1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU THỦY
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG MỘT SỐ
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THUỐC Ở KHU VỰC
PHÍA BẮC HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
Hà Nội, năm 2009
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Nguyễn Thanh Hương cùng
toàn bộ các thầy cô trong Bộ môn Quản lý Kinh tế Dược, Trường Đại học
Dược Hà Nội, đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu trong suốt quá trình
tiến hành đề tài nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cám ơn các cán bộ tại Cục Quản lý Dược, các cán bộ
thuộc Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại
của thuốc, các cán bộ y tế tại các bệnh viện mà tôi khảo sát, đã nhiệt tình
giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập số liệu.
Với tình cảm yêu thương và sự kính trọng sâu sắc, tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn to lớn đến những người thân yêu trong gia đinh, đặc biệt là bố mẹ và
chồng tôi, người đã chia sẻ, giúp đỡ và động viên tôi những lúc khó khăn
trong suốt quá trình làm đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi đến những người mà tôi yêu thương và kính trọng
lời chúc Sức khoẻ - An khang – Thành đạt !
Hà nội, ngày 30 tháng 12 năm 2009
Nguyễn Thị Thu Thuỷ
4
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
13
1.1. THÔNG TIN
13
1.1.1. Khái niệm 13
1.1.2. Vai trò 13
1.2. THÔNG TIN THUỐC
14
39
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
39
2.3. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU.
39
5
2.4. PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
40
2.5. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU.
41
2.6. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU.
41
2.7. THỜI GIAN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU:
41
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
41
3.1. KHẢO SÁT HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THUỐC, PHẢN ỨNG BẤT LỢI
CỦA THUỐC CỦA CÁN BỘ Y TẾ:
41
3.1.1. Nhận thức và hoạt động thông tin thuốc của cán bộ y tế: 42
3.1.2. Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng thông tin thuốc. 54
3.1.3. Nhu cầu thông tin thuốc của các cán bộ y tế. 59
3.1.4. Một số nội dung hoạt động báo cáo ADR: 63
3.2 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN THUỐC VÀ PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA
THUỐC TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN.
68
3.2.1.Các hoạt động về thông tin thuốc của khoa Dược bệnh viện. 68
3.2.2: Các hoạt động ADR 75
CHƯƠNG 4 : BÀN LUẬN
81
ĐH
ĐV TTT
HĐT &
ĐT
TTT
TW
VN
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
Bảng 3.6: Địa điểm cán bộ y tế thường tra cứu TTT. 37
Bảng 3.7: Các hình thức cập nhật thông tin của CBYT 39
Bảng 3.8: Nguồn sách tra cứu TTT của cán bộ y tế 41
Bảng 3.9: Các website CBYT thường sử dụng 42
Bảng 3.10: Tỷ lệ cán bộ y tế tham dự hội thảo, báo cáo khoa học về sử
dụng thuốc
44
Bảng 3.11: Tỷ lệ cán bộ tham gia tập huấn tìm kiếm thông tin thuốc 45
Bảng 3.12: Mức độ chủ động tìm kiếm TTT của CBYT 46
Bảng 3.13: Những khó khăn CBYT gặp phải khi tìm kiếm thông tin 47
Bảng 3.14: Phương thức tra cứu thông tin tạo thuận lợi cho CBYT tìm
kiếm
49
Bảng 3.15: Những thuận lợi mà CBYT thu được khi tra cứu TT trên
mạng
50
Bảng 3.16: Những khó khăn mà CBYT gặp phải khi tra cứu TT trên
mạng
51
Bảng 3.17: Đánh giá của CBYT về mức độ cần thiết của TTT 53
Bảng 3.18: Mức độ đáp ứng của thông tin thuốc mà CBYT tự tìm kiếm 54
Bảng 3.19: Những nội dung TTT mà CBYT cần 55
Bảng 3.20: Tỉ lệ CBYT đã biết đến khái niệm ADR 57
Bảng 3.21: Quan điểm của CBYT về ADR 58
Bảng 3.22: Những phương tiện giúp CBYT biết đến khái niệm ADR 59
Bảng 3.23: Những nguyên nhân khiến số lượng báo cáo ADR còn thấp 60
Bảng 3.24: Đánh giá của CBYT về mức độ cần thiết của Trung tâm 62
8
Quốc gia về TTT
Bảng 3.25: Tỉ lệ các bệnh viện đã thành lập đơn vị TTT 63
9
DANH MỤC HÌNH TÊN HÌNH
TRANG
Hình 1.1: Trình tự báo cáo trong hệ thống y tế 5
Hình 1.2: Thông tin phản hồi xuống tuyến dưới 5
Hình 1.3: Sơ đồ vị trí của TTT 6
Hình 1.4: Qui trình trả lời yêu cầu thông tin thuốc 8
Hình 1.5: Sơ đồ quá trình thu thập, tiếp nhận và xử lý báo cáo ADR 24
Hình 1.6: Vị trí của trung tâm và mối quan hệ với các đơn vị y tế khác 25
Hình 1.7: Nhiệm vụ của trung tâm quốc gia về TTT và ADR 26
Hình 1.8: Sơ đồ hoạt động thông tin Y Dược học của các cơ quan trực
thuộc Bộ Y tế
29
Hình 2.9: Sơ đồ phương pháp nghiên cứu 31
Hình 3.10: Những nội dung quan trọng của TTT mà CBYT quan tâm 35
Hình 3.11: Mục đích sử dụng TTT của CBYT 36
Hình 3.12: Địa điểm cán bộ y tế thường tra cứu TTT 38
Hình 3.13: Các hình thức cập nhật thông tin của CBYT 40
Hình 3.34: Các hình thức Đơn vị TTT thông báo báo cáo ADR đến các
khoa
71
Hình 3.35: Thời gian để khoa Dược xử lý một báo cáo ADR 73 11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong kỷ nguyên công nghệ thông tin hiện nay, thông tin đóng một vai trò
quan trọng trong sự phát triển của nhân loại. Trong đó, thông tin thuốc giữ một vai
trò đặc biệt cấp thiết bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến yếu tố kinh tế mà nó còn ảnh
hưởng rất lớn đến sức khỏe và tính mạng của người dân. Thực hiện tốt công tác
thông tin thuốc không chỉ giúp tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh mà còn giúp nâng
cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân, đảm bảo thực hiện
đúng phương châm mà ngành Dược đã đề ra “Sử dụng thuốc an toàn – hợp lý –
kinh tế ”.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thông tin thuốc, từ năm 1998,
Bộ Y tế đã tổ chức thí điểm mô hình hoạt động đơn vị Thông tin thuốc tại 4 bệnh
viện lớn là Bạch Mai, Trung ương Huế, Chợ Rẫy, Nhi Đồng 1 TP Hồ Chí Minh,
nhằm rút kinh nghiệm cho các bệnh viện khác trong cả nước khi mô hình này được
áp dụng đại trà. Với những kết quả thu được, vào ngày 13/11/2003, Bộ Y tế đã có
Công văn số 10766/YT-ĐTr hướng dẫn tổ chức, hoạt động của đơn vị Thông tin
Thuốc trong bệnh viện đến các bệnh viện trong cả nước. Công văn này đã giúp định
hướng và thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thông tin thuốc còn khá mới mẻ ở
nước ta.
Trong vòng 6 năm kể từ khi Công văn số 10766/YT-ĐTr được ban hành đến
nay, hoạt động thông tin thuốc ở nước ta đã có sự thay đổi và phát triển đáng kể.
Tuy nhiên, nhiều nơi vẫn gặp khó khăn, lúng túng khi tiến hành thành lập và duy trì
hoạt động của đơn vị Thông tin thuốc. Do đó, việc tìm hiểu tình hình hoạt động 13
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. THÔNG TIN
1.1.1. Khái niệm
Thông tin là những số liệu có tính chất thống kê, hoặc là tin tức, diễn biến
biểu hiện tình hình mới luôn luôn biến động trong một quá trình.Thông tin gồm có
dữ liệu hay một tập hợp dữ liệu đã được định dạng, tính toán, sắp xếp và trình bày
cho một mục đích cụ thể [4;28].
Theo từ điển Oxford English Dictionary, “Thông tin là điều người ta đánh
giá hoặc nói đến, là tri thức” “Tin tức là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sức
mạnh của con người”.
Thông tin có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau. Theo giá trị thông tin
được chia làm ba cấp:
+ Thông tin cấp 1: Là những thông tin chưa qua xử lý, đánh giá một cách
đấy đủ.
+ Thông tin cấp 2: Là những thông tin đã qua xử lý, đánh giá và được lưu
hành, công bố rộng rãi, báo cáo rộng khắp.
+ Thông tin cấp 3: Là những thông tin có tính chất kinh điển, những thông
tin này được coi là những tài liệu gốc, căn cứ vào nó để có thể có được các thông tin
cấp 2 và cấp 3 [3]
1.1.2. Vai trò
“Thông tin có lẽ là công cụ mạnh nhất của con người, công cụ mở ra những khả
hoặc để phản hồi xuống tuyến dưới.
Thông tin được sử dụng để báo cáo cho cấp cao hơn (sơ đồ trang bên)[29]
15
Hình 1.1: Trình tự báo cáo trong hệ thống y tế
Nhân viên y tế thu thập thông tin, báo cáo bộ phận phụ trách của mình, các
bộ phận chuyển lên bộ phận thông tin để xử lý, báo cáo lãnh đạo theo trình tự.
Thông tin phản hồi xuống tuyến dưới: [29]
Hình 1.2: Thông tin phản hồi xuống tuyến dưới
1.2.4. Hệ thống thông tin thuốc toàn diện: [19]
Cục quản lý Dược phối hợp với Trung tâm Quốc gia về TTT và Theo dõi
phản ứng có hại của thuốc đang cố gắng xây dựng một hệ thống TTT toàn diện
BỘ Y TẾ
SỞ Y TẾ
Giám đốc đơn vị
Bộ phận xử lí thông tin của các đơn vị
Các bộ phận
Nhân viên y tế
Giám đốc đơn vị
Các bộ phận
Nhân viên y tế
16
nhằm đảm bảo an toàn thuốc ở Việt Nam. Trong đó cần có sự phối hợp của tất cả
các cơ quan y tế: từ các cơ quan quản lý, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, đến các
viện nghiên cứu, bệnh viện… để theo dõi và quản lý tất cả các thông tin về thuốc.
Việt Nam đang được sự hỗ trợ của tổ chức Khoa học quản lý sức khoẻ
phụ không
được biết
Sản phẩm
Sai sót
kém chất trong điều
lượng Cộng trị
đồng
Hình thành dấu hiệu
Đánh giá dấu hiệu
Quản lý rủi ro
Hình 1.3: Hệ thống thông tin thuốc toàn diện
WHO
Các sáng kiến toàn cầu
Các thể chế hỗ trợ tài chính
Các cơ quan hỗ trợ
Các nhà tài trợ Các nhà sản xuất Cục quản lý Dược
Nhà nhập khẩu Cục quản lý khám
chữa bệnh
Các cơ sở bán buôn
Trung tâm DI-ADR quốc
Các bệnh viện gia và khu vực
Các phòng khám Cơ quan kiểm nghiệm
- Thu thập các thông tin cơ bản có liên quan từ người yêu cầu thông tin.
- Xác định và phân loại yêu cầu cơ bản của khách hàng
- Tìm kiếm thông tin
- Đánh giá, phân tích, tổng hợp thông tin
- Trả lời thông tin [1]
Năm 2003, Bộ Y tế ban hành văn bản hướng dẫn việc tổ chức thực hiện đơn
vị thông tin thuốc ở bệnh viện. Trong đó hoạt động TTT được mô hình hoá như sau:
Tóm tắt qui trình xử lí thông tin thuốc của đơn vị TTT
[5]
:
18Hình 1.4: Qui trình trả lời yêu cầu thông tin thuốc
1.3.4. Hậu quả do thiếu thông tin thuốc :
Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt có vai trò quan trọng trong chăm sóc và
bảo vệ sức khoẻ con người. Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật trong
vài thập kỷ qua, hàng nghìn loại thuốc mới được đưa vào sử dụng và mỗi năm lại có
thêm hàng chục loại thuốc mới được phát minh ra. Các loại thuốc này đã tác động
tới cuộc sống của hàng triệu người. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích không thể
Yêu cầu thông tin (dạng câu hỏi)
Không giải quyết
Đồng ý giải quyết
Nếu nắm chắc yêu cầu
Không nắm chắc yêu cầu
Qui định cách trả lời
nghiệm thuốc. Thalidomid được sử dụng điều trị tình trạng nghén cho phụ nữ có
thai. Khi phát hiện những dị tật ở trẻ sơ sinh thì thuốc đã được sử dụng trên khắp
Châu Âu, gây hại cho 15.000 thai nhi: 12.000 trẻ sơ sinh dị tật và một nửa trong số
đó bị chết khi chưa tròn một tuổi.
- Năm 1982, benoxaprofen dùng để điều trị viêm khớp đã gây tử vong cho
rất nhiều người. Chỉ riêng ở Anh đã có 60 ca tử vong và 3500 trường hợp tai biến
nặng.
- Gần đây, việc rút khỏi thị trường của Vioxx (Rofecoxib) do làm tăng nguy
cơ tử vong ở những bệnh nhân có tiền sử tim mạch càng cho thấy tính chất hai mặt
của thuốc [7].
1.3. PHẢN ỨNG BẤT LỢI CỦA THUỐC (ADVERSE DRUG REACTION -
ADR)
Thuốc là con dao 2 lưỡi. Bên cạnh những lợi ích to lớn trong phòng ngừa và
điều trị bệnh, bản thân thuốc cũng có thể gây ra những phản ứng bất lợi, những
bệnh lý nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong cho người dùng thuốc. Với sự ra đời
nhanh chóng của nhiều sản phẩm thuốc mới, ADR ngày càng trở thành một vấn đề
đáng quan tâm bởi nó ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc của các thầy thuốc trên
lâm sàng.
Tại Mỹ, tử vong do thuốc đứng hàng thứ 4, sau các bệnh lý tim mạch, ung
thư và đột quị. Tỷ lệ nhập viện do ADR ở Mỹ là khoảng 5% và ở một số nước là
khoảng trên 10% như Nauy 11,5%, Pháp 13%, Anh 16,0%
20
Về nguyên tắc, tất cả các thuốc đều có thể gây ra các phản ứng bất lợi cho
người dùng nhưng trong đó, một số nhóm thuốc thường gây ra ADR hơn cả là :
nhóm kháng sinh, nhóm thuốc chống đông máu, nhóm thuốc chống co giật, các
thuốc tim mạch, hô hấp và thuốc giảm đau…
Theo ước tính, chi phí để điều trị các ADR và những bệnh lý do thuốc gây ra
rất lớn. Một số nước phải chi tới 15-20% ngân sách bệnh viện để giải quyết những
tai biến do thuốc. Do vậy, sử dụng thuốc hợp lý, phòng ngừa, xử trí và báo cáo sớm
các ADR sẽ nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân, giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử
trở thành một phần trong trách nhiệm chuyên môn của họ, ngay cả khi ADR bị nghi
ngờ chưa có mối quan hệ rõ ràng với việc điều trị.
Cách báo cáo về phản ứng bất lợi của thuốc:
- Thông tin về bệnh nhân
- Thông tin về phản ứng bất lợi hoặc sự cố bất lợi của thuốc hay các vấn đề về dược
phẩm
- Thông tin về dược phẩm bị nghi ngờ.
- Thông tin về người báo cáo.[1]
Mẫu báo cáo ADR theo quy định trong công văn số 2224/QLD-TT của Bộ Y
tế và Cục Quản lý Dược ban hành ngày 11/3/2009. (Phụ lục 3)
1.4. TÌNH HÌNH THÔNG TIN THUỐC VÀ ADR HIỆN NAY TRÊN THẾ
GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM.
1.4.1. Tình hình thông tin thuốc và ADR trên thế giới:
Năm 1962, Trung tâm TTT đầu tiên được thành lập tại trung tâm Y tế của
trường đại học Kentucky-Mỹ. Nó là một bộ phận được tách ra từ khoa Dược để làm
nhiệm vụ cung cấp thông tin thuốc. Sau đó, mô hình này được lan rộng và hoàn
thiện dần không chỉ ở Mỹ mà còn ở các nước có nền y tế phát triển khác. Sang thập
kỉ 70, tại nhiều nước đã hình thành hệ thống các trung tâm TTT từ trung ương đến
địa phương. Tại Anh, trung tâm TTT đầu tiên được thành lập năm 1969 tại bệnh
viện London và bệnh viện đa khoa Leeds. Đến cuối thập niên 70, các trung tâm
TTT đã được hình thành ở hầu hết các bệnh viện đa khoa địa phương.
Đa phần các trung tâm TTT được đặt tại các bệnh viện và các trung tâm y tế,
chỉ một phần nhỏ đặt tại các trường đại học Dược. Tuy nhiên phần lớn các trung
tâm đều có liên hệ với các trường đại học Dược với mục đích đào tạo. Ví dụ theo
một khảo sát tại Mỹ năm 1992, 80% các trung tâm TTT đặt tại các bệnh viện và
22
trung tâm y tế, trong đó 75% có liên kết với trường Dược và khoảng 50% các trung
tâm là cơ sở thực hành cho sinh viên Dược.
Cùng với thời gian, qui mô của trung tâm TTT ngày càng phát triển, đối
tượng phục vụ ngày càng đa dạng và chất lượng thông tin ngày càng được nâng cao.
về trung tâm TTT hàng năm tăng dần: khoảng 64% trung tâm nhận được hơn 100
câu hỏi hàng tháng, trong đó 28% nhận được hơn 200 câu hỏi hàng tháng. Các câu
hỏi gửi về trung tâm TTT cũng rất đa dạng: nhiều nhất là câu hỏi về chẩn đoán và
sử dụng thuốc chiếm 17%, ADR và tác dụng phụ chiếm 16,2%, đặc tính của thuốc:
14,3% và liều dùng 10%. Phần lớn các câu hỏi được gửi về trung tâm TTT bằng
điện thoại: 84%.[23]
Một nghiên cứu được tiến hành để đánh giá hoạt động của trung tâm TTT
Brazil năm 2000 cho thấy trung tâm nhận được khoảng 850 câu hỏi một năm. Trong
đó chủ yếu là từ bệnh viện chiếm 32,7 %, từ các dược sĩ trong cộng đồng chiếm
19%. Các câu hỏi liên quan đến nhận dạng và chỉ định thuốc: chiếm 22,4%, ADR
chiếm 7%, dược lâm sàng 7%. Trong số gần 450 thuốc được hỏi, nhiều nhất là về
dinh dưỡng và chuyển hóa chiếm 19,6%, chống lây nhiễm 18,6%, hệ thần kinh
17,1% [24].
Năm 2004, một nghiên cứu được tiến hành tại Estonia – một quốc gia nằm ở
khu vực Bắc Âu với mục đích xác định các nguồn lực thông tin thuốc hiện tại và
nhận thức về nhu cầu thông tin thuốc giữa các bác sĩ và dược sĩ ở Estonia. Khoảng
2000 phiếu được gửi đi, thu lại 457 phiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy những
thông tin thuốc được quan tâm nhiều nhất là: Dược động học, chỉ định, liều, chống
chỉ định. Trong đó có hơn 65 % những người được hỏi cho là những nội dung này
rất quan trọng hoặc quan trọng. Những thông tin thuốc được cho là khó tìm nhất là:
sử dụng thuốc cho người cao tuổi, người đang mang thai và cho con bú, tương tác
thuốc. Nguồn tìm kiếm thông tin thuốc chính là: Pharmaca Estica, sách giáo khoa
chuyên ngành, tạp chí dược học,…. Cách tiếp cận thông tin được ưa thích nhất từ
trung tâm thông tin thuốc là qua điện thoại và Email. Hầu hết các cán bộ Y tế được
hỏi mong muốn Estonia sớm thành lập Trung tâm Thông tin thuốc Quốc gia [21]
1.4.2. Thông tin thuốc và ADR tại Việt Nam
1.4.2.1. Thông tin thuốc tại Việt Nam:
Năm 1994, được sự hỗ trợ của Tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision -
Australia) (1992-1994) về trang thiết bị, cơ sở dữ liệu, Trung tâm Thông tin Thuốc
Trường Đại học Dược Hà Nội – Trung tâm Thông tin Thuốc đầu tiên của Việt Nam
mở ra. Hiện nay, ngoài trung tâm Thông tin thuốc quốc gia đặt tại trường đại học
Dược Hà Nội, nước ta còn có một số trung tâm thông tin thuốc khác như :
- Thư viện Y học Trung ương
- Thư viện trường Đại học Dược Hà Nội.
25
- Trung tâm ADR – Thông tin thuốc phía Nam.
- Hệ thống các đơn vị Thông tin thuốc tại các bệnh viện
- ……………………………
Tuy nhiên, các trung tâm này hoạt động còn mang tính riêng lẻ, tính chuyên
môn hoá chưa cao, nhiều khi mới chỉ dừng lại ở mức độ thu thập tài liệu có liên
quan, chưa thực hiện được kĩ năng đánh giá – phân tích – tổng hợp thông tin. Đồng
thời, trong chương trình đào tạo dược sĩ trong và sau đại học, những kiến thức và
kỹ năng về Thông tin thuốc chỉ chiếm một thời lượng rất ít. Chính vì vậy, các dược
sĩ làm việc tại các đơn vị này cũng chưa hoàn toàn đảm đương được trách nhiệm là
các chuyên gia về thông tin thuốc.[1]
Nắm bắt nhu cầu về thông tin thuốc của cán bộ y tế, Trung tâm quốc gia về
TTT và ADR đã được thành lập vào tháng 3 năm 2009. Trung tâm TTT quốc gia
hứa hẹn sẽ trở thành đơn vị cung cấp và thu thập thông tin một cách chính xác và
đầy đủ nhất đáp ứng nhu cầu của các cán bộ y tế.
1.4.2.2. Công tác ADR tại Việt Nam:
Công tác theo dõi ADR tại Việt Nam bắt đầu được thực hiện từ năm 1996
với việc thành lập Trung tâm theo dõi ADR ở Hà Nội và Trung tâm Thông tin thuốc
và theo dõi ADR tại thành phố Hồ Chí Minh. Hai Trung tâm này thành lập và hoạt
động dựa vào nguồn kinh phí tài trợ từ tổ chức Hợp tác Y tế Việt Nam - Thuỵ điển
(Sida). Hoạt động của các trung tâm này hiện nay còn khá mờ nhạt, chưa có một sự
định hướng và phát triển lâu dài.
Nhìn chung, Việt Nam chưa xây dựng và phát triển được mạng lưới thông tin
thuốc – ADR rộng khắp. Các trung tâm TTT – và ADR hiện nay hoạt động riêng lẻ,
chưa có sự phối hợp chặt chẽ hoạt động giữa các trung tâm. Kinh phí của nhà nước
đầu tư cho hệ thống TTT – ADR còn thấp nên chưa đủ để phát triển thành một