Những biện pháp pháp lí nhằm hỗ trợ và giải quyết việc làm - Pdf 29

MỤC LỤC
A) Những biện pháp pháp lí nhằm hỗ trợ và giải quyết việc làm:
I) Chương trình việc làm:
II) Quỹ giải quyết việc làm:
III) Tổ chức giới thiệu việc làm:
IV) Dạy nghề gắn với việc làm:
V) Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài:
B) Giải quyết tình huống:
I) Nếu muốn sa thải chị H và buộc chị H phải trả số tiền 34 triệu, công ty M
phải làm như thế nào?
II) Việc công ty M cho chị H tạm đình chỉ công việc như trên là đúng hay
sai?
III) Giả sử công ty M đã ra quyết định sa thải đối với chị H (trong tình
huống trên), chị H cần gửi đơn yêu cầu đến những cơ quan nào để bảo vệ
quyền lợi của mình?
A) Những biện pháp pháp lí nhằm hỗ trợ và giải quyết việc làm:
Để giải quyết việc làm cho người lao động, Nhà nước có thể sử dụng nhiều
biện pháp khác nhau. Có những biện pháp nhằm trực tiếp giải quyết việc làm
cho người lao động nhưng cũng có những biện pháp chỉ manh tính chất hỗ trợ
cho việc giải quyết việc làm. Các biện pháp mang tính hỗ trợ cho giải quyết
việc làm như khuyến khích đầu tư, lập các chương trình việc làm, phát triển
hệ thống dịch vụ việc làm, cho vay từ các quỹ chuyên dụng… Các biện pháp
trực tiếp giải quyết việc như đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng, khuyến khích tuyển dụng lao động và tự do hợp đồng.
I) Chương trình việc làm:
Chương trình việc làm là một trong những biện pháp để Chính phủ thực
hiện vấn đề bảo đảm việc làm, hạn chế thất nghiệp.
Theo quy định của pháp luật lao động, hàng năm, Chính phủ có trách nhiệm
lập chương trình quốc gia về việc làm trình Quốc hội quyết định : UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập chương trình giải quyết việc làm ở
địa phương trình hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định. Việc lập chương

Theo quy định của pháp luật, hiện nay ở nước ta có 3 loại quỹ việc làm, đó
là quỹ quốc gia về việc làm, quỹ giải quyết việc làm ở địa phương và quỹ việc
làm cho người tàn tật.
Quỹ quốc gia về việc làm là biện pháp pháp lí quan trọng của Nhà nước
trong việc triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm.
Nguồn quỹ bao gồm : ngân sách nhà nước, các nguồn hỗ trợ của các tổ chức
và cá nhân ở trong và ngoài nước, các nguồn hỗ trợ khác. Quỹ quốc gia về
việc làm được sử dụng vào các mục đích : cho vay vốn theo dực án nhỏ để
giải quyết việc làm cho một số đối tượng, cho các doanh nghiệp vay để hạn
chế lao động mất việc làm và nhận người thất nghiệp, hỗ trợ để củng cố và
3
phát triển hệ thống tổ chức, giới thiệu việc làm và các họat động phát triển thị
trường lao động.
Quỹ giải quyết việc làm địa phương được hình thành từ các nguồn ngân
sách địa phương do hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
quyết định, các nguồn hỗ trợ của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, các
nguồn hỗ trợ khác. Quỹ này được sử dụng theo đúng mục tiêu của chương
trình giải quyết việc làm của địa phương.
Quỹ việc làm cho người tàn tật được hình thành từ các nguồn : ngân sách
địa phương, quỹ quốc gia về việc làm, khoản thu từ các doanh nghiệp nộp
hàng tháng do không nhận đủ số lao động tàn tật theo quy định, các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước trợ giúp và các nguồn thu khác. Quỹ việc làm
cho người tàn tật được sử dụng vào mục đích : cấp để hỗ trợ hoặc cho vay với
lãi suất thấp cho một số cơ sở, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tàn
tật; các họat động phục hồi chức năng lao động cho người tàn tật.
III) Tổ chức giới thiệu việc làm:
Việc thành lập các tổ chức giới thiệu việc làm được coi là một trong
những biện pháp nhằm hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động. Thông
qua họat động của các tổ chức này mà các quan hệ lao động có điều kiện và
khả năng được hình thành. Tổ chức giới thiệu việc làm theo Nghị định của

thường xuyên. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuân lợi cho các tổ
chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở dạy
nghề đáp ứng nhu cầu phát triển kinh thế xã hội của đất nước. Mục tiêu của
dạy nghề là: đào tạo nhân lực kĩ thuật trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực
hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề
nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt
nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao
hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
V) Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài:
5
Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài được coi là một
trong những hoạt động quan trọng nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập và
nâng cao trình độ tay nghề, tiếp cận công nghệ tiên tiến cho người lao động
thông qua đó góp phần phát triển nguồn nhân lực. Nước ta đã hợp tác đưa lao
động đi làm việc ở nước ngoài từ những năm 1980. Từ năm 1991 đến nay,
hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo cơ chế thị
trường, Nhà nước chủ yếu làm chức năng quản lý, mở thị trường, các doanh
nghiệp kí hợp đồng và trực tiếp đưa, quản lí người lao động đi làm việc ở
nước ngoài. Năm 2006, Quốc hội ban hành Luật người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, theo đó công dân Việt Nam đủ 18 tuổi
trở lên, tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài, có đủ sức khỏe, đáp ứng yêu cầu
của nước tiếp nhận, không thuộc trường hợp cấm xuất cảnh theo quy định của
pháp luật Việt Nam thì được đi làm việc ở nước ngoài. Người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các hình thức: hợp đồng đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp họat động dịch vụ, với tổ
chức sự nghiệp được phép họat động trong lĩnh vực này; hợp đồng với doanh
nghiệp trúng thầu, nhận thầu ở nước ngoài hoặc tổ chức cs nhân đầu tư ra
nước ngoài có đưa lao động đi làm ở nước ngoài; hợp đồng theo hình thức
thực tập, nâng cao tay nghề và hợp đồng lao động do cá nhân người lao động
trực tiếp kí với người sử dụng lao động nước ngoài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status