SỞ KẾ HOẠCH & ĐẦU TƯ TỈNH SƠN LA
BAN ĐIỀU HÀNH CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ 21 TỈNH SƠN LA
--------------------
Tham gia viết chuyên đề sách
" phát triển bền vững vùng dân
tộc thiểu số và miền núi Việt Nam"
CHUYÊN ĐỀ
Mô hình thí điểm xây dựng về phát triển bền vững
tỉnh Sơn La
S n La, tháng 11 n m 2006ơ ăCHUYÊN ĐỀ
Mô hình xây dựng thí điểm về phát triển bền vững
(chương trình nghị sự 21) tỉnh Sơn La.
I. BỐI CẢNH TÌNH HÌNH:
1. Sự cần thiết của việc lựa chọn xây dựng mô hình phát triển bền
vững:
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến
trình phát triển của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế
giới đồng thuận xây dựng thành chương trình Nghị sự cho từng thời kỳ phát
triển của lịch sử. Năm 1992 tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường
và phát triển tổ chức ở Rio de Janerio (Braxin) đã thông qua tuyên bố Rio de
Janerio về môi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và chương
trình Nghị sự 21 về các giải pháp phát triển bền vững chung cho toàn thế giới
trong thế kỷ 21. Từ năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng
và thực hiện chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và
6.416 chương trình nghị sự 21 cấp địa phương.
Phát triển bền vững đã trở thành đường lối quan điểm của Đảng và Nhà
nước ta. Ngay từ năm 1991 Chính phủ đã ban hành " kế hoạch quốc gia về
năm 2006-2010, cũng như xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển của các
ngành, địa phương, nhằm kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm sự phát triển bền
vững đất nước.
Để triển khai thực hiện, ngày 09 tháng 03 năm 2005 Bộ KH&ĐT ban
hành thông tư số: 01 / 2005 /TT-BKH: Triển khai thực hiện Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ về Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở
Việt Nam. Trong đó, nêu rõ yêu cầu, hướng dẫn nội dung xây dựng chương
trình phát triển bền vững cấp địa phương (LA21) của 64 tỉnh, thành phố trong
cả nước.
Nhìn lại, trong chặng đường phát triển kinh tế - xã hội vừa qua của tỉnh
Sơn La vẫn dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu như khai thác
tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, song với trình độ công nghệ
sản xuất còn thấp còn lạc hậu, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng không
bền vững, năng suất lao động thấp, cộng với tỷ lệ tăng dân số cao, dẫn đến tỷ
lệ hộ đói nghèo cao, các dịch vụ cơ bản về giáo dục, y tế hiện còn bất cập, các
loại tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt để, cơ sở hạ tầng còn thấp kém
đang là những vấn đề nổi cộm bức xúc. Nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên
như đất, rừng, nước bị khai thác cạn kiệt, sử dụng lãng phí và kém hiệu quả.
Trong các quy hoạch tổng thể của tỉnh, ngành và các huyện thị, cũng như các
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm trong thời gian qua 3
mặt của sự phát triển, gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường chưa thực sự được kết hợp, lồng ghép
chặt chẽ với nhau.
Vì vậy, việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững - chương trình
nghị sự 21 của tỉnh là rất cần thiết, nhằm định hướng phát triển bền vững cho
tỉnh trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường sinh thái trong
một thời gian tương đối dài - đến năm 2020 và vạch ra những việc cần thực
hiện của những năm trước mắt cũng như lâu dài, phù hợp với tiến trình chung
của cả nước, tiến trình xây dựng Nhà máy thuỷ điện Sơn La, đem lại hiệu quả
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.412.500 ha, trong đó đất đang
được sử dụng 784.304 ha (năm 2004) chiếm 55,8% đất tự nhiên của tỉnh, so
với cả nước tỉ lệ này là 97%. Diện tích đất sử dụng sẽ có thay đổi khi thủy
điện Sơn La hoàn thành vào năm 2012. Theo tính toán Sơn La có 3 huyện bị
ngập, tổng diện tích bị ngập khoảng 13.730 ha, trong đó có 6.321 ha đất nông
nghiệp (bình quân mỗi hộ mất khoảng 0,65 ha đất nông nghiệp, trong đó
ruộng nước 0,13 ha), đất rừng 2.451 ha, đất chưa sử dụng 7.214 ha… Bên
cạnh đó, sẽ xuất hiện các vùng bán ngập với diện tích hàng trăm ha, có thể tận
dụng diện tích này để trồng trọt vào mùa chưa bị ngập.
Là một tỉnh vùng cao, quỹ đất nông nghiệp hạn chế, đặc biệt ruộng
nước bình quân đầu người chỉ có 0,017 ha/người (cả nước là 0,05 ha/người).
Quỹ đất có mặt nước để nuôi trồng thủy sản của Sơn La 1.670 ha, đã
đưa vào sử dụng 1.476 ha, chưa kể hồ thuỷ điện Hoà Bình. Nếu công trình
thủy điện Sơn La hoàn thành, sẽ có thêm 13.700 ha mặt nước hồ. Khi đó toàn
tỉnh sẽ có khoảng 25.000 ha ao, hồ và hồ sông Đà là tiền đề để Sơn La phát
triển mạnh nuôi trồng và khai thác thủy sản.
4. Tài nguyên nước:
4
Sơn La có hệ thống sông suối khá dầy nhưng phần lớn mặt nước thấp
hơn mặt đất canh tác. Sông suối ở Sơn La có độ dốc lớn, trắc diện hẹp nên
tiềm năng thuỷ điện khá lớn. Hầu hết mọi nơi trong tỉnh đều có điều kiện làm
thuỷ điện cực nhỏ, ngoài 96 điểm xây dựng được thuỷ điện vừa và nhỏ với
tổng công suất 134 MW còn có công trình thuỷ điện Suối Sập 11,8 MW, thuỷ
điện Nậm Chiến công suất 210 MW, thuỷ điện Huổi Quảng công suất 540
MW và đặc biệt là công trình thuỷ điện Sơn La với công suất 2.400 MW đang
được khởi công xây dựng.
5. Tài nguyên rừng:
Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích rừng và đất có khả năng
phát triển lâm nghiệp khá lớn (chiếm 73% diện tích tự nhiên), đến năm 2005
diện tích rừng của Sơn La chỉ còn 590.310 ha, trong đó rừng tự nhiên 461.000
đã bị phá vỡ thế cân bằng, nhiều khu vực rừng bị tàn phá kiệt quệ, để đáp ứng
nhu cầu về cuộc sống của một số đồng bào vùng cao, vì vậy vấn đề môi
5
trường sinh thái bức súc nhất hiện nay của tỉnh là thảm thực vật che phủ còn
thấp, diện tích đất trống đồi núi trọc chiếm khoảng 45 - 50% tổng diện tích tự
nhiên của toàn tỉnh, ngoài ra hiện tượng sói mòn, rửa trôi vẫn xảy ra trầm
trọng, đã phần nào làm giảm độ phì nhiêu của tài nguyên đất sản xuất, đồng
thời gây sạt lở, lũ lụt ở các vùng thấp.
9. Tài nguyên nhân văn:
Dân số trung bình toàn Tỉnh Sơn La năm 2005 có: 992.700 người, mật
độ bình quân 70 người/km
2
, trong đó nam là 499.800 người (chiếm 50,18%),
nữ 492.900 người (chiếm 49,82%). Dân số khu vực thành thị chiếm 12%; dân
số khu vực nông thôn chiếm 88% tổng số dân toàn tỉnh. Tốc độ tăng dân số tự
nhiên năm 2005 thực hiện là 1,69%. Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn
2000 – 2005 ở mức 1,85%.
Toàn tỉnh có 12 Dân tộc anh em, trong đó dân tộc Thái chiếm có dân số
lớn nhất, chiếm gần 55% dân số toàn tỉnh. Các dân tộc có dân số đông tiếp theo
là dân tộc Kinh 18%, dân tộc Mông 12%, dân tộc Mường 8,4%, dân tộc Dao
1,82%, dân tộc Khơ mú 1,89%...
Một vấn đề quan trọng khác là phải di dân khỏi lòng hồ thuỷ điện. Quy
hoạch tổng thể di dân tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 196/2004/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11
năm 2004. Theo Quy hoạch này thì số hộ trên địa bàn Sơn La cần phải di
chuyển cho xây dựng thủy điện Sơn La là 12.479 hộ. Bên cạnh đó, các thủy
điện Nậm Chiến, Huổi Quảng,... có công suất khá lớn đang trong quá trình
chuẩn bị đầu tư cũng đòi hỏi việc di dân, tái định cư. Đây thực sự là một công
việc đồ sộ đối với Tỉnh từ nay đến 2010.
10. Những thách thức về môi trường đặt ra với tỉnh trong quá trình
* Về phát triển dân số:
Hiện tại về tốc độ tăng dân số tự nhiên vẫn còn cao nhất là các đồng
bào vùng cao và dân tộc thiểu số, đây cũng là vấn đề gây nên áp lực lớn cho
việc giải quyết đời sống, những vấn đề xã hội, việc bảo vệ tài nguyên môi
trường tự nhiên. Đặc biệt khi xây dựng công trình thuỷ điện Sơn la làm cho
dân số cơ học tăng lên việc sắp xếp dân tái định cư cũng gây biến đổi về phân
bố dân cư, tác động tổng thể này mang tính toàn diện đến các thành phần môi
trường trong vùng.
* Về văn hoá - giáo dục:
Sơn La có 12 dân tộc anh em trình độ dân trí còn thấp và không đồng
đều ở các dân tộc, sự đa dạng về dân tộc cũng đã dẫn tới sự đa dạng về văn
hoá, về tập quán dân tộc vì vậy cũng gây nên sự trở ngại cho việc nâng cao
nhận thức cộng đồng như ( tiếng nói, chữ viết, phát triển duy trì bản sắc văn
hoá dân tộc…) Nhiều phong tục tập quán ở một số dân tộc còn lạc hậu, đặc
biệt là phong tục sản xuất thuần nông du canh du cư chưa được xoá bỏ.
* Về dân trí:
Ngoài những trở ngại trên, trở ngại về dân trí thấp là một sức ỳ lớn đối
với sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Nó dẫn đến sự hiểu biết về điều kiện
tự nhiên, yếu tố môi trường… dẫn đến các hậu quả gây nên không lường trước
được.
* Nguồn lực:
Nguồn lực và kinh phí để thực hiện còn hạn chế, ảnh hưởng tới việc đáp
ứng các yêu cầu mà trong kế hoạch đã đề ra, các hoạt động ưu tiên, các mô hình
trình diễn khó thực hiện theo đúng kế hoạch đã đề ra.
* Vấn đề tái định cư thuỷ điện Sơn La, cơ hội và thách thức:
Việc điều chỉnh quy hoạch tiếp nhận dân TĐC thuỷ điện Sơn La với
tỉnh Sơn La là một cơ hội nhưng đó cũng là một thách thức lớn với những tác
động về kinh tế - xã hội cũng như sự thay đổi và ảnh hưởng không nhỏ của
môi trường sinh thái. Có thể nêu ở đây một số các hoạt động và một số tác
động lên hệ thống tài nguyên của việc TĐC như sau:
dân. Chỉ có thể đạt được sự phát triển bền vững khi phát huy nội lực của toàn
dân thông qua phát huy quyền làm chủ, chủ động sáng tạo của mọi cấp, mọi
ngành, mọi tổ chức xã hội, các tầng lớp dân cư, cũng như sự tự giác và ý thức
của mọi người dân.
Về bản chất chương trình nghị sự của tỉnh là một kế hoạch hành động
do chính quyền, các ngành, các đoàn thể, nhân dân trong tỉnh cùng đồng
thuận xây dựng nhằm đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội - môi trường của
tỉnh một cách hài hoà và bền vững, tập trung giải quyết những vấn đề trọng
điểm trong chiến lược phát triển của tỉnh, đồng thời nhằm đạt được những
mục tiêu chương trình nghị sự 21 của quốc gia. Thông qua hội thảo và các
thông tin đại chúng về PTBV để nâng cao nhận thức cho các đối tượng khác
nhau: những nhà lãnh đạo, nhà quản lý, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp,
cộng đồng dân cư trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng hành động để
thực hiện chiến lược PTBV của tỉnh.
8