A. Câu hỏi lí thuyết.
LỜI MỞ ĐẦU
TƯTT đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp, bởi thông qua thỏa ước
tập thể NLĐ có thể thỏa thuận những điều kiện về quyền lợi cũng như nghĩa
vụ của tập thể NLĐ trong doanh nghiệp để đạt được lợi ích cao hơn. Khi thỏa
ước lao động được xác lập thì TƯTT luôn tồn tại mối quan hệ giữa thỏa ước
với pháp luật lao động, song cũng tồn tại mối quan hệ với HĐLĐ. Để tìm hiểu
rõ hơn về mối quanh hệ này, sau đây là phần phân tích của em về “Mối quan
hệ giữa thỏa ước tập thể với pháp luật lao động và hợp đồng lao động”. Do
kiến thức còn hạn chế nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót do vậy em rất
mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn!
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
VÀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG.
1. Khái niệm và đặc điểm thỏa ước lao động tập thể.
1.1. Khái niệm thỏa ước lao động tập thể (thỏa ước tập thể)
Thỏa ước tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử
dụng lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và
nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động.
1.2. Đặc điểm.
Thứ nhất, thỏa ước tập thể có tính hợp đồng
Thứ hai, thỏa ước tập thể có tính quy phạm
2. Khái niệm và đặc trưng hợp đồng lao động.
2.1. Khái niệm.
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng
lao động về việc làm có trả công điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của
mỗi bên
1
2.2. Đặc trưng của hợp đồng lao động.
Với tư cách là một loại khế ước, HĐLĐ mang những đặc điểm nói chung,
Song với tư cách là hình thức pháp lí của quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa
đặc biệt- hàng hóa sức lao động, HĐLĐ có những đặc trưng riêng so với các
việc làm…Những cam kết này bao giờ cũng được thể hiện dưới dạng các
nguyên tắc. Ngoài ra, việc kí kết TƯTT phải theo một trình tự nhất định và
phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Chính vì thế, TƯTT được coi
là nguồn bổ sung của luật lao động, nó chứa đựng nguyên tắc bắt buộc đối với
các bên tham gia quan hệ lao động và các chủ thể liên quan.
Kí kết thỏa ước là biện pháp tốt nhất để đưa các quy phạm pháp luật thực
định vào doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo quyền tự do thương lượng, thỏa
thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động. TƯTT được ký chính
là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa pháp luật, bổ sung cho các quy phạm pháp luật
điều chỉnh quan hệ lao động trong mỗi doanh nghiệp, cho phù hợp với từng
điều kiện của doanh nghiệp.
Thỏa ước khi được ký kết sẽ trở thành văn bản có hiệu lực pháp lý rộng rãi
trên phạm vi toàn doanh nghiệp. Lúc này, thỏa ước có giá trị như là luật của
doanh nghiệp mà các bên phải tuân thủ. Tuy rằng HĐLĐ là phổ biến và thông
dụng hơn trong việc thiết lập cơ sở cho các bên khi tham gia vào quan hệ lao
động nhưng khi doanh nghiệp đã có thỏa ước thì việc giao kết hợp đồng phải
phù hợp với nội dung của thỏa ước. Bên cạnh đó, khi thỏa ước tập thể đã
được kí thì tất cả các HĐLĐ có nội dung trái với thỏa ước theo hướng bất lợi
cho người lao động thì phải điều chỉnh cho phù hợp. Điều này càng thể hiện
tính chất “nguồn” của TƯTT một cách mạnh mẽ.
3
Thỏa ước được ký kết tạo nên sự thống nhất, đồng bộ rất cao trong tổng thể
điều kiện lao động trong phạm vi doanh nghiệp. HĐLĐ là văn bản mang tính
chất cá nhân nó được thiết lập giữa cá nhân người lao động và người sử dụng
lao động, chỉ bao gồm các điều khoản liên quan đến quan hệ lao động được
thiết lập giữa cá nhân đó với doanh nghiệp mà thôi. Còn TƯTT thì khác, như
quy định tại điều 44 BLLĐ thì TƯTT được coi là “văn bản thỏa thuận giữa
tập thể người lao động và người sử dụng lao động”
Thỏa ước có giá trị bao trùm lên toàn doanh nghiệp, là nguồn quan trọng điều
chỉnh các vấn để trong quan hệ lao động. Pháp luật đề ra các quy định để điều
để chuẩn bị cho quá trình thực thi những quy định mới của pháp luật trong
quá trình đổi mới pháp luật.
2. Mối quan hệ giữa hợp đồng lao động và thỏa ước tập thể.
Mối quan hệ giữa hợp đồng lao động và thỏa ước tập thể là mối quan hệ giữa
cá nhân và tập thể, giữa cái riêng và cái chung. Biểu hiện mối quan hệ này thể
hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất: HĐLĐ là điểm xuất phát để có thỏa ước tập thể. Thỏa ước tập thể là
căn cứ pháp lý để các bên thiết lập, điều chỉnh quan hệ HĐLĐ.
HĐLĐ là điểm xuất phát để có thỏa ước tập thể vì phải có các hợp đồng cá
nhân, tức tồn tại quan hệ lao động cá nhân thì mới hình thành nên tập thể lao
động, mới có nhu cầu liên kết của tập thể và từ đó mới có tổ chức đại diện của
tập thể lao động- một bên trong thỏa ước lao động tập thể. Hơn nữa, việc thực
hiện HĐLĐ ở một khía cạnh nào đó cũng chính là việc thực hiện thỏa ước.
Thỏa ước tập thể khi đã có hiệu lực pháp luật trở thành căn cứ để các bên thiết
lập, điều chỉnh quan hệ HĐLĐ, vì thỏa ước là văn bản pháp lý mà nội dung
của nó quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ lao động. Điều có ý nghĩa ở
đây là trên cơ sở những quy định có tính chất chung chung của Bộ luật lao
động thông qua thỏa ước quyền và nghĩa vụ của các bên, đặc biệt là của NLĐ,
được ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng cùng với một cơ chế đảm bảo thực
hiện trên cơ sở cam kết phù hợp với điều kiện, khả năng của các bên. Như
5
vậy, trên thực tế dù không có thỏa ước HĐLĐ vẫn có thể được xác lập nhưng
khi có thỏa ước- nó trở thành căn cứ, cơ sở làm cho các bên trong thỏa thuận
của các bên trong HĐLĐ chi tiết, cụ thể, rõ ràng và điều quan trọng là sự ràng
buộc, khả năng hiện thực hóa các cam kết trong HĐLĐ là rất cao. Nói cách
khác, nếu HĐLĐ là xuất phát điểm của thỏa ước tập thể, thì thỏa ước tập thể
lại đặt mục đích hướng tới, bổ sung và hoàn thiện HĐLĐ cá nhân. Và khi đã
có thỏa ước tập thể thì thỏa thuận của các bên trong HĐLĐ không được trái
với thỏa ước tập thể.
Thứ hai: Thỏa ước tập thể là một trong những nguồn pháp lý quan trọng để
cho luật lao động. Còn trong mối quan hệ với hợp đồng lao động là mối quan
hệ giữa cái riêng và cái chung, giữa cái cụ thể, giữa cá nhân và tập thể.
B. Câu hỏi bài tập.
a. Nhận xét hợp đồng học nghề và việc giải quyết chế độ tăng lương của
A.
a.1. Nhận xét hợp đồng học nghề:
Hợp đồng học nghề được ký kết giữa A và công ty X đã làm phát sinh quan
hệ học nghề giữa A và công ty X. Do từ tháng 1/1/1999 A được tuyển dụng
vào công ty X với vị trí cán bộ kỹ thuật theo HĐLĐ, sau khi trở thành nhân
viên của công ty X thì A đã được bổ nhiệm làm phó phòng kinh doanh với
mức lương 2 triệu đồng/tháng. Tháng 2/2004 do yêu cầu công việc nên A đã
được cử đi học nâng cao tay nghề vì vậy quan hệ phát sinh từ hợp đồng học
nghề giữa A với công ty X là quan hệ học nghề gắn với việc tuyển dụng vào
doanh nghiệp để làm việc cho doanh đó. Từ những phân tích ở trên có thể
thấy hợp đồng học nghề giữa A với công ty X có một vài đặc điểm sau:
Về nội dung: theo quy định tại điều 36 Luật dạy nghề năm 2006 qui định:
7