Lời mở đầu
Thừa kế và di sản thừa kế là vấn đề mang tính kinh tế, mang tính xã hội
truyền thống nhưng cũng là vấn đề phức tạp về mặt pháp lý. Có thể nói, di sản
thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan
hệ dân sự về thừa kế. Đích cuối cùng của tranh chấp thừa kế chính là xác định
đúng khối tài sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế theo đúng kỷ phần mà
người thừa kế có quyền được hưởng, việc xác định đúng di sản thừa kế có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết các án kiện về thừa kế. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây, việc xác định di sản thừa kế- yếu tố quan trọng hàng
đầu đối với việc giải quyết các án kiện về thừa kế còn nhiều nan giải cả về mặt lý
luận và trong thực tiễn áp dụng.
Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng của nền kinh tế thị trường và xây
dụng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay thì vấn đề tài sản thuộc quyền sở
hữu của cá nhân ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng Vì vậy, vấn đề di sản
thừa kế và xác định di sản thừa kế cũng đặt ra nhiều hơn những vấn đề lý luận và
thực tiễn cần giải quyết.
Trước những tình hình đó, em quyết định lựa chọn đề tài “Di sản thừa kế-
một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, qua đó, mong muốn có thể làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn về vấn đề di sản thừa kế ở nước ta hiện nay, để từ đó đem lại
nhận thức đúng đắn về di sản thừa kế- yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việc
giải quyết các án kiện về thừa kế.
1
I. Một số vấn đề lý luận về di sản thừa kế
1. Quan niệm về di sản và di sản thừa kế.
1.1 Quan niệm về di sản.
Trên phương diện triết học, trong thế giới không ở đâu có tận cùng cả bề
rộng lẫn bề sâu, cũng như không ở đâu lại ngừng trệ, không biến đổi và không có
sự tiếp nối, kế thừa của các quá trình, của các sự vật và hiện tượng, tỏng đó có kế
thừa tự nhiên và kế thừa chủ động. Sự kế thừa, tiếp nối là biểu hiện của “cái” có
trước và “cái” có sau; cái để lại từ thời trước, của xã hội trước, của người trước…
cho thời sau; cho đời sau và cho người sau đang tồn tại. Để chỉ những gì mà thời
- Tài sản của người chết để lại
- Cái của thời trước để lại: ví dụ như di tích lịch sử, di vật lịch sử…v..
Hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thông thường thì “di sản” là tài sản của người
chết để lại hoặc những cái mà thời trước để lại cho đời sau, bao gồm:
- Các giá trị vật chất là các tài sản đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.
- Các giá trị tinh thần thuộc về đời sống nội tâm, những tư duy, ý tưởng, ý
nghĩ định hướng cho hoạt động của con người.
Thuật ngữ “di sản” được dùng trong rất nhiều lĩnh vực hoạt động của con
người. Chúng được dụng phổ biến nhất là trong lĩnh vực văn hóa, kinh tế, khảo
cổ học..và đặc biệt là pháp luật.
1.2 Di sản thừa kế.
Di sản thừa kế là một vấn đề hết sức phức tạp, khi nói về di sản thừa kế,
vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Một trong những nguyên nhân của tình trạng
này chính là do còn nhiều vấn đề tranh cãi liên quan đến di sản thừa kế.
Một trong những vấn đề còn có nhiều ý kiến tranh cãi đó là di sản
thừa kế có bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại hay không.
Về vấn đề này, hiện nay, trong khoa học pháp lý, vấn đề di sản thừa kế
vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm thì cho rằng di sản
thừa kế bao gồm tài sản và các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại; có quan
điểm lại cho rằng, di sản thừa kế bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sản trong phạm
vi di sản của người chết để lại; và có quan điểm lại cho rằng di sản thừa kế chỉ
bao gồm các tài sản của người chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài
sản…
3
Tán thành quan điểm thứ ba, theo tôi, di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài
sản của người chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản.
Tồn tại một thực tế hiển nhiên là khi còn sống, một người cần đến tài sản
của mình để sản xuất và sinh sống. Tài sản đó có được dựa trên nhiều căn cứ hợp
pháp, họ hoàn toàn có quyền sở hữu đối với tài sản đó. Bên cạnh đó có thể còn có
các nghĩa vụ tài sản đối vơi các chủ thể khác. Các nghĩa vụ này phát sinh từ
đó không còn tài sản để chia thừa kế và như vậy thì không có quan hệ nhận di sản
thừa kế.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 642 BLDS năm 2005 thì người thừa
kế có quyền nhận hoặc từ chối tiếp nhận di sản. Nếu nhận di sản thì phải thực
hiện việc trả nợ thay cho người để lại di sản; nếu từ chối nhận di sản cũng có
nghĩa từ chối thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết, họ không phải thực hiện
nghĩa vụ tài sản của người chết. Điều này chứng tỏ, người thức kế không buộc
phải nhận di sản để rồi phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết cho chủ nợ,
nếu quan niệm nghĩa vụ tài sản là di sản thừa kế thì trong mọi trường hợp chủ nợ
đều có quyền yêu cầu người thừa kế thực hiện việc trả nợ.
Nghĩa vụ tài sản của người chết thực sự là món nợ của người đó lúc còn
sống phát sinh từ những hành vi pháp lý của họ. Vì thế, phải coi nghĩa vụ đó là
của chình bản thân người chết, phải dùng di sản của người chết để thanh toán.
Nếu sau khi thanh toán nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác liên quan đến di sản
mà vẫn còn di sản để chia cho người có quyền hưởng di sản, thì phần di sản còn
lại này mới được gọi là di sản thừa kế.
Như vậy, di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết mà
chỉ bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập trên những căn cứ hợp pháp
mà người chết để lại cho những người hưởng thừa kế. Hiểu một cách tổng quan
nhất thì di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại
cho những người có quyền hưởng thừa kế, mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản
của người đó.
Khi bàn đến vấn đề di sản thừa kế thì còn có một vấn đề cần xem
xét đó là thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế.
Quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản được diễn ra ở hai
thời điểm khác nhau. Nếu quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản
5
diễn ra cùng một thời điểm (mở thừa kế) chỉ đúng trong một phạm vi rất hẹp, đó
là di sản “đang nằm trong tay”, “đang nằm trong sự chiếm hữu một cách hợp
pháp của người hưởng di sản” và loại tài sản này không bị phân chia và không
kế. Cách hiểu này cũng có tính hợp lý của nó vì “di sản thừa kế là tài sản của
người chết để lại” di sản thừa kế phải là tài sản được xác lập quyên sở hữu cho
người chết trước khi mở thừa kế. Khi người này chết thì chấm dứt mọi khả năng
thực hiện quyền của họ.
Tuy nhiên, vấn đề này cần được hiểu là, mặc dù những tài sản này phát
sinh sau khi người có tài sản chết, nhưng tài sản này có được từ các quan hệ pháp
luật mà khi còn sống họ tham gia với tư cách là chủ thể mang quyền, hoặc là
những tài sản này gắn liền, phát sinh từ những tài sản của người chết. Khi người
hưởng thừa kế đã nhận di sản và xác lập quyền sở hữu thì từ thời điểm đó, mọi
sinh lợi từ di sản thừa kế mới thuộc quyền sở hữu của họ. Vì thế không thể xác
định đó là di sản mà người chết để lại. Lúc này các khoản lợi là hệ quả trực tiếp
của quyền sở hữu chứ không phải là hệ quả của quyền thừa kế.
Trong thực tế, có khá nhiều trường hợp, di sản thừa kế được xác định sau
khi người có tài sản chết:
- Tiền trúng sổ xố là thu nhập hợp pháp của người mua vé số. Có thể người
này mua vé số trước khi mở thưởng là 5 ngày nhưng lại chết trước khi mở thưởng
1 ngày. Nếu trúng thưởng thì khoản tiền này là khoản thu nhập hợp pháp, nếu
người đã chết đã có vợ (chồng) thì một nửa thuộc quyền sở hữu của người còn
sống, nửa kia là di sản thừa kế của người chết
- Các khoản tiền bảo hiểm tình mạng cho hành khách, người thừa kế của
hành khách bị chết đó sẽ được hưởng khoản tiền mà cơ quan bảo hiêm phải chi
trả..
Những tài sản phát sinh sau thời điểm mở thừa kế được xác định là di sản
thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chính xác khối di sản mà người
chết để lại, đảm bảo đúng phần di sản mà từng người thừa kế được hưởng theo di
chúc hoặc theo pháp luật, đồng thời xác định được ai là người thực hiện nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại nếu di sản gây thiệt hại…
Di sản thừa kế là yếu tố vật chất của thừa kế, khoa học luật Dân sự thừa
nhận về mặt nội dung của thừa kế là quá trình dịch chuyển di sản thừa kế từ
7
mỗi giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội khác nhau cũng có những thay đổi và
8