kết quả vận động khách quan của sự vật hiện
tượng đó.
1.2. Ý NGHĨA CỦA VIỆC ỨNG DỤNG QUAN ĐIỂM:
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng
chúng ta rút ra quan điểm toàn diện trong việc nhận thức, xem xét các sự vật
hiện tượng cũng như trong hoạt động thực tiễn.
Về mặt nhận thức, khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải đặt nó trong
mối liên hệ tác động qua lại với những sự vật, hiện tượng khác và cần phải
phát hiện ra những mối liên hệ giữa các bộ phận, yếu tố, các thuộc tính, các
giai đoạn khác nhau của bản thân sự vật. Lênin đã khẳng định: "Muốn thực sự
hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt của mối
liên hệ và quan hệ của sự vật đó". Để nhận thức đúng được sự vật, hiện tượng
cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn, ứng với mỗi thời
kỳ, giai đoạn, thế hệ thì con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được số lượng
Học là việc vô cùng quan trọng đối với sinh viên để có thể phát triển và
hoàn thiện bản thân.Nhưng học như thế nào để có thể đạt được kết quả như
mong đợi thì không phải là chuyện dễ.Việc áp dụng quan điểm toàn diện trong
học tập là việc rất cần thiết để ta có thể nắm bắt toàn diện những điều cần học
rồi góp phần đưa ra phương pháp học thích hợp cho bản thân. Cụ thể là khi áp
dụng quan điểm toàn diện thì ta sẽ đặt việc học tập vào các mối liên hệ khác
nhau: cần học cái gì, khi nào thì học, học như thế nào, áp dụng ở đâu, áp dụng
như thế nào… , từ đó ta có thể rút ramối quan hệ giữa những điều ta học được
để tạo nên một hệ thống kiên thức cần thiết cho quá trình học tập. Ví dụ như
khi học môn lý thì có những kiến thức của môn lý không làm rõ mà chỉ khái
quát vấn đề, trong khi có những bộ môn khác lại tập trung làm rõ vấn đề đó thì
ta phải tìm hiểu để có thể hiểu sâu sắc hơn vấn đề và phải tiếp thu những ý
kiến khác nhau để so sánh. Nhưng người ta vẫn thường nói “học đi đôi với
hành”, và chỉ khi nào áp dụng những thứ học được vào thực tế thì mới có thể
đối chiếu để so sánh xem những điều mình học đã đúng hay chưa, có phát sinh
ra những vấn đề khác hay không.Qua quan điểm toàn diện ta có thể thấy mối
quan hệ của việc học, và việc vận dụng quan điểm toàn diện không chỉ có áp
dụng trong học tập mà còn áp dụng trong quá trình học, tu dưỡng các phẩm
chất đạo đức để hoàn thiện bản thân.Một con người “có tài mà không có đức
là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” đây là hai
mặt khác nhau về nội dung nhưng thống nhất với nhau để góp phần hoàn thiện
bản thân.Khi đã có tài qua việc học tập thì đức sẽ làm cho cái tài của ta được
bộc lộ một cách toàn diện. Đức không chỉ là do một phẩm chất tạo thành mà
cần rất nhiều phẩm chất góp lại để tạo nên. Nó được bộc lộ trong mọi thời
9
gian không gian khác nhau, nó phản ánh đúng bản chất con người trong việc
đối nhân xử thế.
1.1.3. Áp dụng trong cuộc sống hằng ngày:
Trong cuộc sống hằng ngày có vô số các sự vật hiện tượng xảy ra trước
chúng ta mà ta không nhìn nhận một cách đúng đắn sẽ làm cho ta hiểu sai bản
đúng hiện bản chất của sự vật hiện tượng mà còn giúp ta có những mối quan hệ
tốt đẹp hơn với mọi người xung quanh.
2. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
2.1. NỘI DUNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
2.1.1. Khái niệm :
Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi
xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn
luôn vận động và phát triển.
Phát triển là hình thức vận động từ thấp đến cao , từ chưa hoàn thiện
đến hoàn thiện về mặt nội dung, hình thức của sự vật - hiện tượng. Quá trình
đó diễn ra vừa dần dần vừa nhảy vọt, đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái
cũ. Dù trong hiện thực kháchquan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra
không phải lúc nào cũng theo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, thậm
chí có thể có những bước lùi tạm thời.
11
Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay
đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo
đường xoáy ốc. Điều đó có nghĩa là quá trình phát triển dường như sự vật ấy
quay trở về điểm khởi đầu song trên cơ sở mới cao hơn .
Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn
giáo về nguồn gốc của sự phát triển, khẳng định nguồn gốc của sự phát triển
nằm trong bản thân sự vật. Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định.
Nói cách khác, đó là quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự
vật, do đó cũng là quá trình tự thân của mọi sự vật. Trái lại, những ngườitheo
quan điểm duy tâm hay quan điểm tôn giáo lại thường tìm nguồn gốc của sự
phát triển ở thần linh, Thượng đế, các lực lượng siêu nhiên hay ở ý thức của
con người .
Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại
trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định sự phát triển là một
phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ
vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật.
Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại
và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn luôn phát triển. Vì thế, sự phát
triển là tiến trình kháchquan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng, ý
13
chí, ý thức con người. Dù con người có muốn hay không muốn, sự vật vẫn
phát triển theo khuynh hướng chung nhất của thế giới vật chất.
Sự phát triển mang tính phổ biến vì nó diễn ra ở mọi lĩnh vực của tự
nhiên, xã hội và tư duy, ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách
quan. Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm
trong quá trình vận động và phát triển, hoặc đúng hơn, mọi hình thức của tư
duy cũng luôn phát triển. Chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của
tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù mới có thể phản ánh đúng hiện
thực luôn vận động và phát triển.
Ngoài tính khách quan và tính phổ biến, sự phát triển còn có tính đa
dạng phong phú. Khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự
vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển
không giống nhau, tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau.
Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của
các hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố khác. Sự tác động đó có thể thúc đẩy
hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều
hướng của phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi. Chẳng hạn,
ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí tuệ so với trẻ em ở
thế hệ trước do chúng được thừa hưởng những thành quả, những điều kiện
thuận lợi mà xã hộimang lại. Hay trong thời đại hiện nay, thời gian công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của các quốc gia chậm phát triển và kém
phát triển sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đã thực hiện chúng do được
thừa hưởng kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các quốc gia đi trước. Song vấn đề
còn ở chỗ, sự vận dụng kinh nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại
14
hiện tượng nào đó thì các khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn sẽ
không thể phát triển và thực tiễn sẽ dậm chân tại chỗ. Chính vì thế, chúng ta
cần phải tăng cường phát huy nỗ lực của bản thân trong việc hiện thực hoá
quan điểm phát triển vào nhận thức và cải tạo sự vật nhằm phục vụ nhu cầu,
lợi ích của chúng ta và của toàn xã hội. .
2.2. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
2.2.1. Vận dụng vào cuộc sống
Khi xem xét một vấn đề nào đó của cuộc sống, ta phải chú ý đến mối
liên hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác, đồng thời sử dụng nhiều biện pháp
khác nhau nhằm phát huy được hiệu quả của công việc, đạt hiệu suất cao nhất.
Phân chia công việc ra thành từng giai đoạn để có thể tìm ra được
phương pháp tối ưu nhằm thúc đẩy công việc nhan hơn.
Khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, luôn áp dụng những thành tựu khoa
học công nghệ vào trong đời sống, loại bỏ những tư tưởng, định kiến lạc hậu
đi.
Ví dụ:
Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử
sao cho phù hợp với từng con người. Ngay cả quan hệ với một con người nhất
16
định ở những không gian khác nhau hoặc thời gian khác nhau, chúng ta cũng
phải có cách giao tiếp, cách quan hệ phù hợp như ông cha đã kết luận: “đối
nhân xử thế”.
2.2.2. Đối với việc học tập của sinh viên
Sinh viên phải nắm chắc cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, từ đó
vận dụng một cách hợp lý, sáng tạo.
Biết phân biệt các mối liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệ bên
trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên để
hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại
hiệu quả cao nhất trong sự phát triển của bản thân. Đương nhiên, trong nhận
thức và hành động, chúng ta cần lưu ý tới sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các
3.3. VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ VÀO QUÁ TRÌNH HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN :
Học tập là một quá trình hoạt động căng thẳng của tư duy.
Muốn đạt tới mục đích học tập, cho dù là rất nhỏ (giải một bài tập, học
thuộc một công thức v.v ). người học tập phải tập dượt cách suy nghĩ thông
18
qua các thao tác trí tuệ. từ nhận biết, so sánh, phân tích, tổng hợp đến cụ thể
hóa đến khả năng dự đoán, bảo vệ chân lý do mình đề xuất v.v Tất thảy
những gì có được về phương pháp nhận thức, về tư duy là kết quả tất yếu của
một quá trình học tập lâu dài, bền bỉ.
Qúa trình học tập của sinh viên: Một khi người học đã tích lũy được
một khối lượng tri thức cần thiết có được một trình độ nhận thức xác định, họ
có thể nhận thức thế giới khách quan một cách sâu sắc hơn. Tính quy luật của
những gì đang tồn tại và vận động quanh họ được dần sáng tỏ vì chúng luôn
có các mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau, sự thích ứng của họ với tự nhiên, với
xã hội vừa được định hướng theo những quan điểm chính thống của thời đại,
vừa mang màu sắc cá nhân.
Vận dụng quan điểm lịch sử cụ thể vào quá trình học tập của sinh viên:
Vận dụng các quan điểm lịch sử cụ thể, có thể vận dụng vào trong quá
trình học đại học của sinh viên Đại học giao thông vận tải Hồ Chí Minh sau
đây:
Là sinh viên học ở trường đại học giao thông vận tải hồ chí minh, bước
vào một môi trường mới có sự thay đổi về các yêu tố không gian và thời gian.
Một môi trường học tập mới khác nhiều với cách dạy truyền thống ở phổ
thông, chính vì thế không thể áp dụng các quá trình học tập cũ như: thầy đọc
trò chép, vì vậy, sinh viên cần tìm tòi áp dụng các phương pháp học tập mới
khi bước vào giảng đường đại học. Cụ thể có thể áp dụng một số phương pháp
học tập sau:
Tự học: là quá trình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức, quá trình tự
học giúp sinh viên tìm kiếm và giải quyết một vấn đề được đặt ra. Sau khi giải
chất lẫn trí lực.tri thức và trí tuệ nhân cách, cho nên thời kỳ này phải tranh thủ
hoàn thiện bản thân, làm nền tảng cho sự phát triển tiếp tục trong tương lai.
21
Kết Luận :
22
Tài liệu tham khảo:
- Giáo trình: Những nguyên lý cơ bạn của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Nhà xuất bản chính trị quốc gia – năm 2012
-
23
Mục lục:
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 . QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
1.1. Nội dung và cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện 4
1.2. ý nghĩa của việc ứng dụng quan điểm toàn diện 7
2. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN
2.1. Nội dung quan điểm phát triển 11
2.2. Vận dụng quan điểm phát triển 16
3. QUAN ĐIỂM LỊCH SỬ CỤ THỂ :
3.1. Cơ sở khách quan của quan điểm lịch sử cụ thể 17
3.2. Yêu cầu của quan điểm lịch sử cụ thể 18
3.3. Vận dụng quan điểm vào quá trình học tập của
sinh viên 18
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
MỤC LỤC 24
24