Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Than khoáng sản là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản quý
giá của quốc gia, đấy là nguồn lợi thiên nhiên ban tặng cho các quốc gia. Đối
với Việt Nam, Than khoáng sản có một vai trò hết sức quan trọng trong việc
khai thác, sử dụng và tiến hành xuất khẩu. Hàng năm, hoạt động xuất khẩu
Than khoáng sản của Việt Nam đã thu về một nguồn lợi lớn cho quốc gia, là
một trong những nhóm ngành có tỷ trọng đóng góp GDP lớn nhất của đất
nước. Ngành Than khoáng sản được coi là ngành công nghiệp hạ tầng của các
ngành công nghiệp quan trọng khác khi mà cung cấp đầu vào cho các ngành
về hóa chất, xi măng, điện và phân bón… Sự phát triển của ngành Than
khoáng sản của Việt Nam gắn liền với sự phát triển của các ngành nghề khác
trong tổng thể nền kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản vẫn đang được tiến hành đều
đặn trong thời gian qua, nhưng có những vấn đề được đặt ra bên cạnh hoạt
động xuất khẩu đó như chất lượng hàng hóa, hàm lượng công nghệ chưa trong
sản phẩm, giá thành hàng hóa trên thị trường, thị trường xuất khẩu và quan
trọng là phải đặt hoạt động xuất khẩu đó trong chiến lược phát triển kinh tế và
an ninh năng lượng của quốc gia, với những mục tiêu cụ thể là thu được giá
trị lớn nhất từ hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản. Với tầm quan trọng và
tính thời sự đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hoạt động xuất
khẩuThan khoáng sản Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay”
Mục đích nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản của
Việt Nam để có cái nhìn tổng quan về ngành Than khoáng sản Việt Nam, thực
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trạng hoạt động xuất khẩu từ đấy có được những giải pháp hợp lý nhằm thu
được lợi nhuận lớn nhất từ hoạt động xuất khẩu trên cơ sở đảm bảo an ninh
năng lượng quốc gia trong hiện tại và tương lai.

Tổng quan chung về Than khoáng sản Việt Nam
1.1. Than khoáng sản và lịch sử ngành Than khoáng sản Việt Nam
1.1.1. Than khoáng sản
Than khoáng sản là một trong những tài nguyên khoáng sản trong lòng
đất của quốc gia, cùng với các loại khoáng sản khác như: Đồng, chì, kẽm,
thiếc…đã tạo thành một nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng phong phú và
có giá trị của Việt Nam.
Than khoáng sản là một trong những loại nhiên liệu hóa thạch được
hình thành ở các hệ sinh thái đầm lầy, các xác cây cối thực vật được nước
và bùn lưu giữ khỏi bị oxi hóa và phân hủy bởi sinh vật mà hình thành
nên Than đá ngày nay. Thành phần chính của Than khoáng sản là chất
Cacbon, ngoài ra còn có các chất khác như lưu huỳnh, nên Than có tính
năng là đốt cháy tốt và sinh ra lượng nhiệt lớn, vì vậy Than khoáng sản là
nguồn nguyên liệu sản xuất điện năng lớn nhất thế giới. Hiện nay, lượng
Than được khai thác trên thế giới và Việt Nam được sử dụng trong các
ngành năng lượng, phục vụ sản xuất nhà máy nhiệt điện và các ngành
công nghiệp sử dụng chất đốt… Than đang được khai thác từ các mỏ Than
lộ thiên hay các hầm lò nằm sâu dưới lòng đất.
Ngày nay, với trình độ công nghệ hiện đại, công tác thăm dò và
khai thác đã giúp con người phát hiện ra nhiều tài nguyên khoáng sản có
giá trị đồng thời khai thác có hiệu quả hơn đối với nguồn tài sản quốc gia
này. Việt Nam được đánh giá là có nguồn dự trữ Than đá đáng kể và có
giá trị về mặt kinh tế, trong tài nguyên về khoáng sản thì Than đá là
nguồn tài nguyên có trữ lượng và hiệu quả kinh tế lớn nhất. Theo Cơ quan
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Năng lượng quốc tế thì trữ lượng Than hiện nay trên thế giới rất lớn,
khoảng 910 tỷ tấn, đủ cho sản xuất trong 155 năm với tốc độ như hiện nay
và nếu như không có sự đột biến nào thì nhu cầu sử dụng Than trên thế
giới sẽ tăng gấp 3 lần từ nay đến năm 2050. Theo các cuộc thăm dò và

tập trung tại các khu mỏ, việc đầu tư trang thiết bị, máy móc tại các hầm mỏ
nên sản lượng khai thác và tiêu thụ đã được phản ánh qua kết quả kinh doanh
của ngành.
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất và kinh doanh Than khoáng sản của
Việt Nam trong giai đoạn 1985 – 1988
(Đơn vị: 1000 tấn)
1985 1986 1987 1988
Than nguyên khai 6295 6855 7690 7605
Than tiêu thụ 5689 6120 6340 5657
- Xuất khẩu 640 620 201 314
- Tiêu thụ nội địa 5049 5500 6139 5343
(Nguồn: Số liệu lịch sử ngành Than – Bộ Năng lượng)
Cho đến những năm 1988, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước, sự giúp đỡ từ Liên Xô nên ngành Than đã đầu tư vào cơ sở hạ
tầng, các mỏ lộ thiên lớn cùng các hầm lò được xây dựng, cải tạo và mở
rộng. Trong thời gian này, ngành Than hoạt động theo cơ chế bao cấp,
nhận kế hoạch sản xuất từ nhà nước và giao nộp sản phẩm cho nhà nước.
Nhờ có được sự quan tâm đúng lúc khó khăn nên ngành Than đã có được
một số kết quả ban đầu trong quá trình sản xuất và kinh doanh Than sản
phầm.
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất và kinh doanh Than khoáng sản của
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Việt Nam trong giai đoạn những năm 1989 – 1994
Đơn vị: 1000 tấn
1989 1990 1991 1992 1993 1994
Than nguyên khai 4221 5198 4895 5226 5835 7575
Than tiêu thụ 3873 4091 4128 4852 5351 6000
- Xuất khẩu 528 676 920 132 182 215
- Tiêu thụ nội

phục hồi và phát triển công việc khai thác và kinh doanh Than. Nhiệm vụ
chính mà Đảng và Chính phủ giao cho Tổng công ty Than là:
● Lập lại trật tự trong khai thác. Kinh doanh Than
● Thỏa mãn các nhu cầu về Than của nền kinh tế, phát triển các ngành
nghề khác trên nền công nghiệp Than một cách có hiệu quả để giải
quyết việc làm cho người lao động.
Thực hiện nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước giao phó, ngay
trong năm 1995, Tổng công ty Than Việt Nam đã xây dựng đề án “Đổi mới tổ
chức, quản lý và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh”. Trên cơ sở tiềm
năng và nội lực sẵn có về vốn, lao động, các phương tiện sản xuất, cơ sở vật
chất kỹ thuật và điều kiện thực tế, Tổng công ty Than Việt Nam đã lựa chọn
phương hướng xây dựng một tập đoàn kinh doanh đa ngành trong nền sản
xuất Than sản phẩm. Từ mục tiêu chiến lược đã được đề ra, Tổng công ty đã
cụ thể hóa những mục tiêu đấy thành giải pháp và biện pháp thực hiện cụ thể
hóa trong ngành sản xuất Than khoáng sản. Một trong những chiến lược quan
trọng và mang tính chất sống còn với ngành Than trong những ngày mới
thành lập Tổng công ty đó là chiến lược quản lý tài nguyên và môi trường.
Tổng công ty Than Việt Nam và cùng các doanh nghiệp thành viên đã triển
khai và áp dụng đồng bộ các biện pháp hành chính - kinh tế - kỹ thuật, sắp
xếp lại tổ chức, lập lại trật tự trong khai thác và kinh doanh Than. Bên cạnh
đấy, an ninh chính trị và trật tự trong quá trình thăm dò, khai thác là vấn đề
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cấp bách được đặt ra, Tổng công ty đã tiến hành thu thập, phân tích, đánh giá
các tài liệu, báo cáo địa chất sẵn có, tính toán trữ lượng; Tiếp tục điều tra,
khảo sát, thăm dò bổ sung, thăm dò mới tài nguyên.. Công tác cập nhật địa
chất đã có một bước tiến rõ rệt so với trước đây, nhờ có sự đổi mới trong tư
duy và ứng dụng công nghệ mới theo kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên
thế giới. Một số chiến lược cụ thể và mang tính quyết định được ngành Than
cụ thể hóa như:

của khách hàng, tận thu Than bùn và xử lý nước thải trước khi ra biển. Công
tác đầu tư và hoàn thiện các kho bãi cũng được đẩy mạnh, nâng cấp bến rót
tiêu thụ, đầu tư luồng lạch mở rộng cảng biển đảm bảo cho tàu thuyền giao
nhận Than thuận lợi và nhanh chóng.
● Song song với việc đổi mới công nghệ, hiện đại hóa dây chuyền sản
xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm, ngành Than của Việt Nam đã đặc biệt
quan tâm đến chiến lược thị trường, bởi “có thị trường là có tất cả”. Tổng
công ty đã kiên trì xây dựng ngành Than, trước hết là trật tự trong kinh doanh
Than, đổi mới tổ chức, quản lý và phương pháp kinh doanh Than của hệ
thống các công ty Than trong nội địa, hoàn thiện và phát triển cách thức quản
lý trong công tác tiếp thị và giao dịch xuất nhập khẩu Than. Bằng việc phát
triển thị trường sản phẩm chính là cách để tháo gỡ đầu ra cho sản phẩm và
cân bằng cung cầu Than trên thị trường.
Than Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong giai đoạn đầu thành
lập Tổng công ty, ngành Than Việt Nam đã mở rộng được thị trường tiêu thụ
sản phẩm trong và ngoài nước, xây dựng được các mối quan hệ bạn hàng tin
cậy trong và ngoài nước, đã ký hợp đồng dài hạn với các hộ lớn khoảng 30%
sản lượng Than tiêu thụ hàng năm. Than Việt Nam đã có quan hệ với các bạn
hàng nước ngoài ở khắp các châu lục, năm 1997 đã xuất khẩu được 3,7 triệu
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tấn Than, mức cao nhất từ trước đến nay. Trong giai đoạn này, Than Việt
Nam đã xuất sang các thị trường như: Nhật Bản, Trung Quốc, Canada, Hàn
Quốc, Thái Lan, Đài Loan… Bằng nhiều biện pháp kinh tế tổng hợp, phương
châm nhất quán “Cùng phát triển với bạn hàng”, Tổng công ty Than Việt
Nam đã phát huy nội lực sẵn có để xây dựng một chiến lược phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm. Việc mở rộng và giữ vững thị trường là yếu tố
quyết định để ngành Than Việt Nam mở rộng tổ chức sản xuất mới cũng như
tiếp cận các thị trường tài chính, tín dụng, đảm bảo vốn cho kinh doanh, phục
vụ các dự án khai thác, đầu tư và phát triển. Bên cạnh những nỗ lực phát triển

- Xuất khẩu 955 1262 1323 1246 1328 1765
- Trong nước 962 1322 1630 1707 1464 1349
Doanh thu sx- kd
khác (tỷ Đồng)
485 1074 1301 1605 1337 1764
Tổng doanh thu
(tỷ Đồng)
2402 3658 4254 4558 4129 4887
Nạp ngân sách
(tỷ Đồng)
120 152 199 154 133 155
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động ngành Than Việt Nam)
Với những chính sách và đướng lối hoạt động đúng đắn, trong năm
1995 ngành Than đã tiêu thụ được 7592 nghìn tấn Than với doanh thu tiêu thụ
thu về khoảng 1917 tỷ Đồng, tuy sản lượng Than tiêu thụ trong nước lớn gấp
2 lần lượng Than tiêu thụ trên thị trường quốc tế nhưng doanh thu tiêu thụ của
2 thị trường này lại bằng nhau, như vậy có thể thấy rằng ngành Than đang
thực hiện trợ giá cho thị trường trong nước. Đây cũng có thể là một biện pháp
để khuyến khích nhu cầu sử dụng Than trong nước và một phần hỗ trợ thị
trường trong nước. Trong những năm tiếp theo, sản lượng Than khai thác và
sản lượng kinh doanh trên thị trường của ngành Than Việt Nam tăng liên tục,
trong năm 1996 sản lượng Than khai thác và doanh thu từ kinh doanh Than
tăng khoảng 30% so với năm trước nên doanh thu từ thị trường trong nước và
thế giới cũng tăng với tốc độ 32% so với năm 1995. Ngành Than đã rất nỗ lực
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
để giữ vững được tốc độ tăng lên trong khai thác và kinh doanh tiêu thụ, năm
1997 ngành Than đã khai thác được 10779 nghìn tấn Than, tăng gần 42% sản
lượng khai thác so với năm 1995 về Than sản phẩm, kết quả đó được đánh giá
là một thành quả vượt bậc và là mong ước của ngành Than trong thời gian

đến nay:
● Từ tháng 4/1955 đến tháng 7/1960, ngành Than do Bộ Công nghiệp
quản lý.
● Từ tháng 7/1960 đến tháng 8/1969, ngành Than do Bộ Công nghiệp
nặng quản lý.
● Từ tháng 8/1969 đến tháng 1/1981,ngành Than do Bộ Điện và Than
quản lý.
● Từ tháng 1/1981 đến tháng 3/1987, ngành Than thuộc sự quản lý của Bộ
Mỏ và Than.
● Từ tháng 3/1987 đến tháng 10/1994, ngành Than thuộc sự quản lý của
Bộ Năng lượng.
● Từ tháng 10/1994, ngành Than của Việt Nam chịu sự quản lý của Tổng
công ty Than Việt Nam, Tổng công ty Than Việt Nam là một tập đoàn
kinh tế trực thuộc Chính phủ.
1.2. Tầm quan trọng của ngành Than khoáng sản Việt Nam
1.2.1. Đối với nền kinh tế, xã hội
Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng Than lớn trên thế
giới, với ước tính có khoảng 4 tỷ tấn Than Antraxit. Với trữ lượng Than phân
bố chủ yếu là ở độ sâu dưới 500m trong khi lượng Than ở các mỏ lộ thiên lại
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rất nhỏ, khoảng 300 triệu tấn nên gặp không ít khó khăn trong việc khai thác.
Hơn nữa, Việt Nam có trữ lượng khoảng 17 tỷ tấn Than nâu thích hợp cho
việc sử dụng trong các ngành công nghiệp nồi hơi, nhưng phần lớn lượng
Than này nằm dưới Đồng bằng châu thổ sông Hồng nên số Than này sẽ rất
khó khăn trong việc khai thác do việc ảnh hưởng đến diện tích đất nông
nghiệp và ảnh hưởng của lượng nước ngầm cao. Than Antraxit nằm chủ yếu ở
vùng mỏ Quảng Ninh còn Than nâu chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông
Hồng.
Ngành Than là một bộ phận của nền kinh quốc dân thống nhất, phát

Bảng 1.4: Nhu cầu tiêu thụ Than khoáng sản trong nước trong quý
1/2008
Đơn vị
tính
Kế hoạch
năm 2008
Thực hiện
quý 1/2008
So sánh với (%)
kế
hoạch
cùng kỳ
Than tiêu thụ trong nước 1000 tấn 20 000 4 419 22.1 117.2
- Điện “ 6 780 1 549 22.8 111.8
- Đạm “ 475 116 24.4 148.7
- Giấy “ 260 41 15.8 105.1
- Xi măng “ 4 852 752 15.5 147.2
- Hộ khác “ 7 633 1 961 25.7 111.7
(Nguồn: Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam - 2008)
Ngoài ra, nhờ giá bán Than của công ty Than đối với thị trường trong
nước chỉ bằng một nửa so với giá bán Than trên thị trường thế giới nên nó đã
gián tiếp làm giá thành một số mặt hàng này trong nước; Hay nói cách khác,
Than đã gián tiếp đóng góp vào giá trị GDP của đất nước thông qua các
ngành sử dụng Than…
Bảng 1.5: Giá trị kinh tế của hoạt động kinh doanh Than khoáng sản
Việt Nam
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008*
Than tiêu thụ

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
● Ngành Than đã tạo việc làm cho một bộ phận lớn người lao động tại
địa phương hay khắp các vùng miền khác đến tham gia khai thác trong các
mỏ Than hay quản lý. Năm 2002 , lượng lao động tham gia trong ngành Than
mới khoảng hơn 80 ngàn người, nhưng đến năm 2004 thì lượng lao động của
ngành Than đã tăng lên đến 93 ngàn lao động, với mức thu nhập bình quân
của một lao động khoảng 2.587 ngàn Đồng/lao động. Ngoài ra, nếu tính mỗi
lao động của ngành Than nuôi thêm 1,5 – 2 người ăn theo thì trong thực tế
việc khai thác Than đã nuôi sống hàng trăm ngàn người.
● Tạo mới và phát triển các khu dân cư, hình thành nhiều làng mỏ,
phát triển dân số và từ đó phát triển về nhà ở, trường học, bệnh viện… và các
dịch vụ hạ tầng cơ sở hạ tầng gần các khu mỏ khai thác. Tại các khu vực khai
thác mỏ Than sẽ hình thành các dịch vụ, các ngành nghề sản xuất nhỏ để phục
vụ hay cung cấp cho công nhân, hay đấy chính là việc phát triển của các
ngành công nghiệp phụ trợ, tạo công ăn việc làm, thu nhập cho một bộ phận
người dân.
● Hình thành giai cấp công nhân mỏ ở Việt Nam và văn hóa người mỏ,
nhất là ở Quảng Ninh. Đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và văn
hóa… Ở những vùng xa xôi hẻo lánh, phát triển khai thác mỏ Than là việc
làm gia tăng sử dụng vùng đất xung quanh và giá trị của chúng.
● Góp phần phân bố lại dân cư lao động hợp lý hơn, giảm được sức ép
gia tăng dân số lên các trung tâm, thành thị.
Tuy nhiên trong việc khai thác Than, đặc biệt là hoạt động khai thác
trong hầm lò luôn tiềm ẩn những rủi ro nổ lò, cháy lò, bục nước, sập lún hầm
lò… Hậu quả là người lao động gánh chịu, bên cạnh đấy cũng có nhiều lao
động mắc bệnh nghề nghiệp… đấy cũng là một vấn đề lớn đặt ra cho ngành
trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận lao động của
ngành.
18
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

trường TVN, quỹ môi trường TVN được trích từ 1% giá thành và từ hoạt
động khác có liên quan. Hiện nay, mỗi năm ngành Than sử dụng khoảng 60 tỷ
Đồng để thực hiện các chương trình bảo vệ môi trường, bảo vệ sự đa dạng
sinh học vùng mỏ và xử lý các sự cố môi trường trong hoạt động khai thác
Than của Than Việt Nam. Mục đích của Than Việt Nam là xây dựng một môi
trường xanh-sạch-đẹp.
● Than Việt Nam đã xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý về môi trường
các cấp và ban hành “Quy định về công tác bảo vệ môi trường và phòng
chống sự cố môi trường trong Than Việt Nam”, đề ra giải pháp cũng như thực
hiện các dự án, khắc phục ô nhiễm và bảo vệ môi trường trên toàn vùng và tại
các khu đô thị, dân cư.
1.2.2. Than khoáng sản trong ngành năng lượng
Than là một trong những tài nguyên năng lượng của quốc gia trong
nguồn tài nguyên năng lượng đa dạng của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam
đang khai thác nguồn năng lượng thương mại bao gồm: dầu khí, Than, thủy
điện và khí đốt với tổng năng lượng khai thác trong năm 2003 là 35,1 triệu
TOE (triệu tấn dầu tương đương) và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
của nguồn năng lượng thương mại là 13,14%/năm. Nguồn tài nguyên năng
lượng của Việt Nam có thể đáp ứng dược nhu cầu cơ bản về năng lượng trong
nước và một phần cung cấp cho hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài. Nếu như
phần trên của bài viết nghiên cứu về vai trò của Than sản phẩm trong nền
kinh tế xã hội, thì phần này bài viết sẽ nhìn nhận đóng góp của Than trong
tổng thể các nguồn năng lượng Việt Nam đối với nền kinh tế đang phát triển
của Việt Nam. Do hạn chế về phát triển kinh tế và trình độ công nghệ nên sản
lượng sản xuất và tiêu thụ các dạng năng lượng thương mại trên đầu người
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của Việt Nam còn thấp, năm 1990 là 107 kgOE và năm 2003 là 436 kgOE
mỗi năm.
● Quan hệ năng lượng và GDP

triển kéo theo nhu cầu tiêu thụ các nguồn năng lượng tăng cao. Nhưng đến
giai đoạn sau, hệ số Năng lượng – GDP đã giảm xuống còn 1,33, điều đó
chứng tỏ nền kinh tế đã vận hành một cách đúng hướng và có hiệu quả hơn,
tập trung phát triển các ngành sử dụng ít năng lượng hơn
1.3. Những yếu tố kinh tế, xã hội tác động đến ngành Than
khoáng sản Việt Nam
1.3.1. Vấn đề phân bố vùng mỏ và địa phương khai thác
● Hiện nay, đa số các vùng mỏ Than khai thác, các kho vật liệu nổ…
đều nằm ở các khu vực hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn nên ngành Than
gặp không ít khó khăn trong việc đưa phương tiện và vận chuyển Than khai
thác được đi tiêu thụ. Các mỏ Than được đánh giá có trữ lượng lớn và giá trị
lớn nằm rải rác trên khu vực rộng lớn, các mỏ nằm trong khu vực đồi núi thì
ngành Than có thể tiến hành bóc đất khai thác nhưng các mỏ Than tập trung ở
đồng bằng sông Hồng thì ngành Than gặp nhiều khó khăn do việc bóc đất và
ảnh hưởng đến một diện tích đất nông nghiệp nên các mỏ Than trọng tâm
thường là ở khu vực hẻo lánh và xa khu dân cư hay ở các vùng đồi núi. Công
tác khai thác các mỏ Than ở khu vực đồi núi sẽ kéo theo một hệ quả là ngành
Than phải đầu tư nhiều hơn vào công tác xây dựng và quản lý cơ sở vật chất
phục vụ của công nhân viên từ các dịch vụ phục vụ cuộc sống như: điện,
nước, trạm y tế, trường học, bệnh viện, đường sá giao thông… đã phần nào
làm tăng chi phí đầu tư cố định phục vụ ngành Than. Đặc biệt, hiện nay lượng
công nhân phục vụ trong các khu mỏ ngày càng lớn nên sức ép về đảm bảo
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
cuộc sống cho lao động ở khu vực đồi núi, hẻo lánh là một nhiệm vụ không
dễ giải quyết của ngành.
● Vùng mỏ Than Quảng Ninh lâu nay chỉ tập trung sản xuất và kinh
doanh xoay quanh sản phẩm Than mà các ngành nghề sản xuất hàng tiêu
dùng, dịch vụ có khả năng thu hút lao động nữ lại hạn chế. Với vùng mỏ Than
Quảng Ninh, để đòi hỏi lượng nhân công khai thác trong khu mỏ là rất lớn và

Than trong nước thì lượng tích lũy không cao trong khi điều kiện khai thác là
rất phức tạp và nguy hiểm, các mỏ Than càng ngày càng phải khai thác xuống
sâu dưới lòng đất nên suất đầu tư ngày càng tăng. Đối với các mỏ hầm lò, các
công nghệ lạc hậu vẫn còn sử dụng nên tổn thất trong quá trình khai thác
Than khá cao, mức độ đảm bảo an toàn thấp, đã nhiều năm các mỏ Than phải
tự cân đối tài chính bằng cách giảm hệ số bóc đất ở mỏ lộ thiên và giảm hệ số
đào lò ở các mỏ hầm lò nên đã đưa các mỏ vào tình trạng vi phạm các tiêu
chuẩn kỹ thuật và công nghiệp ở các mức độ khác nhau.
● Do tài nguyên phân chia không đồng đều và khác nhau về trữ lượng,
chất lượng trong khi các công ty khai thác lại khác nhau về điều kiện kỹ thuật
khai thác và vốn khác nhau nên trong trường hợp nhiều công ty khai thác ở
cùng một vùng mỏ thì cần phải có các phương án điều hòa hợp lý nhằm phát
huy tối đa năng lực và công nghệ - kỹ thuật của các bên.
● Điều chỉnh quan hệ cung – cầu trên thị trường là một vấn đề phức tạp
đã tồn tại lâu nay mà ngành Than vẫn chưa giải quyết được.
1.3.3. Tác động chung của nền kinh tế
● Các biến cố xảy ra trong nền kinh tế đang ở giai đoạn đầu của sự phát
triển sẽ tác động mạnh đến bất cứ một ngành nghề nào trong nền kinh tế,
ngành Than cũng không nằm ngoài ngoại lệ đó. Việt Nam đã là thành viên
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của WTO, nền kinh tế của Việt Nam sẽ chịu trực tiếp các tác động trên thị
trường thế giới nhanh và sâu hơn; Hiện nay, giá dầu trên thế giới tăng cao đã
tác động gần như là tất cả các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh trong nền kinh
tế. Đối với ngành Than, chi phí vào vận chuyển sản phẩm, vận chuyển đất đá
thải ra trong quá trình khai thác và chi phí vào các máy móc khoan, khai thác
tăng lên, đẩy giá thành sản phẩm tăng cao.
● Sự điều chỉnh của các chính sách của Chính phủ cũng tác động sâu
sắc đến sản lượng khai thác và tiêu thụ của ngành Than. Trong nhiều năm
qua, Chính phủ cũng đã có các chính sách vĩ mô hợp lý và tích cực vào ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status