Một số vấn đề về quản lý sử dụng kinh phí cho hoạt động sự nghiệp y tế tại Bệnh viện nhi trung ương trong điều kiện hiện nay - Pdf 29

Chuyên đề cuối khoá
CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ
TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ.
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ.
1.1.1. Khái niệm về đơn vị sự nghiệp y tế.
Công việc khám chữa bệnh đã có từ khi xã hội loài người xuất hiện,
ban đầu chỉ là những thầy lang, thầy phù thuỷ, với những phương thức chữa
bệnh rất đơn sơ và mang nặng tính chất mê tín. Bệnh viện chỉ thực sự phát
triển từ cuối thế kỷ XIX do có sự trợ giúp của các ngành khoa học khác, nó có
tổ chức và hệ thống hoàn chỉnh. Đến ngày nay thì bệnh viện chở thành một
đơn vị không thể thiếu và vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
Theo quan điểm hiện đại bây giờ cho rằng: “Đơn vị y tế là một cơ sở y tế
trong khu trong khu vực dân cư, là một bộ phận không thể tách rời của một tổ
chức xã hội và y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho
nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và
nghiên cứu sinh xã hội học”.
Như vậy theo cách hiểu trên thì đơn vị sự nghiệp y tế là một hệ thống,
một phức hợp và một tổ chức động.
- Đơn vị y tế là một hệ thống lớn bao gồm: ban giam đốc, các phòng
nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.
- Đơn vị y tế là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan
chằng chịt từ khám bệnh, chuẩn đoán, điều trị, chăm sóc….
- Là một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế,
trang thiết bị, thuốc cần để chuẩn đoán điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi
bệnh ra viện hoặc hồi phục sức khoẻ hoặc người bệnh tử vong.
Đơn vị y tế có 3 loại:
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
+ Đơn vị y tế công hay còn gọi là đơn vị sự nghiệp y tế. Đây là đơn vị y
tế do Nhà nước quản lý, mọi sự hoạt động của nó phụ thuộc vào đường lối

tố con người. Bởi vậy, chiến lược con người sẽ là trung tâm của chiến lược
phát triển kinh tế xã hội, vừa thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
đồng thời cũng là đối tượng tác động của các mục tiêu đó. Song quả thực sẽ
không có tính thuyết phục khi nói về một chiến lược mà trong đó không có
mục tiêu cụ thể nào cho sự phát triển của con người, hơn thế nữa chỉ xem con
người là công cụ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo một ý
nghĩa trừu tượng về các tiêu chuẩn của xã hội ấy.
Nền kinh tế nước ta đang từng bước đổi mới theo cơ chế thị trường có
sự điều tiết vĩ mô của nhà nước. Trong quá trình đó yếu tố con người vừa là
mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Con người được coi
là nguồn lực năng động nhất trong mọi nguồn lực nên việc chăm lo đầy đủ
đến con người phải thông qua việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bằng cách
nuôi dưỡng bảo toàn, phát triển sức lực thông qua việc giáo dục và đào tạo.
Có như vậy mới đảm bảo được nền tảng vững chắc về sự phồn vinh, thịnh
vượng, thực hiện được chiến lược phát triển con người: “Nâng cao dân trí đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Mặt khác trong hai mục tiêu lớn của chiến lược con người là khai thác
và phát huy cao độ năng lực lao động, chất sám, tạo môi trường phát triển có
trọng dụng nhiều nhân tài. Nhưng để đạt được điều đó đòi hỏi phải có sức
khỏe, sức khoẻ là tiền đề để tạo ra trí thức cho con người. Thật vậy, ngành y
tế với chức năng chăm sóc, bảo vệ và nâng cao thể lực của nhân dân nên có
một vị trí hết sức quan trọng trong việc phát triển nguồn lực để thực hiện
chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Chiến lược chăm sóc sức khoẻ của tổ chức y tế Thế giới đến năm 2000
là: “Không có một công dân nào lại không được chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe”. Đầy cũng là một nội dung cơ bản của chiến lược chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ nhân dân ta.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
Như vậy, sự nghiệp y tế có vai trò hết sức quan trọng trong việc chăm

không có những phẩm chất nhân cách phù hợp với yêu cầu của công việc thì
không thể đầy mạnh phát triển kinh tế là một điều tất yếu. Điều đó nói lên
rằng y tế không phải là một phạm trù phúc lợi đơn thuần mà nó có tác động
đến sự nghiệp kinh tế. Song chất lượng hiệu quả của hoạt động y tế phụ thuộc
rất nhiều vào việc đầu tư vốn cũng như việc quản lý nguồn vốn đầu tư này.
Quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế góp phần đảm
bảo sự công bằng xã hội. Nhất là trong điều kiện nước ta ngày nay, mặc dù đã
có sự điều tiết của nhà nước nhưng cơ chế thị trường vẫn có những quy luật
tất yếu của nó đó là sự phân hoá người giàu và người nghèo, khoảng cách này
ngày càng lớn. Mặt khác người nghèo có nguy cơ mắc bệnh nhiều hơn người
giàu rất nhiều, việc họ không có đủ khả năng chi trả cho việc khám chữa bệnh
là điều tất yếu. Quản lý kinh phí sao cho phù hợp với từng đối tượng là một
vấn đề rất khó đồng thời vẫn đảm bảo công bằng cho mọi người lại còn khó
hơn. Điêu này thể hiện ở việc nhà nước đảm bảo cho mọi người đều được
chăm sóc sức khoẻ ở mức độ cơ bản theo khả năng tối đa của NSNN dành cho
khám chữa bệnh. Đối tượng ưu tiên và người nghèo không đủ khả năng chi
trả thì được nhà nước hỗ trợ thông qua các chính sách xã hội. Các đối tượng
khác có nhu cầu phục vụ cao hơn được các cơ sở y tế, bệnh viện tạo điều kiện
thuận lợi phù hợp với khả năng thanh toán của họ.
Quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế là một trong
những công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế của
xã hội. Thông qua việc xác định cơ cấu tỷ trọng các khoản chi ở các đơn vị
mà Nhà nước tham gia điều chỉnh hướng dẫn đảm bảo các hoạt động y tế ở
các đơn vị sự nghiệp y tế đi đúng hướng theo đường lối của Đảng và Nhà
nước.
Trên đây là một số vai trò chủ yếu của việc quản lý sử dụng kinh phí ở
các đơn vị sự nghiệp y tế. Song các vai trò này phát huy được hay không phụ
thuộc rất lớn vào công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế cũng như hệ
thống quản lý ở các đơn vị sự nghiệp này.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02

Chuyên đề cuối khoá
mức đầu tư của bệnh viện và cũng đã được giới chức có thẩm quyền ở địa
phương duyệt.
Đối với người bệnh có thẻ Bảo hiểm Y tế thì cơ quan Bảo hiểm Y tế
thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện. Tuy nhiên, ở Việt Nam mới
chỉ phổ biến loại hình BHYT bắt buộc áp dụng cho các đối tượng CNVC làm
công ăn lương cho các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp. Các loại hình
khác chưa được triển khai một cách phổ biến.
Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế thường đảm bảo được từ 20-30%
nhu cầu chi tối thiểu của các bệnh viện công.
Hiện nay, thực hiện chủ trương xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức
khoẻ của Đảng và Nhà nước, các loại hình bệnh viện và cơ sở y tế bán công,
ngoài công lập đã ra đời, với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện
phí và bảo hiểm y tế.
1.2.3. Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác.
Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác cũng được Chính phủ Việt Nam
qui định là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và
sử dụng. Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo những nội dung đã
định từ phía tổ chức viện trợ. Nguồn này đáp ứng khoảng 20-30% chi tối
thiểu của bệnh viện.
Trong tổng ngân sách sự nghiệp y tế, phần ngân sách trung ương chiếm
khoảng 30%, trong đó ngân sách dành cho 30 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế
chiếm khoảng từ 28-32%.
Ngấn sách y tế địa phương có kết cấu khác: 72-75% dành cho bệnh
viện, kinh phí phòng bệnh chỉ chiếm khoảng 25-28%.
Tính chung, NSNN Việt Nam dành 40% chi cho hoạt động khám chữa
bệnh của các bệnh viện công.
1.3. NỘI DUNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y
TẾ.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02

Chuyên đề cuối khoá
- Quản lý chặt chẽ thu chi tài chính; thực hành tốt công tác kế toán,
phân tích hoạt động kinh tế; xác lập vai trò của công tác tài chính-kế toán là
công cụ đắc lực để quản lý kinh tế bệnh viện.
Nội dụng của quản lý sử dụng kinh phí ở các đơn vị sự nghiệp y tế
Căn cứ vào thông tư số 103/1998/TT - BTC của Bộ Tài chính về hướng
dẫn việc phân cấp, lập, chấp hành và quyết toán NSNN thì nội dung của quản
lý sử dụng kinh phí tại các đơn vị sự nghiệp y tế gồm 3 khâu:
- Lập dự toán chi cho năm kế hoạch.
- Chấp hành dự toán chi.
- Quyết toán chi cho năm báo cáo.
1.3.1. Khầu lập dự toán chi.
Dự toán chi cho năm kế hoạch ở các đơn vị sự nghiệp y tế là một bộ
phận rất quan trọng trong chu trình quản lý sử dụng kinh phí ở bệnh viện và
khi lập dự toán chi phải dựa trên những căn cứ sau:
- Nhiệm vụ phát triển ở các đơn vị sự nghiệp y tế cụ thể của năm kế
hoạch và những chỉ tiêu phản ánh nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động của viện.
Căn cứ này giúp cho công tác xây dựng kế hoạch chi có một cách nhìn tổng
quát về những mục tiêu nhiệm vụ phải thực hiện trong năm kế hoạch. Đồng
thời nó giúp cho việc khai thác các nguồn thu cũng như việc sử dụng ngân
sách một cách đúng đắn hợp lý cho năm kế hoặch.
- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN cho các đơn vị y tế do các
cấp có thẩm quyền quy định và khả năng nguồn kinh phí đáp ứng. Đây là căn
cứ theo quy định của luật ngân sách. Lập dự toán chi chỉ sát đúng với dự toán
của cơ quan cấp trên khi đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định
mức thu chi tài chính Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật. Từ đó đảm bảo
tính hợp pháp cho việc lập dự toán chi của bệnh viện.
- Những chỉ thị của cấp trên về việc xây dựng kế hoạch phát triển y tế
và dự toán chi cho năm sau. Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về lập dự
toán chi ngân sách; văn bản hướng dẫn của Bộ; ngành; cơ quan liên quan.

SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
toán cho các chỉ tiêu chi năm kế hoạch. Bước này còn được gọi là xác định và
giao số kiểm tra từ Bộ Tài chính (hoặc cơ quan chủ quản).
Tại các cơ sở y tế: Căn cứ vào tình hình thực hiện những năm trước gần
nhất; căn cứ vào chính sách, chế độ chi ngân sách cho y tế hiện hành và dự
kiến những biến động có thể có trong năm kế hoạch, cùng với các văn bản
hướng dẫn và số kiểm tra được giao, tiến hành xác định tính toán các nội
dung chi cụ thể của đơn vị mình. Khi đã xác định đầy đủ các chỉ tiêu chi, tiến
hành lập bản kế hoạch được phân định theo mục lục ngân sách gửi lên cơ
quan quản lý cấp trên (Bộ y tế) và cơ quan tài chính đồng cấp xem xét.
Qua việc lập kế hoạch chi ngân sách mà thẩm tra, tính toán một cách
chặt chẽ, kỹ lưỡng khả năng và nhu cầu về tài chính cho đơn vị mình. Từ đó
phát huy được ưu thế, thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn,
trở ngại trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đây là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách, nó đặt cơ sở nền tảng
cho các khâu tiếp theo. Vì vậy, nếu khâu lập ngân sách được thực hiện chính
xác có cơ sở khoa học, hợp thời gian,... sẽ tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho
khâu tiếp theo đặc biệt là khẩu chấp hành dự toán chi cho sự nghiệp y tế.
Với trình tự tiến hành như trên thì nó vừa đảm bảo tính khoa học, vừa
đảm bảo tính thực tiễn, đồng thời nó thể hiện rõ sự tôn trọng nguyên tắc thống
nhất, tập trung dân chủ trong quản lý sử dụng kinh phí ở bệnh viện, giúp quá
trình quản lý bệnh viện được tốt hơn, hiệu quả hơn.
1.3.2. Khầu chấp hành dự toán chi cho sự nghiệp y tế.
Mục đích của chấp hành dự toán chi là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn
kinh phí của NSNN cho hoạt động y tế và thực hiện các chương trình đã được
hoạch định trong năm kế hoạch. Thực chất của khâu chấp hành dự toán chi là
tổ chức việc sử dung kinh phí sao cho tiết kiệm và hiệu quả cao.
Để đạt được mục đích đó, trong việc chấp hành dự toán chi cần phải
thực hiện các yêu cầu và nội dung cơ bản sau:

Chuyên đề cuối khoá
- Số liệu trong các báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực.
Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán
được duyệt và theo đúng mục lục ngân sách đã quy định.
- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp và của ngân
sách các cấp chính quyền trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phê chuẩn, phải có xác nhận của KBNN đồng cấp và phải được cơ quan nhà
nước kiểm tra.
- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình
trạng quyết toán chi lớn hơn thu.
Chỉ một khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết
toán chi cho y tế mới được tiến hành thuận lợi. Đồng thời, các yêu cầu này
mới tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự
toán một cách chính xác, trung thực và khách quan.
Các loại báo cáo năm ở đơn vị sự nghiệp y tế:
Cuối mỗi kỳ báo cáo, các đơn vị dự toán phải lập các loại báo cáo quyết
toán sau:
+ Bảng cân đối tài khoản - Mẫu B01- H.
+ Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng-Mẫu
B02 - H.
+ Chi tiết kinh phí chi hoạt động đề nghị quyết toán - phụ biểu F02 -
1H.
+ Bảng đối chiếu hạn mức kinh phí - phụ biểu F02 - 3H.
+ Báo cáo tình hình tăng, giảm tài sản cố định - Mẫu B03 - H.
+ Báo cáo kết quả hoạt động sự nghiệp có thu - Mẫu B04 - H.
+ Thuyết minh báo cáo tài chính - Mẫu B05 - H.
Chính vì vậy, hiệu quả của việc quản lý sử dụng kinh phí cho sự nghiệp
y tế không chỉ được xem xét trên giác độ, mức độ, phạm vi, cơ cấu, nội dung
chi mà còn xem xét đến cả quy trình quản lý chi. Một quy trình quản lý chi
hợp lý, có khoa học sẽ góp phần tăng cường quản lý chi cho sự nghiệp y tế.

hưởng.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi
thường xuyên được nhìn nhận trên các giác độ sau:
Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch nhất thiết
phải xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt
của các cơ quan quyền lực Nhà nước từ thấp đến cao, quyết định cuối cùng
cho dự toán chi thường xuyên của NSNN thuộc về Quốc hội. Chỉ sau khi dự
toán chi đã được Quốc hội xét duyệt và thông qua mới trở thành căn cứ chính
thức để phân bổ số chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp. Do vậy, có thể
nói quyết định của Quốc hội về việc thông qua dự toán NSNN (trong đó có dự
toán chi NSNN) như là một trong những “Đạo luật” điều chỉnh đến hoạt động
của lĩnh vực này. Vì thế các ngành, các cấp, các đơn vị phải có trách nhiệm
chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ tiêu thuộc dự toán chi thường xuyên đã được
Quốc hội thông qua.
Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên, đơn vị sự
nghiệp y tế phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt, phân bổ và sử
dụng cho các khoản, các mục đó, phải hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã
quy định.
Định kỳ theo chế độ quyết toán kinh phí đã quy định các đơn vị sự
nghiệp y tế khi phân tích đánh giá kết quả thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy
dự toán làm căn cứ đối chiếu so sánh. Muốn vậy, dự toán chi đã được xác lập
theo các chỉ tiêu nào, theo khoản, mục nào thì quyết toán chi cũng phải được
lập như vậy.
1.4.2. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.
Có thể nói tiết kiệm và hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan
trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi một lẽ đơn giản rằng:
Nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì vô hạn. Do vậy, trong
quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó luôn phải tính toán

lý quỹ NSNN. Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm
soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN. Để tăng cường vai trò của KBNN trong
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
kiểm soát chi thường xuyên của NSNN, hiện nay ở nước ta đã và đang triển
khai việc chi trực tiếp qua KBNN như là một nguyên tắc trong quản lý khoản
chi này.
Để thực hiện được nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN cần phải giải
quyết tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tất cả các khoản chi phải được kiểm tra kiểm soát trước,
trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi có trong dự toán,
đã được phê duyệt, đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền quy định đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí chuẩn
chi.
Thư hai, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án,... Sử dụng kinh phí
phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài
chính, KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh
toán, hạch toán và quyết toán.
Thứ ba, cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định dự toán và
thông báo hạn mức kinh phí quý cho các đơn vị sử dụng ngân sách, kiểm tra
việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp
quyết toán chi.
Thứ tư, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện
chi và cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi theo đúng quy định, tham
gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền trong
việc kiểm tra tình hình sử dụng kinh phí và xác nhận số thực chi qua Kho bạc
của các đơn vị.
Thứ năm, lựa chọn phương thức cấp phát, thanh toán đối với từng
khoản chi thường xuyên cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện tại.
Cụ thể, phương thức cấp phát, thanh toán các khoản tiền lương và có

- Ở nước ta, trong cơ chế thị trường hiện nay việc tìm ra một mô hình
quản lý để sử dụng kinh phí một cách phù hợp là môt việc rất quan trọng, bởi
vì bệnh viện đang đứng trước nhiều thách thức:
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
+ Kinh phí nhà nước cấp cho lĩnh vực khám, chữa bệnh còn thấp, chưa
đáp ứng nhu cầu, giải pháp thu một phần viện phí còn tồn tại.
+ Tính nhân đạo y tế trong kinh tế thị trường bị ảnh hưởng.
+ Làm thế nào để vừa phát triển y tế phổ cấp vừa phát triển y tế chuyên
sâu.
+ Khám, chữa bệnh cho người nghèo: Nhà nước có chủ chương, các địa
phương không có nguồn kinh phí. Người nghèo khó tiếp cận với kỹ thuật cao.
+ Hệ thống Bảo hiểm Y tế bắt buộc trên 10%, chưa bao chùm cả nước,
mệnh giá thấp với chi phí, an toàn quỹ khó khăn.
+ Mất cân đối giữa cán bộ y tế giữa các tuyến: trung ương – tỉnh -
huyện.
+ Thiếu cán bộ đầu ngành ở Trung ương, ở Tỉnh nên sảy ra tình trạng
người bệnh vượt tuyến. Tình trạng dưới tải ở xa, quá tải ở Bệnh viện Trung
ương đang được khắc phục.
+ Năng lực quản lý của cán bộ còn hạn chế nhất là về quản lý kinh tế
chưa đáp ứng với nhu cầu trong kinh tế thị trường.
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ Ở
BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH CHUNG CỦA BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Bệnh Viện Nhi
Trung Ương.
Bệnh viện Nhi Trung Ương được thành lập từ năm 1969 với tên gọi là

Nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ và các cấp cơ sở đã được tiến hành hàng
năm.
- Kết hợp với bộ môn nhi trường đại học Y Khoa Hà Nội đào tạo sinh
viên nhi khoa, bác sĩ chuyên khoa cấp một, cấp hai, thạc sĩ, tiến sĩ nhi khoa.
Kết hợp với các trung tâm nhi khoa quốc tế hàng năm tiến hành từ 20 đến 25
lớp đào tạo, lớp đào tạo cấp nhật kiến thức nhi khoa cho bác sĩ nhi và y tá nhi
trong cả nước.
* Chỉ đạo chuyên khoa:
- Là cơ quan đầu ngành nhi khoa, Bệnh viện đã tập trung chỉ đạo ngành
theo phương hướng chăm sóc sức khỏe ban đầu và nâng cao chất lượng chuẩn
đoán và điều trị. Trong những năm gần đây Bệnh viện tập trung chỉ đạo nâng
cao chất lượng của hệ thống cấp cứu và phấn đấu giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ
sinh.
* Hoạt động giáo dục sức khoẻ:
- Giáo dục kiến thức nuôi con, phòng bệnh, phát hiện sớm cho bố mẹ
đã được Bệnh Viện tiến hành bằng nhiều hình thức: Các buổi nói chuyện, viết
báo, trình bày các chuyên đề trên vô tuyến truyền hình.
* Hợp tác quốc tế:
- Hiện này Bệnh Viện có các quan hệ hợp tác JICA Nhật Bản, Bệnh
viện trẻ em Hoàng gia Melburne, Hội hữu nghị Thuỵ Điển, Tổ chức cựu chiến
binh Mỹ, Tổ chức ReI Hoa Kỳ, Tổ chức Vietnam Project Hoa Kỳ,…
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02
Chuyên đề cuối khoá
2.1.2. Tổ chức bộ máy của Bệnh viện Nhi Trung Ương.
Bệnh viện Nhi Trung Ương từ chỗ chỉ là một cơ sở từ thiện để khám
chữa bệnh cho trẻ em với hệ thống khoa phòng hết sức đơn sơ. Sau hơn 36
năm hình thành và phát triển cùng với sự phát triển đi lên của đất nước. Bệnh
viện đã phát triển nhanh chóng với nhiều chuyên khoa kỹ thuật cao, chữa
được nhiều bệnh hiểm nghèo hơn, hoạt động phong phú với hệ thống nhiều
khoa phòng. Mô hình của bệnh viện đã biến đổi nhiều, các khoa phòng ngày

ĐOÁN HA
KHOA TIẾT
CHẾ
PHÒNG KẾ
HOẠCH
KHOA PHẪU
THUẬT -
HSCC
KHOA
HUYẾT HỌC
KHOA DƯỢC
PHÒNG HC-
QUẢN TRỊ
KHOA TIM
MẠCH
KHOA CẤP
CỨU
KHOA TIÊU
HOÁ
KHOA
TRUYỀN
MÁU
KHOA
CHỐNG
NHIỂM K
PHÒNG CHỈ
ĐẠO TUYẾN
KHOA PHỤC
HỒI CHỨC
NĂNG

KHÁM
CHUYÊN K
KHOA
NGOẠI
PHÒNG
VẬT TƯ
TBYT
PHÒNG
KỸ
THUẬT
Chuyên đề cuối khoá
Trong đó:
- Ban Giám đốc gồm có 4 người
+ Giám đốc điều hành toàn bộ bệnh viện (1người)
+ Các phó giám đốc được giám đốc phân công phụ trách các lĩnh
vực như: Kế hoạch, chuyên môn, tổ chức cán bộ, tài chính, xây dựng
bệnh viện. (gồm 3 người).
- Khu vực chuyên môn chịu trách nhiệm về công tác khám chữa bệnh,
gồm có:
+ Khối lâm sàng có tới 20 khoa, phòng.
+ Khối cận lâm sàng gồm 7 khoa.
- Khu vực kỹ thuật đảm bảo cho hệ thống máy móc, trang thiết bị của
Bệnh viện được vận hành tốt, gồm có hai phòng chính là phòng kỹ thuật và
phòng vật tư thiết bị y tế.
- Khu vực hành chịu trách nhiệm về tài chính của bệnh viện, khu vực
này gồm có: phòng tổ chức cán bộ; phòng kế hoạch; phòng hành chính quản
trị; phòng tài chính kế toán; phòng chỉ đạo tuyến; phòng y tá.
- Phòng tài chính kế toán (nơi em thực tập) có 25 người.
+ Trưởng phòng kế toán: 1
+ Phó phòng kế toán: 2

Giám đốc, Ban chấp hành Công đoàn và các đoàn thể của Bệnh viện luôn có
sự thống nhất cao trong mọi hoạt động.
2.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG KINH PHÍ CHO HOẠT ĐỘNG SỰ NGHIỆP
Ở BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG TRONG NHỮNG NĂM QUA.
2.2.1. Công tác kế hoạch hoá nguồn vốn và quản lý nguồn vốn.
Trong điều kiện hiện nay, nguồn vốn đầu tư cho Bệnh viện Nhi Trung
Ương ngày càng đa dạng và phong phú, trong đó có các nguồn chính như sau:
- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước cấp.
- Nguồn vốn từ viện trợ nước ngoài.
- Nguồn thu khác (Từ dịch vụ, bảo hiểm y tế).
SV: Đàm Thanh Tùng Lớp: K39 – 01.02


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status