Tiểu luận triết học:
Vận dụng quan điểm toàn
diện của triết học Mác _ Lê
Nin để giải thích tình trạng
Th nh ph H Chí Minh, tháng n m à ố ồ ă …
Th nh ph H Chí Minh, tháng n m à ố ồ ă …
Mục lục
L I NÓI UỜ ĐẦ 3
Ch ng I : Ph n n i dungươ ầ ộ 5
I. Quan i m to n di n c a tri t h c Mac _ Lê Ninđể à ệ ủ ế ọ 5
II . Th c tr ng v s th t nghi p c a sinh viên sau khi th t nghi p ra tr ngự ạ ề ự ấ ệ ủ ấ ệ ườ
7
III. Nguyên nhân c a v n ủ ấ đề 8
1. T phía n n kinh t - xã h i.ừ ề ế ộ 8
2. V phía o t oề đà ạ 9
3. V phía chính sách c a nh n cề ủ à ướ 10
4/ V phía b n thân v gia ình i t ng c o t oề ả à đ đố ượ đượ đà ạ 11
I/ K t lu n chungế ậ 12
II. Gi i phápả 12
1. Phát tri n c v chi u sâu l n chi u r ng các ng nh ngh s n xu t – ể ả ề ề ẫ ề ộ à ề ả ấ
kinh doanh 12
2.V phía ng nh o GD - Tề à đà Đ 13
3.V phía chính sách c a nh n c.ề ủ à ướ 13
4.V phía sinh viênề 14
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU
Từ ngày đất nước ta có sự đổi mới về kinh tế , chuyển từ kinh tế tập
trung sang cơ chế thị trường nhiều thành phần, tự do hoạch động và hạch
toán nên đất nước cũng có nhiều thay đổi. Sự thay đổi này đã mang lại cho
đất nước nhiều thành tựu về kinh tế cũng như xã hội. Nhưng xét đến tính hai
khuyết. Em kính mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của các thầy cô
giáo để em có thể hoàn thiện tốt hơn trong những lần viết sau. Em cũng xin
chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa đã giúp em
hoàn thành tốt bài tiểu luận này.
Chương I : Phần nội dung
Chương I : Phần nội dung
I. Quan điểm toàn diện của triết học Mac _ Lê
Nin
Trong sự tồn tại của thế giới quanh ta, mọi sự vật và hiện tượng đều có
mối liên hệ và tác động qua lại với nhau chứ không tách rời nhau, cô lập
nhau.
Như chúng ta đã biết “ Quan điểm toàn diện” là quan điểm được rút ra từ
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Muốn nhận thức hoặc hoạt động thực tiễn đúng về đối tượng nào đó phải
tính đến những mối liên hệ trong sự tồn tại của đối tượng, đề phòng khắc
phục quan điểm phiến diện
Mối liên hệ giữa các sự vật , hiện tượng là mối liên hệ của bản thân thế
giới vật chất, không do bất cứ ai quy định và tồn tại độc lập với ý thức. Trên
thế giới này có rất nhiều mối liên hệ chẳng hạn như mối liên hệ giữa sự vật
và hiện tượng vật chất, giữa cái vật chất và cái tinh thần. Các mối liên hệ
đều là sự phản ánh những tác động qua lại, phản ánh sự quy định lẫn nhau
giữa các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan.
Không chỉ có vậy, các mối liên hệ còn có tính nhiều vẻ ( đa dạng)
+ Mối liên hệ bên trong và bên ngoài
+ Mối liên hệ cơ bản và không cơ bản
+ Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu
+ Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp
Ở thế giới của các mối liên hệ, mối liên hệ bên ngoài tức là sự tác động
lẫn nhau giữa các sự vật, mối liên hệ bên trong tức là sự tác động qua lại lẫn
nhau của các mặt, các yếu tố, các bộ phận bên trong của sự vật. Có mối liên
nguyên nhân gây ra là tập hợp của nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến
nhau. Chính vì vậy, trong bài tiểu luận này em sẽ dùng quan điểm toàn diện
của triết học Mác – Lê Nin để phân tích tình trạng này.
II . Thực trạng về sự thất nghiệp của sinh viên
II . Thực trạng về sự thất nghiệp của sinh viên
sau khi thất nghiệp ra trường
sau khi thất nghiệp ra trường
Từ khi đất nước ta có chính sách mở cửa giao lưu hợp tác với các nước
trong khu vực cũng như các nước trên thế giới, kinh tế chuyển sang nền kinh
tế nhiều thành phần tự do cạnh tranh phát triển đã phát huy rất nhiều mặt
tích cực. Mặt tích cực đáng chú ý là sự cố gắng vươn lên của lớp thanh niên
mới để có thể đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của công việc.Sự mở rộng phát
triển kinh tế thị trường thực sự đã mang lại những cơ hội việc làm cho sinh
viên có khả năng, có năng lực, linh hoạt. Nhưng không phải mọi sinh viên ra
trường đều có việc làm và đây là một vấn đề đang được quan tâm của xã
hội. Căn cứ vào điều tra mới nhất của bộ GD- ĐT thì “năm 2000 cả nước có
126 trường đại học, cao đẳng với hơn 73000 sinh viên chính qui tốt nghiệp
thì đến năm học 2001-2003 đã có 157 trường đại học, cao đẳng với gần
12200 sinh viên ra trường’’(nguồn tin trên mạng Internet). Kết quả cho thấy
tỷ lệ chung của sinh viên có việc làm sau khi ra trường hiện nay là 72,47%,
trong đó khối kĩ thuật công nghiệp chiếm 79,43% nông lâm ngư chiếm
71,55%, kinh tế luật chiếm 74,8%, sư phạm chiếm 81,5%(báo tiền phong số
115 ra ngày 24-3-2002). Và theo số liệu mới của viện kinh tế phát triển thì
sinh viên khối kinh tế ra trường năm 2002 thất nghiệp 87% hoặc làm việc
trái nghề.
Bên cạnh những sinh viên có đủ những yêu cầu mà nhà tuyển dụng đòi
hỏi hoặc những người có người thân, xin việc hộ thì số còn lại phải chật vật
chạy đi chạy lại với các trung tâm giới thiệu việc làm. Cũng phải nói thêm
rằng chính dựa vào sự khan hiếm việc làm này mà nhiều trung tâm giới
thiệu việc làm “ ma ” mọc lên vài ba bữa để thu tiền lệ phí, tiền môi giới
nguồn nhân lực trong khi thành phố vẫn phải đương đầu với sức ép của tình
trạng thất nghiệp.
Đến đây ta có thể thấy được tính hai mặt của nền kinh tế thị trường.
Một mặt nó tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế có khả năng phát triển
mạnh hơn, nó cũng tạo ra sự cạnh tranh và chính sự cạnh tranh cũng là động
lực thúc đẩy kinh tế phát triển, đi lên. Hơn nữa kinh tế thị trường sẽ làm cho
mọi người phải cố gắng nỗ lực để trang bị cho mình vốn kiến thức đầy đủ
thì mới có thể tìm được việc làm.
Nhưng mặt khác nền kinh tế thị trường cũng có những tác động không
lớn đến vấn đề xã hội là việc gây ra sự thiếu thừa “ giả ”về lực lượng lao
động, mất cân đối về nguồn lao động và cũng làm nẩy sinh một số vấn đề
tiêu cực trong việc làm
2. Về phía đào tạo
2. Về phía đào tạo
Tình trạng sinh viên ra trường không có việc làm một phần cũng có
nguyên nhân ở phía đào tạo. Nhiều chương trình đào tạo quá cũ kỹ, lạc hậu
từ nội dung đến phương pháp giảng dậy. Đôi khi được học là học chạy còn
vào thực tiễn thì như mới hoàn toàn vì học nhưng không có thực hành trang
thiết bị phục vụ cho việc giảng dậy, học tập thì không có vì vậy không phát
huy được khả năng sáng tạo của sinh viên. Tại một số nước nền giáo dục
hiện đại thì sinh viên sau khi học hết năm thứ 3 thì có thể làm việc được tại
một cơ quan theo một ngành nghề đã được đào tạo. Phần đông ngoài các
chương trình đào tạo ở trường đại học họ còn phải học thêm các khoá học ở
ngoài như ngoại ngữ tin học để có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc.
a. Cơ cấu đào tạo
Có thể nói cơ cấu đào tạo của nước ta còn quá lạc hậu và chưa bám sát
thực tế. Trong khi một đất nước đang phát triển như Việt Nam rất cần đến
đội ngũ kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cơ bản thì nguồn cung cấp
nhân lực từ phía đào tạo lại chưa đáp ứng được hết nhu cầu .Trong khi đó
sinh viên trong khối kinh tế thì đang quá dư thừa “ 90 % sinh viên khối kinh
viên sau khi ra trường yên tâm công tác và phát huy hết khả năng; chẳng hạn
như chính sách đối với những người về công tác tại những vùng sâu, vùng
xa, hải đảo chưa hợp lí cho lắm nên không thu hút được sinh viên sau khi ra
trường tự nguyện về đây công tác.
Vậy nên chăng nhà nước cần có chính sách hợp cũng như thoả đáng hơn nữa
cả về mặt vật chất cũng như tinh thần để sinh viên sau khi ra trường sẵn
sàng có công tác ở bất cứ nơi đâu để góp phần vào sự nghiệp công nghiệp
hoá và đổi mới đất nước.
4/ Về phía bản thân và gia đình đối tượng được
4/ Về phía bản thân và gia đình đối tượng được
đào tạo
đào tạo
Bên cạnh những nguyên nhân được nêu ở trên thì nguyên nhân từ phía
bản thân sinh viên cũng là một yếu tố gây ra tình trạng sinh viên thất nghiệp
sau khi ra trường .
Chúng ta có thể nhận thấy một thực tế rằng hiện nay sinh viên ra trường
đều muốn bám trụ lại thành phố để làm việc dù công việc đó không đúng
ngành được đào tạo hoặc thậm chí là công việc phổ thông miễn sao có thu
nhập .Nhóm sinh viên xuất thân từ các tỉnh lẻ ra thành phố học cũng không
muốn trở về quê hương để phục vụ, điều này đang làm cho các thành phố
lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đang quá tải về dân số cũng như
sức ép về nhu cầu việc làm. Tình hình này đã và đang gây ra những ảnh
hưởng xấu đến chủ trương phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi ,nông thôn
của Đảng và nhà nước.
Chương II/ Kết luận chung và một số kiến nghị
Chương II/ Kết luận chung và một số kiến nghị
giải pháp
giải pháp
I/ Kết luận chung
I/ Kết luận chung
nào khác là phải mở rộng các ngành nghề sản xuất – kinh doanh. Muốn làm
được điều này thì nhà nước cần có những chính sách nhằm đẩy mạnh,
khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào đầu tư, phát triển mở
rộng sản xuất cũng như tạo ra các điều kiện thuận lợi về môi trường để họ
có thể hoạt động thuận tiện hơn. Bên cạnh đó nhà nước cũng phải là người
đi đầu, chủ trương trong việc thực hiện các chương trình quốc gia về khoa
học – kỹ thuật cũng như đưa nó vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động, nâng cao điều kiện sống cho
người lao động. Nếu các chính sách này được đưa vào thực tiễn thì người
lao động sẽ phải cố gắng hơn để nâng cao trình độ chuyên môn cho công
việc và đơn vị sử dụng cũng sẽ có điều kiện để thu hút nhiều hơn lực lượng
lao động được đào tạo với chất lượng cao.
2.Về phía ngành đào GD - ĐT
2.Về phía ngành đào GD - ĐT
Đào tạo chính là nền tảng, là cơ sở để cho “ra lò” những lao động có kĩ
năng, có tay nghề, vì vậy đào tạo cần phải đổi mới nâng cao chất lượng để
làm sao khi tốt nghiệp sinh viên có khả năng đáp ưng những nhu cầu ngày
một cao của công việc. Bên cạnh đó nhà nước và bộ giáo dục cũng cần có
sự phối hợp để tính toán để cân đối tỷ lệ hợp lý giữa các ngành nghề đào
tạo, đáp ứng được nhu cầu của thực tế, tránh hiện tượng thừa thì vẫn cứ thừa
còn thiếu thì vẫn cứ thiếu. Nghành đào tạo cũng có mối liên hệ với thị
trường lao động để luôn cập nhập được xu hướng của nhu cầu để đào tạo
cho phù hợp cả về chất lượng cũng như số lượng.
3.Về phía chính sách của nhà nước.
3.Về phía chính sách của nhà nước.
Nhà nước là người quản lý ở tầm vĩ mô do vậy nhà nước cần đưa ra các
Nhà nước là người quản lý ở tầm vĩ mô do vậy nhà nước cần đưa ra các
chính sác hợp lý để thu hút và tạo điều kiện cho sinh viên vào học các
chính sác hợp lý để thu hút và tạo điều kiện cho sinh viên vào học các
nghành nghề kỹ thuật nghành mà hiện nay một đất nước đang trên con
đào tạo sẽ có lợi cho cả hai bên; người lao động sẽ làm tốt hơn công việc
của mình, bên sử dụng lao động sẽ được những người có trình độ chuyên
môn phù hợp, có năng lực làm việc.Sự kết hợp hài hoà và hợp lý này sẽ giúp
cho công việc đạt hiệu quả cao hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Báo tiền phong số135 ra ngày 24-3- 2002
2 Sách Lê Nin toàn tập – nhà xuất bản Tiến Bộ
3 Tạp chí lao động và xã hội tháng 3 -2002
4 Nguồn tin từ Internet : www.tinvan.com