Dự án xây dựng chương trình nghị sự 21 tỉnh Sơn La Bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Sơn La - Pdf 30

UBND tỉnh Sơn La
Sở Tài nguyên và môi trường
Báo cáo chuyên đề
Dự án xây dựng chương trình nghị sự 21 tỉnh Sơn La
Bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Sơn La
Sơn La, 8.2005
Mở đầu
"Đa dạng sinh học" là sự phong phú của các sinh vật sống của tất cả các
nguồn gồm có hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh vật biển và các hệ sinh thái dưới
nước khác, và tập hợp các hệ sinh thái mà các hệ sinh vật này chỉ là một phần; đa
dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong một loài, sự đa dạng giữa các loài và đa
dạng hệ sinh thái. [1].
Nói cách khác, đa dạng sinh học là sự đa dạng của sự sống ở tất cả các
dạng, các cấp độ và các tổ hợp. Nó không phải là sự tổng hợp của tất cả các hệ
sinh thái, các loài, các kiểu gen. Đúng hơn, đa dạng sinh học là sự đa dạng trong
và giữa các hệ sinh thái, loại. Do vậy, nó là một thuộc tính của sự sống đối lập
với "nguồn tài nguyên sinh học" vốn là một phần rõ ràng của hệ sinh thái.
Đa dạng sinh học, bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý, khai thác và sử dụng
bền vững các nguồn tài nguyên sinh học luôn được coi là một mục tiêu ưu tiên
trong bất cứ chiến lược phát triển bền vững của một quốc gia, vùng lãnh thổ.
Sơn La là một tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, có diện tích 14.055 km2.
Tỉnh Sơn La giáp với các tỉnh Lào Cai và Yên Bái ở phía Bắc; giáp nước bạn
Lào ở phía Nam; Phú Thọ và Hoà Bình ở phía Đông và giáp với Lai Châu ở
phía Tây. Địa hình toàn tỉnh bị chia cắt mãnh liệt bởi các dãy núi cao trung bình
trên 2000m, xen kẽ với các thung lũng sâu và các mảnh sót của cao nguyên, hầu
hết chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đỉnh cao nhất của Sơn La thuộc các
dãy núi giáp Lào Cai, Yên Bái (trên 2000m). Địa hình có độ dốc lớn, chỉ có
11,3% diện tích có độ dốc dưới 25
0
. Do yếu tố địa hình ảnh hưởng đến hầu hết
các điều kiện tự nhiên khác của tỉnh như khí hậu, địa mạo, thổ nhưỡng và hệ sinh

Sơn La có 2 cao nguyên chính là cao nguyên Sơn La chạy theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam từ Tuần Giáo đến Yên Châu, dài gần 100km, rộng 25km và cao
trung bình 600m; cao nguyên Mộc Châu nối tiếp cao nguyên Sơn La và kéo dài
đến Bản Bung, cao 600 - 1000m. Hai cao nguyên này nằm trên đường phân thuỷ
của hệ thống sông Đà và sông Mã, địa hình bằng phẳng, có nhiều tiềm năng phát
triển kinh tế.
Sơn La có 11 đơn vị hành chính (1 thị xã, 10 huyện) với 975.460 người
(theo thống kê năm 2004) với mật độ 69 người/km
2
.
I.1.2. Thời tiết , khí hậu.
Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, mùa đông lạnh khô, mùa
hè nóng ẩm mưa nhiều. Địa hình bị chia cắt sâu và mạnh hình thành nhiều tiểu
vùng khí hậu gắn với việc tồn tại và hình thành nhiều vùng cảnh quan sinh thái
với thảm thực vật đa dạng đi đôi với số loài động, thực vật với mức độ đa dạng
cao, thích hợp với từng dạng sinh cảnh cụ thể tồn tại trên địa bàn tỉnh.
I.1.3. Dân số.
Dân số trung bình toàn tỉnh Sơn La năm 2003 có: 958.078 người, ước tính
dân số năm 2004 khoảng 975.460 người. Mật độ bình quân 69 người / km
2
, trong
đó nam là 489.455 người (chiếm 50,18%), nữ là 486.005 người (chiếm
49,82%).Dân số khu vực thành thị chiếm 10,94%, dân số sống ở khu vực nông
thôn chiếm 89% tổng số dân toàn tỉnh. Tốc độ tăng dân số năm 2004 là 1,71%/
năm.
Lao động trong độ tuổi hiện có khoảng 492.600 người chiếm 50,5% dân
số toàn tỉnh. Trong đó nam là 275.500 người, nữ là 217.100 người. Lao động
thành thị 83.300 người chiếm tỷ lệ 16,91%, lao động nông thôn 409.300 người
chiếm tỷ lệ 83,09% tổng lao động toàn tỉnh.
I.1.4. Tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Dịch vụ Tr.đ 155.406 336.740 510.754 597.835 784.900 16,73 48,44
GDP(giá hh) Tr.đ 1.038.665 1.837.352 2.848.736 3.536.444 4.319.700
Cơ cấu %
NN, LN, TS % 71,5 60,96 52,77 50,41 45,95
CN, XD % 9,75 9,49 13,17 15,8 18,09
Dịch vụ % 18,75 29,55 34,06 33,79 35,96
Việc duy trì nhịp độ tăng trưởng của tỉnh Sơn La ở mức cao sẽ đóng vai
trò rất quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, nhằm bảo đảm những nguồn
đầu tư phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học. Việc xây dựng chiến lược, kế hoạch
bảo tồn đa dạng sinh học không thể tách rời với mục tiêu phát triển kinh tế vì bảo
tồn và phát triển cùng củng cố lẫn nhau; về lâu dài quá trình hướng tới mục tiêu
phát triển bền vững, sử dụng bền vững tài nguyên sinh học của tỉnh sẽ không
thành công nếu thiếu một trong hai yếu tố trên.
Tuy nhiên, việc đầu tư vào khai thác tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn
tỉnh hiên nay vào việc khai thác nguồn tài nguyên sinh vật được đánh giá là
không bền vững. Ngay cả việc tăng diện tích rừng che phủ trên địa bàn tỉnh cũng
có thể đánh giá là làm giảm tính đa dạng sinh học do trước đây rất phổ biến việc
cải tạo rừng tạp (thực tế là rừng nguyên sinh) thành rừng trồng gỗ nguyên liệu.
Dẫn đến tình trạng mất đi các hệ sinh thái có tính đa dạng, có năng suất sinh học
cao chuyển thành các hệ sinh thái đơn giản, với tính bền vững trong môi trường
rất thấp như các hệ sinh thái rừng trồng, tre nứa tuy nhiên lại có giá trị kinh tế
cao hơn.
I.2. Đánh giá mức độ đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh Sơn La.
I.2.1. Tài nguyên rừng.
4
Sơn La là một trong những tỉnh có diện tích rừng và đất có khả năng phát triển
lâm nghiệp khá lớn (chiếm 75% diện tích tự nhiên), đất đai phù hợp với nhiều loại
cây, có điều kiện xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và tạo các vùng rừng kinh tế
hàng hoá có giá trị cao. Rừng Sơn La có nhiều thực vật quý hiếm, có các khu đặc
dụng có giá trị nghiên cứu khoa học và phục vụ du lịch , sinh thái trong tương lai.

2 Họ Cói Cyperaceae 14 72
3 Họ Thầu dầu Enphorbiaceae 24 45
4 Họ Cỏ Poaceae - -
5 Họ Đậu Fabaceae 26 45
6 Họ Long não Lonraceae 11 27
7 Họ Dâu tằm Monraceae 9 23
8 Họ Nhân sâm Ariliaceae 7 21
9 Họ Cà phê Rubiaceae 8 15
10 Họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae - -
11 Họ Bông Malvaceae - -
12 Họ Xoan Meliaceae - -
5
13 Họ Rau răm Poligonaceae - -
14 Họ Bồ hòn Sapindaceae - -
15 Họ Trúc đào Apocynaceae - -
16 Họ Cau dừa Palceae - -
Một số họ thực vật có số cá thể lớn cấu tạo nên các kiểu thảm thực vật ở
Sơn La là họ Đậu, họ Long não, họ Thầu dầu, họ Bồ hòn, họ Xoan, họ Trúc đào,
họ Cau dừa.
Các loài thực vật quý hiếm đang có nguy cơ bị tiêu diệt ở Sơn La như: Lát
hoa (Chikrasiatabularis); Giổi xương (Paramicheliabaillomi); Pơmu
(Fokieniahodginsu); Mậy nhân pêtơlơ (Caryapêtlotu).
Thực vật dưới nước: Theo số liệu điều tra của Viện Sinh thái và tài nguyên
sinh vật, Trung tâm quản lý và kiểm soát môi trường không khí và nwocs. Thực
vật nổi: 79 loài gồm có 6 ngành (Tảo Si lích, Tảo Lục, Tảo Lam, Tảo Giám, Tảo
Mắt, Tảo Vàng). [nguồn: Báo cáo ĐTM vùng hồ Hoà Bình, 1998] [7].
I.2.2.2. Đa dạng động vật.
Hệ động vật trên cạn:
- Sơn La có 245 loài, 88 họ, 27 bộ động vật có xương sống từ lớp lưỡng cư
trở lên (bảng 4).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status