đ
ánh giá các rủi ro trong dự án xây dựng
công trình giao thông ở việt nam hiện nay Trịnh thùy anh
Bộ môn Quản trị kinh doanh
Trờng Đại Giao thông Vận tải
Tóm tắt: Trong các dự án xây dựng công trình giao thông, rủi ro hết sức đa dạng do bản
chất phức tạp của các dự án ny cũng nh tác động của môi trờng kinh tế - xã hội - luật pháp -
văn hoá luôn biến động v đầy rẫy những bất trắc khó lờng. Bi viết ny nhằm tìm hiểu
nguyên nhân gây ra rủi ro v phân tích hậu quả do các rủi ro mang lại trong các dự án. Đây l
cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý rủi ro cho các Dự án xây dựng Công trình giao
thông (DAXD CTGT).
Từ khoá: rủi ro dự án, dự án xây dựng công trình giao thông, phân tích rủi ro, quản lý rủi ro
Summary: Risks are diversified in transport construction projects due to their complicated
features as well as continuous changing and unexpected impacts of the economic social
legislation cultural environment on the projects. This paper aims to analyze the causes and
effects of risks in construction projects, which is a basis for countermeasures on risk
management in the construction projects.
Key words: project risk, transport construction project, risk analysis, risk management.
CT 2
i. Đặt vấn đề
Rủi ro luôn tiềm ẩn trong mọi giai đoạn của dự án. Kể từ khi xác định chủ trơng đầu t,
chuẩn bị đầu t, cho đến khi kết thúc đa dự án vào khai thác và sử dụng, có rất nhiều nhân tố
là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra rủi ro, đồng thời rủi ro xảy ra cũng đa đến các hậu
quả nhất định. Do vậy việc đánh giá nguyên nhân và hậu quả của rủi ro phải căn cứ vào các
khâu, các giai đoạn của dự án. Hình 1 thể hiện nhóm các các rủi ro trong DAXD CTGT ở Việt
Giai đoạn
chuẩn bị dự án
Giai đoạn thực
hiện dự án
Giai đoạn khai
thác dự án
Rủi ro
trong thủ
công,
nghiệm
thu,
thanh
toán
Rủi ro
trong
quản lý
và triển
khai thực
hiện dự
án
Rủi ro
trong
khảo sát,
thiết kế
Rủi ro
do biến
động
nền kinh
tế, giá
Các rủi ro do chọn sai địa điểm đầu t, không phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế xã hội
có tác động trực tiếp đến hiệu quả dự án, tác động đến mục tiêu dự án, làm cho khi triển khai
thực hiện dự án phải sửa đổi, điều chỉnh, gây hậu quả là tình trạng lãng phí, thất thoát lớn vốn
đầu t, tốn kém chi phí giải phóng mặt bằng, xây dựng công trình
Rủi ro do thay đổi chủ trơng đầu t, xác định quy mô dự án, lựa chọn thiết bị, công nghệ
xây dựng, phơng án thi công không chính xác cũng dẫn đến không phù hợp với đặc điểm,
điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực, giảm hiệu quả đầu t.
Các rủi ro do công tác thẩm định dự án còn hạn chế, thể hiện ở việc phân tích, đánh giá
các mặt kỹ thuật, công nghệ, kinh tế tài chính trớc khi ra quyết định đầu t thực hiện cha
đầy đủ: bỏ sót nội dung, đánh giá sai lệch các nội dung dự án là các rủi ro làm ảnh hởng đến
mục tiêu dự án. Ngoài ra công tác lập và phê duyệt dự án, trong thực tế cũng còn nhiều bất cập
nh dự án cha có đủ điều kiện quy định đã đợc ghi kế hoạch cấp vốn, mang lại hậu quả
nghiêm trọng đến hiệu quả dự án. Mặt khác còn các rủi ro khác liên quan đến công tác thẩm
định và ra quyết định đầu t nh rủi ro do kéo dài thời gian thẩm định, do ý chí, chủ trơng của
cấp có thẩm quyền tác động khá mạnh đến hiệu quả dự án. Nguyên nhân gây các rủi ro này là
do hệ thống văn bản còn bất cập, thông tin yếu kém. Đánh giá nguyên nhân và hậu quả của các rủi ro trong công tác triển khai và điều
hành kế hoạch đầu t hàng năm
Nhiều rủi ro có khả năng xuất hiện trong quá trình triển khai và điều hành kế hoạch đầu t
hàng năm. Các rủi ro này có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, và đa đến hậu quả là lãng phí,
thất thoát, tiêu cực, tham nhũng trong các DAXD CTGT. Có thể kể đến các vấn đề sau:
- Các rủi ro do bố trí danh mục các dự án đầu t trong kế hoạch đầu t hàng năm quá phân
tán, không sát với tiến độ thi công đã đợc phê duyệt, gây hậu quả khá nặng nề, thể hiện ở chỗ
danh mục đầu t càng nhiều, thời gian đầu t càng bị kéo dài, hậu quả của rủi ro nh gây lãng
phí vốn đầu t cả về trực tiếp và gián tiếp càng lớn.
- Các rủi ro do bố trí vốn đầu t phân tán, dàn trải, không đúng quy định, thiếu tập trung,
thiếu tính kế thừa trong quy hoạch, kế hoạch, số lợng dự án nhóm B, C năm sau lớn hơn năm
trớc, hoặc các dự án không đủ điều kiện để bố trí kế hoạch vẫn ghi vào kế hoạch vốn đầu t
quản lý dự án. Sử dụng sai định mức kinh tế kỹ thuật cũng là những rủi ro gây tác động nhiều
đến việc đảm bảo đạt đợc mục tiêu dự án. áp dụng sai giá cả hoặc tính sai khối lợng; tổng dự
toán phải chỉnh sửa nhiều là các rủi ro gây hậu quả nặng nề.
Đánh giá nguyên nhân và hậu quả của các rủi ro trong đền bù, giải phóng mặt bằng
Đây là lĩnh vực nhạy cảm cả về kinh tế và xã hội, dễ bộc lộ những sơ hở gây ra rủi ro. Công
tác đền bù dễ dẫn đến các rủi ro do tiêu cực nh sau:
- Rủi ro do đền bù giải phóng mặt bằng không đúng đối tợng, không thoả đáng, kê khai
khống khối lợng đền bù, làm giả hồ sơ để nhận tiền đền bù, bớt xén tiền đền bù của dân dẫn
đến hậu quả là làm tăng thêm vốn đầu t XDCT. Mặt khác ngời dân là đối tợng chịu tác động
nặng nề nhất, nhiều hộ gia đình đã di chuyển khỏi mảnh đất của mình nhiều năm mà cha nhận
đợc đủ tiền đền bù, cha đợc bố trí tái định c.
- Rủi ro do bàn giao mặt bằng xây dựng không đúng thời hạn quy định làm chậm tiến độ thi
công của công trình, gây lãng phí, mất hiệu quả đầu t.
Nhìn chung, các rủi ro này là do cơ chế đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định c cha rõ
ràng, thoả đáng, còn nhiều bất cập về giá, chế độ đền bù dẫn đến các bất cập khi tiến hành
triển khai thực hiện giải phóng mặt bằng, gây tác động đến hiệu quả dự án. Đối tợng chịu rủi ro
không chỉ là chủ đầu t, nhà thầu, t vấn, mà cộng đồng ngời dân là đối tợng chịu rủi ro nhiều
hơn cả.
CT 2
Đánh giá nguyên nhân và hậu quả rủi ro trong bố trí và sử dụng vốn
Rủi ro trong bố trí và sử dụng vốn có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, đồng thời chúng
cũng mang lại các hậu quả nghiêm trọng đối với dự án, thể hiện cụ thể nh sau:
- Các rủi ro trong bố trí kế hoạch vốn ở một số địa phơng, nhiều công trình khởi công
không đợc bố trí vốn, khối lợng xây dựng cơ bản hoàn thành không có vốn thanh toán dứt
điểm gây tác động nặng nề, thiệt hại về kinh tế cho các nhà thầu.
- Các rủi ro do triển khai kế hoạch giải ngân hàng năm bị chậm, bố trí vốn đối ứng chậm,
đồng thời với việc chậm và thiếu vốn sẽ gây hiện tợng tiêu cực là chạy chỉ tiêu kế hoạch, chạy
vốn. Đây là một trong các rủi ro gây hậu quả là lãng phí, thất thoát và làm cho đồng vốn sử
dụng kém hiệu quả.
Sở dĩ có các rủi ro nói trên là do cơ chế phân bổ vốn cha rõ ràng, nhất quán; vì thế vốn
trờng, giải pháp an toàn lao động trong quá trình thi công là các rủi ro dẫn đến việc dự án
không đạt đợc mục tiêu, chẳng hạn xảy ra các sự cố kỹ thuật gây hậu quả làm thất thoát, lãng
phí về ngời và tài sản.
Ngoài ra còn có các rủi ro khác nh rủi ro do áp lực đẩy nhanh tiến độ (R053) cũng gây tác
động đến dự án về mặt chất lợng.
Các rủi ro do khan hiếm, biến động và giá nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động thay
đổi là các rủi ro gây tác động lớn đến dự án, làm gia tăng chi phí và kéo dài thời gian thực hiện
dự án.
Đánh giá nguyên nhân và hậu quả rủi ro trong công tác quản lý và triển khai thực hiện dự án
Các rủi ro liên quan đến công tác quản lý và triển khai thực hiện dự án là nh sau:
- Các rủi ro do một số cơ chế, chính sách chậm ban hành, sửa đổi cho phù hợp với tình
hình thực tế, một số cơ chế cha đủ mạnh, cha có các chế tài nghiêm khắc đối với các bên liên
quan tham gia vào DAXD (các cấp có thẩm quyền quyết định đầu t, chủ đầu t, t vấn, nhà
thầu) là các rủi ro gây hậu quả nghiêm trọng, làm lãng phí vốn đầu t và gây kéo dài thời gian
dự án. Nguyên nhân của các rủi ro này là do chậm nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính
sách phù hợp với cơ chế thị trờng; một số chính sách đợc ban hành khi phát hiện cha phù
hợp với tình hình thực tế thì chậm sửa đổi, bổ sung.
- Các rủi ro do tiêu cực có thể nói là các rủi ro cực kỳ nghiêm trọng, gây hậu quả lãng phí
vốn đầu t, gây kéo dài thời gian và ảnh hởng đến chất lợng công trình. Nguyên nhân do cơ
chế xin - cho, thủ tục hành chính còn nhiều bất cập.
- Các rủi ro liên quan đến năng lực của các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng bao gồm
chủ đầu t, ban quản lý dự án, t vấn, nhà thầu cha tơng xứng với yêu cầu của công việc
quản lý và thực hiện dự án, gây ra các hậu quả lớn ảnh hởng đến mục tiêu dự án về mặt chi
phí, thời gian, và chất lợng dự án.
- Rủi ro liên quan đến yếu tố con ngời nh rủi ro do ý thức chấp hành, kỷ cơng, các quy
định của pháp luật của các tổ chức cá nhân tham gia hoạt động xây dựng còn cha nghiêm
(R036); do t cách, đạo đức yếu kém, ý thức tuân thủ pháp luật, năng lực, trách nhiệm của cán
khoảng 20% chi phí xây dựng CTGT đối với các quốc lộ, còn các đờng tỉnh, huyện lộ, đờng
xã, thôn chi phí này thậm chí không có. Chi phí duy tu bảo dỡng đờng phải đủ (đối với nớc
ngoài chiếm tỷ lệ khá lớn), thì mới có thể đảm bảo duy trì tình trạng khai thác tốt, duy trì tuổi thọ
công trình. Nếu sau 5 năm con đờng không đợc duy tu bảo dỡng thích hợp thì đã xuống cấp
nghiêm trọng, thậm chí h hỏng hoàn toàn, và tiền sửa chữa lúc này sẽ bằng tiền xây dựng một
tuyến đờng mới. Chi phí duy tu sửa chữa nếu quá ít ỏi sẽ làm giảm chất lợng công trình, ảnh
hởng đến hiệu quả dự án. Khi chi phí cho duy tu, sửa chữa không đợc cung cấp đầy đủ, tình
trạng nợ đọng kéo dài triền miên sẽ khiến cho các đơn vị trực tiếp quản lý và bảo trì đờng bộ
gặp rất nhiều khó khăn, họ phải vay tiền với một lãi suất nhất định nào đó để duy tu sửa chữa
nhằm tồn tại công ty đảm bảo công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên. Mặt khác, CTGT do
không đợc bảo trì kịp thời đã xuống cấp nhanh chóng, ảnh hởng trực tiếp đến chi phí khai
thác vận tải và an toàn trong vận hành.
CT 2
Lãi suất trong tơng lai thay đổi sẽ ảnh hởng đến nguồn thu, chi và suy cho cùng là ảnh
hởng đến mục tiêu của dự án.
Mặt khác giá cả nguyên vật liệu dùng cho duy tu sửa chữa có thể thay đổi. Trong thời gian
khai thác, các chi phí đầu vào thay đổi sẽ dẫn đến sai lệch mục tiêu của dự án, tác động đến
các hiệu quả tài chính và kinh tế xã hội.
Kết quả đầu ra của DAXD CTGT là số lợng phơng tiện sử dụng dự án và các khoản thu
từ ngời sử dụng đờng không chính xác do công tác dự báo còn nhiều sai sót, sẽ dẫn đến hai
hiện trạng: một là ùn tắc giao thông do lu lợng phơng tiện thực tế cao hơn dự kiến, gây tổn
thất chi phí xã hội mà ngời sử dụng đờng và toàn bộ cộng đồng phải gánh chịu; hai là đờng
to rộng trong khi phơng tiện tham gia giao thông tha thớt do lu lợng thực tế quá thấp hơn dự
kiến, sẽ gây thất thu cho dự án. Cả hai tình trạng này đều dẫn đến hậu quả là giảm sút hiệu quả
tài chính, kinh tế xã hội của dự án. V. Kết luận
Phần lớn các rủi ro gây hậu quả nặng nề đến dự án, đều có nguyên nhân là do thiếu các
chế tài nghiêm khắc, đủ mạnh để xử lý các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng khi có vi
Scientific Publication
Ă