LỜI MỞ ĐẦU
Tính tất yếu của đề tài
Than khoáng sản là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản quý
giá của quốc gia, đấy là nguồn lợi thiên nhiên ban tặng cho các quốc gia. Đối
với Việt Nam, Than khoáng sản có một vai trò hết sức quan trọng trong việc
khai thác, sử dụng và tiến hành xuất khẩu. Hàng năm, hoạt động xuất khẩu
Than khoáng sản của Việt Nam đã thu về một nguồn lợi lớn cho quốc gia, là
một trong những nhóm ngành có tỷ trọng đóng góp GDP lớn nhất của đất
nước. Ngành Than khoáng sản được coi là ngành công nghiệp hạ tầng của các
ngành công nghiệp quan trọng khác khi mà cung cấp đầu vào cho các ngành
về hóa chất, xi măng, điện và phân bón… Sự phát triển của ngành Than
khoáng sản của Việt Nam gắn liền với sự phát triển của các ngành nghề khác
trong tổng thể nền kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản vẫn đang được tiến hành đều
đặn trong thời gian qua, nhưng có những vấn đề được đặt ra bên cạnh hoạt
động xuất khẩu đó như chất lượng hàng hóa, hàm lượng công nghệ chưa trong
sản phẩm, giá thành hàng hóa trên thị trường, thị trường xuất khẩu và quan
trọng là phải đặt hoạt động xuất khẩu đó trong chiến lược phát triển kinh tế và
an ninh năng lượng của quốc gia, với những mục tiêu cụ thể là thu được giá
trị lớn nhất từ hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản. Với tầm quan trọng và
tính thời sự đó, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Hoạt động xuất
khẩuThan khoáng sản Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay”
Mục đích nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu đề tài hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản của
Việt Nam để có cái nhìn tổng quan về ngành Than khoáng sản Việt Nam, thực
1
trạng hoạt động xuất khẩu từ đấy có được những giải pháp hợp lý nhằm thu
được lợi nhuận lớn nhất từ hoạt động xuất khẩu trên cơ sở đảm bảo an ninh
năng lượng quốc gia trong hiện tại và tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là hoạt động xuất khẩu Than
đất của quốc gia, cùng với các loại khoáng sản khác như: Đồng, chì, kẽm,
thiếc…đã tạo thành một nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng phong phú và
có giá trị của Việt Nam.
Than khoáng sản là một trong những loại nhiên liệu hóa thạch được
hình thành ở các hệ sinh thái đầm lầy, các xác cây cối thực vật được nước
và bùn lưu giữ khỏi bị oxi hóa và phân hủy bởi sinh vật mà hình thành
nên Than đá ngày nay. Thành phần chính của Than khoáng sản là chất
Cacbon, ngoài ra còn có các chất khác như lưu huỳnh, nên Than có tính
năng là đốt cháy tốt và sinh ra lượng nhiệt lớn, vì vậy Than khoáng sản là
nguồn nguyên liệu sản xuất điện năng lớn nhất thế giới. Hiện nay, lượng
Than được khai thác trên thế giới và Việt Nam được sử dụng trong các
ngành năng lượng, phục vụ sản xuất nhà máy nhiệt điện và các ngành
công nghiệp sử dụng chất đốt… Than đang được khai thác từ các mỏ
Than lộ thiên hay các hầm lò nằm sâu dưới lòng đất.
Ngày nay, với trình độ công nghệ hiện đại, công tác thăm dò và
khai thác đã giúp con người phát hiện ra nhiều tài nguyên khoáng sản có
giá trị đồng thời khai thác có hiệu quả hơn đối với nguồn tài sản quốc gia
này. Việt Nam được đánh giá là có nguồn dự trữ Than đá đáng kể và có
giá trị về mặt kinh tế, trong tài nguyên về khoáng sản thì Than đá là
nguồn tài nguyên có trữ lượng và hiệu quả kinh tế lớn nhất. Theo Cơ quan
4
Năng lượng quốc tế thì trữ lượng Than hiện nay trên thế giới rất lớn,
khoảng 910 tỷ tấn, đủ cho sản xuất trong 155 năm với tốc độ như hiện nay
và nếu như không có sự đột biến nào thì nhu cầu sử dụng Than trên thế
giới sẽ tăng gấp 3 lần từ nay đến năm 2050. Theo các cuộc thăm dò và
khai thác thì Than hiện diện ở khắp nơi trên thế giới và được sử dụng chủ
yếu trong các nhà máy nhiệt điện, sản xuất xi măng, phục vụ các ngành
công nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của người dân, nhưng được sử dụng lớn
nhất là trong các nhà máy nhiệt điện, do đó 40% lượng điện được sản xuất
trên toàn cầu là từ các nhà máy nhiệt điện dùng Than.
1985 1986 1987 1988
Than nguyên khai 6295 6855 7690 7605
Than tiêu thụ 5689 6120 6340 5657
- Xuất khẩu 640 620 201 314
- Tiêu thụ nội địa 5049 5500 6139 5343
(Nguồn: Số liệu lịch sử ngành Than – Bộ Năng lượng)
Cho đến những năm 1988, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước, sự giúp đỡ từ Liên Xô nên ngành Than đã đầu tư vào cơ sở hạ
tầng, các mỏ lộ thiên lớn cùng các hầm lò được xây dựng, cải tạo và mở
rộng. Trong thời gian này, ngành Than hoạt động theo cơ chế bao cấp,
nhận kế hoạch sản xuất từ nhà nước và giao nộp sản phẩm cho nhà nước.
Nhờ có được sự quan tâm đúng lúc khó khăn nên ngành Than đã có được
một số kết quả ban đầu trong quá trình sản xuất và kinh doanh Than sản
phầm.
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất và kinh doanh Than khoáng sản của
6
Việt Nam trong giai đoạn những năm 1989 – 1994
Đơn vị: 1000 tấn
1989 1990 1991 1992 1993 1994
Than nguyên khai 4221 5198 4895 5226 5835 7575
Than tiêu thụ 3873 4091 4128 4852 5351 6000
- Xuất khẩu 528 676 920 132 182 215
- Tiêu thụ nội
địa
3345 3415 3208 3528 3526 3850
(Nguồn: Số liệu lịch sử ngành Than – Bộ Năng lượng)
Trong giai đoạn 1985 – 1988, ngành Than đã đạt được nhiều kết quả
cao trong việc khai thác và tiêu thụ Than, đỉnh điểm của giai đoạn này là hai
năm 1987 và năm 1988, riêng trong năm 1987 đã công ty khai thác được 7690
nghìn tần Than, tăng hơn 20% so với lượng Than khai thác được trong năm
chức, quản lý và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh”. Trên cơ sở tiềm
năng và nội lực sẵn có về vốn, lao động, các phương tiện sản xuất, cơ sở vật
chất kỹ thuật và điều kiện thực tế, Tổng công ty Than Việt Nam đã lựa chọn
phương hướng xây dựng một tập đoàn kinh doanh đa ngành trong nền sản
xuất Than sản phẩm. Từ mục tiêu chiến lược đã được đề ra, Tổng công ty đã
cụ thể hóa những mục tiêu đấy thành giải pháp và biện pháp thực hiện cụ thể
hóa trong ngành sản xuất Than khoáng sản. Một trong những chiến lược quan
trọng và mang tính chất sống còn với ngành Than trong những ngày mới
thành lập Tổng công ty đó là chiến lược quản lý tài nguyên và môi trường.
Tổng công ty Than Việt Nam và cùng các doanh nghiệp thành viên đã triển
khai và áp dụng đồng bộ các biện pháp hành chính - kinh tế - kỹ thuật, sắp
xếp lại tổ chức, lập lại trật tự trong khai thác và kinh doanh Than. Bên cạnh
đấy, an ninh chính trị và trật tự trong quá trình thăm dò, khai thác là vấn đề
8
cấp bách được đặt ra, Tổng công ty đã tiến hành thu thập, phân tích, đánh giá
các tài liệu, báo cáo địa chất sẵn có, tính toán trữ lượng; Tiếp tục điều tra,
khảo sát, thăm dò bổ sung, thăm dò mới tài nguyên.. Công tác cập nhật địa
chất đã có một bước tiến rõ rệt so với trước đây, nhờ có sự đổi mới trong tư
duy và ứng dụng công nghệ mới theo kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên
thế giới. Một số chiến lược cụ thể và mang tính quyết định được ngành Than
cụ thể hóa như:
● Bảo vệ môi trường và giữ gìn cảnh quan là mục tiêu quan trọng trong
chiến lược phát triển bền vững của ngành Than Việt Nam, để khắc phục hậu
quả suy thoái môi trường ở các vùng mỏ sau nhiều năm để lại, ngành Than
Việt Nam đã có các cuộc khảo sát và đánh giá tác động của hoạt động khai
thác Than đến môi trường của vùng mỏ rồi đưa ra các giải pháp và chương
trình để cải thiện môi trường. Tổng công ty đã quyết định thành lập Qũy môi
trường Than Việt Nam trên cơ sở sử dụng 1% chi phí tính thêm vào giá thành
được Chính phủ cho phép và các nguồn huy động khác, qua đấy đã đầu tư
trồng mới và chăm sóc được 1780 ha rừng trong ranh giới mỏ, tạo nguồn gỗ
lý trong công tác tiếp thị và giao dịch xuất nhập khẩu Than. Bằng việc phát
triển thị trường sản phẩm chính là cách để tháo gỡ đầu ra cho sản phẩm và
cân bằng cung cầu Than trên thị trường.
Than Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong giai đoạn đầu thành
lập Tổng công ty, ngành Than Việt Nam đã mở rộng được thị trường tiêu thụ
sản phẩm trong và ngoài nước, xây dựng được các mối quan hệ bạn hàng tin
cậy trong và ngoài nước, đã ký hợp đồng dài hạn với các hộ lớn khoảng 30%
sản lượng Than tiêu thụ hàng năm. Than Việt Nam đã có quan hệ với các bạn
hàng nước ngoài ở khắp các châu lục, năm 1997 đã xuất khẩu được 3,7 triệu
10
tấn Than, mức cao nhất từ trước đến nay. Trong giai đoạn này, Than Việt
Nam đã xuất sang các thị trường như: Nhật Bản, Trung Quốc, Canada, Hàn
Quốc, Thái Lan, Đài Loan… Bằng nhiều biện pháp kinh tế tổng hợp, phương
châm nhất quán “Cùng phát triển với bạn hàng”, Tổng công ty Than Việt
Nam đã phát huy nội lực sẵn có để xây dựng một chiến lược phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm. Việc mở rộng và giữ vững thị trường là yếu tố
quyết định để ngành Than Việt Nam mở rộng tổ chức sản xuất mới cũng như
tiếp cận các thị trường tài chính, tín dụng, đảm bảo vốn cho kinh doanh, phục
vụ các dự án khai thác, đầu tư và phát triển. Bên cạnh những nỗ lực phát triển
thị trường tiêu thụ, nâng cao trình độ công nghệ thì ngành Than còn chủ động
tiếp xúc và tìm kiếm khách hàng cho riêng mình, tiến hành đàm phán và kí
kết các hợp đồng ngắn hạn, dài hạn với cơ chế giá mềm dẻo, cạnh tranh để
tăng cường khả năng kiểm soát và mở rộng thị trường tiêu thụ Than trong và
ngoài nước, đưa Than sản phẩm đến tận nơi sử dụng và mở rộng mạng lưới
bán Than đến các tỉnh, thành phố trong cả nước, bao gồm cả thị trường nông
thôn, miền núi.
Trong giai đoạn sản xuất và kinh doanh 1995-2001, ngành Than
khoáng sản Việt Nam cũng gặt hái được nhiều thành công trong khai thác, chế
biến và xuất khẩu. Bằng sự nỗ lực của chính Tổng công ty đã giúp cho lượng
Than khai thác và Than sản phẩm xuất khẩu hàng năm không ngừng gia tăng,
Với những chính sách và đướng lối hoạt động đúng đắn, trong năm
1995 ngành Than đã tiêu thụ được 7592 nghìn tấn Than với doanh thu tiêu thụ
thu về khoảng 1917 tỷ Đồng, tuy sản lượng Than tiêu thụ trong nước lớn gấp
2 lần lượng Than tiêu thụ trên thị trường quốc tế nhưng doanh thu tiêu thụ của
2 thị trường này lại bằng nhau, như vậy có thể thấy rằng ngành Than đang
thực hiện trợ giá cho thị trường trong nước. Đây cũng có thể là một biện pháp
để khuyến khích nhu cầu sử dụng Than trong nước và một phần hỗ trợ thị
trường trong nước. Trong những năm tiếp theo, sản lượng Than khai thác và
sản lượng kinh doanh trên thị trường của ngành Than Việt Nam tăng liên tục,
trong năm 1996 sản lượng Than khai thác và doanh thu từ kinh doanh Than
tăng khoảng 30% so với năm trước nên doanh thu từ thị trường trong nước và
thế giới cũng tăng với tốc độ 32% so với năm 1995. Ngành Than đã rất nỗ lực
12
để giữ vững được tốc độ tăng lên trong khai thác và kinh doanh tiêu thụ, năm
1997 ngành Than đã khai thác được 10779 nghìn tấn Than, tăng gần 42% sản
lượng khai thác so với năm 1995 về Than sản phẩm, kết quả đó được đánh giá
là một thành quả vượt bậc và là mong ước của ngành Than trong thời gian
bấy giờ. Tuy trong khai thác Than thành phẩm tăng nhanh nhưng lại xuất hiện
dấu hiệu chững lại của hoạt động kinh doanh xuất khẩu do những ảnh hưởng
ban đầu của cuộc đại khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á trong năm 1997,
sản lượng tiêu thụ giảm, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu tăng nhẹ và đó là
dấu hiệu đầu tiên cho những giảm sút của doanh thu trong những năm tiếp
theo. Đánh giá trong những năm 1995-1997, ngành Than của Việt Nam đã có
những bước tiến vượt bậc nhờ biết phát huy được nội lực, công nghệ mới áp
dụng và những chính sách phát triển hợp lý, đóng góp vào ngân sách nhà
nước 471 tỷ Đồng trong 3 năm 1995-1997.
Năm 1998, sau khi chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
– tiền tệ khu vực nên đã tác động đến Than xuất khẩu của Việt Nam trên thị
trường thế giới về lượng lẫn về giá cả, ngành Than của Việt Nam phải cạnh
tranh hơn khi mà cung vượt quá cầu trên thị trường, nhưng nhờ sự mềm dẻo
1.2. Tầm quan trọng của ngành Than khoáng sản Việt Nam
1.2.1. Đối với nền kinh tế, xã hội
Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng Than lớn trên thế
giới, với ước tính có khoảng 4 tỷ tấn Than Antraxit. Với trữ lượng Than phân
bố chủ yếu là ở độ sâu dưới 500m trong khi lượng Than ở các mỏ lộ thiên lại
14
rất nhỏ, khoảng 300 triệu tấn nên gặp không ít khó khăn trong việc khai thác.
Hơn nữa, Việt Nam có trữ lượng khoảng 17 tỷ tấn Than nâu thích hợp cho
việc sử dụng trong các ngành công nghiệp nồi hơi, nhưng phần lớn lượng
Than này nằm dưới Đồng bằng châu thổ sông Hồng nên số Than này sẽ rất
khó khăn trong việc khai thác do việc ảnh hưởng đến diện tích đất nông
nghiệp và ảnh hưởng của lượng nước ngầm cao. Than Antraxit nằm chủ yếu ở
vùng mỏ Quảng Ninh còn Than nâu chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông
Hồng.
Ngành Than là một bộ phận của nền kinh quốc dân thống nhất, phát
triển của ngành Than phải đặt trong sự phát triển của các ngành liên quan và
đặt trong tổng thể phát triển của nền kinh tế và xã hội. Ngành Than là một
trong những ngành công nghiệp mang tính chất hạ tầng và là nguồn cung cấp
đầu vào phục vụ cho nhiều ngành kinh tế khác. Mang tính chất là một ngành
công nghiệp hạ tầng nên ngành cần có tính chất đặc thù cho cả đầu tư phát
triển nội ngành và cả con người, đảm bảo cho ngành Than Việt Nam phát
triển một cách bền vững, chắc chắn và đồng bộ với các ngành nó phục vụ.
Khi nói đến tầm quan trọng của ngành Than, chúng ta cần đánh giá Than
trong các mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng…
Về Kinh tế
Việc khai thác Than có một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và sự phát triển của nhiều ngành nói riêng, cụ thể
như:
● Đảm bảo nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu cho một số ngành trong
nền kinh tế quốc dân như: điện, xi măng, sắt thép, giấy, đạm, vật liệu xây
- Xi măng “ 4 852 752 15.5 147.2
- Hộ khác “ 7 633 1 961 25.7 111.7
(Nguồn: Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam - 2008)
Ngoài ra, nhờ giá bán Than của công ty Than đối với thị trường trong
nước chỉ bằng một nửa so với giá bán Than trên thị trường thế giới nên nó đã
gián tiếp làm giá thành một số mặt hàng này trong nước; Hay nói cách khác,
Than đã gián tiếp đóng góp vào giá trị GDP của đất nước thông qua các
ngành sử dụng Than…
Bảng 1.5: Giá trị kinh tế của hoạt động kinh doanh Than khoáng sản
Việt Nam
16
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008*
Than tiêu thụ
(1000 tấn)
12500 15700 18100 24700 30200 371100 40000 9119
Doanh thu
tiêu thụ (tỷ
Đồng)
5935 7020 9830 14689 18481 22983 29000 5644
Nạp ngân sách
(tỷ Đồng)
165 294 383 602 776 942 1080 ---
(Nguồn: Tập đoàn Công nghiệp Than Việt Nam – 2008*: thực hiện quí I/2008)
● Ngành Than đóng góp vào giá trị gia tăng của đất nước – giá trị
GDP. Mỗi năm, ngành Than đã đóng góp vào giá trị GDP hàng ngàn tỷ đồng,
năm 1995 giá trị đóng góp của ngành Than mới chỉ khoảng 120 tỷ Đồng thì
đến năm 2004 giá trị đóng góp của ngành Than đã đạt mức 6 ngàn tỷ Đồng và
mức độ đóng góp này ngày càng tăng lên, trong giai đoạn 1995 đến 2004, tốc
độ trung bình đóng góp của ngành Than đối với nhà nước đạt 19,1%. Không
những thế, trong hoạt động xuất khẩu Than hàng năm, ngành cũng đã thu về
hóa… Ở những vùng xa xôi hẻo lánh, phát triển khai thác mỏ Than là việc
làm gia tăng sử dụng vùng đất xung quanh và giá trị của chúng.
● Góp phần phân bố lại dân cư lao động hợp lý hơn, giảm được sức ép
gia tăng dân số lên các trung tâm, thành thị.
Tuy nhiên trong việc khai thác Than, đặc biệt là hoạt động khai thác
trong hầm lò luôn tiềm ẩn những rủi ro nổ lò, cháy lò, bục nước, sập lún hầm
lò… Hậu quả là người lao động gánh chịu, bên cạnh đấy cũng có nhiều lao
động mắc bệnh nghề nghiệp… đấy cũng là một vấn đề lớn đặt ra cho ngành
trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận lao động của
ngành.
18
Về bảo vệ môi trường
Từ khi được thành lập vào năm 1994, Than Việt Nam đã thực hiện
nhiều biện pháp cải thiện môi trường vùng mỏ khai thác theo tinh thần đảm
bảo sự phát triển bền vững của ngành Than và các vùng Than. Với phương
châm và mục tiêu đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường, ngành Than đã có
nhiều hoạt động có ý nghĩa trong việc quản lý môi trường và giảm thiểu các ô
nhiễm do hoạt động khai thác. Có thể những kết quả trong công tác quản lý
môi trường của ngành Than không triệt để hay chưa kiểm soát hoàn toàn
lượng ô nhiễm của hoạt động khai thác gây ra nhưng những hành động của
ngành đã tạo động lực và bước đi đầu cho những ngành công nghề khác học
tập và làm theo trong công tác bảo vệ môi trường, khắc phục sự suy thoái của
môi trường sống xung quanh con người. Một số kết quả mà ngành Than đạt
được:
● Hầu hết các mỏ và các đơn vị sản xuất – kinh doanh đã lập và được
duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, là cơ sở ban đầu cho việc quan
trắc, quản lý môi trường và thực hiện các giải pháp kiểm soát và giảm thiểu ô
nhiễm. Bên cạnh đấy, các mỏ và các nhà máy sàng tuyển đã, đang và thực
hiện các dự án xây dựng các công trình chống bụi, thoát nước, xử lý nước
thải, thực hiện nạo vét sông suối, khôi phục một số hồ nước ở Quảng Ninh,
phần trên của bài viết nghiên cứu về vai trò của Than sản phẩm trong nền
kinh tế xã hội, thì phần này bài viết sẽ nhìn nhận đóng góp của Than trong
tổng thể các nguồn năng lượng Việt Nam đối với nền kinh tế đang phát triển
của Việt Nam. Do hạn chế về phát triển kinh tế và trình độ công nghệ nên sản
lượng sản xuất và tiêu thụ các dạng năng lượng thương mại trên đầu người
20
của Việt Nam còn thấp, năm 1990 là 107 kgOE và năm 2003 là 436 kgOE
mỗi năm.
● Quan hệ năng lượng và GDP
Trong sản lượng năng lượng sản xuất ra hàng năm thì Than sạch có tốc
độ gia tăng bình quân hàng năm khoảng 12%/năm, với năm 2003 đạt 18,7
triệu tấn, năm 2004 tăng lên đến 25,4 triệu tấn… Trong những năm qua,
cường độ sử dụng năng lượng của Việt Nam không ngừng được tăng lên, đó
là điều tất yếu khi mà Việt Nam đang trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa
nên thực hiện quá trình thay đổi năng lượng phi thương mại (củi gỗ, Than gỗ,
phụ phẩm nông nghiệp…) bằng các nguồn năng lượng thương mại. Bên cạnh
đó, nhà nước Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách trợ giá năng lượng và
áp dụng chính sách giá năng lượng thấp cũng như việc sử dụng các nhà máy,
các thiết bị có hiệu suất thấp và đã quá thời hạn sử dụng cũng làm tăng cường
độ sử dụng nănh lượng; Cường độ sử dụng năng lượng của Việt Nam theo giá
hiện hành hiện nay là khoảng 400 kgOE/1000 USD, trong khi giá trị bình
quân của các nước đang phát triển OECD là 130,5, giá trị bình quân của thế
giới là 176,5 và một số nước trên thế giới như: Thái Lan 248, Inđônêxia 319,
Malaixia 262, Trung Quốc 538, Hàn Quốc 209 và Nhật Bản 61…
Xét về hệ số đàn hồi giữa năng lượng và GDP (tỷ số giữa tốc độ tăng
tiêu thụ năng lượng và tốc độ tăng trưởng GDP trong cùng một giai đoạn) –
một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá mối quan hệ giữa Năng lượng
và Kinh tế trong cùng một giai đoạn nghiên cứu.
Bảng 1.7: Mối quan hệ tương quan Năng lượng – Kinh tế của Việt Nam
1991-1995 1996-2003 2004-2007
22
cuộc sống cho lao động ở khu vực đồi núi, hẻo lánh là một nhiệm vụ không
dễ giải quyết của ngành.
● Vùng mỏ Than Quảng Ninh lâu nay chỉ tập trung sản xuất và kinh
doanh xoay quanh sản phẩm Than mà các ngành nghề sản xuất hàng tiêu
dùng, dịch vụ có khả năng thu hút lao động nữ lại hạn chế. Với vùng mỏ Than
Quảng Ninh, để đòi hỏi lượng nhân công khai thác trong khu mỏ là rất lớn và
chủ yếu là nhân công nam trong khi các chính sách và chiến lược giải quyết
công ăn việc làm cho nữ giới trong khu mỏ lại triển khai còn chậm; những
người phụ nữ ở đấy là người thân, là vợ, là con của công nhân đang khai thác
Than trong các hầm mỏ… Cuộc sống của những hộ gia đình đó mà phụ thuộc
vào đồng lương của ngành Than độc canh sẽ gây không ít khó khăn và gành
nặng cho công nhân tham gia hoạt động trong ngành Than.
● Quảng Ninh nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế Bắc bộ, có tốc độ
đô thị hóa nhanh nên ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan môi
trường, di tích lịch sử văn hóa lại càng được chú trọng. Bên cạnh Quảng Ninh
là Vịnh Hạ Long, một di sản thiên nhiên thế giới mở ra triển vọng về du lịch
văn hóa và dịch vụ… những yếu tố đấy buộc ngành Than phải có một số điều
chỉnh trong ngành để phù hợp với yêu cầu phát triển chung của xã hội, ngành
Than đã phải tháo dỡ hệ thống đường sắt Hà Lầm – Hòn Gai, Hòn Gai – Cọc
5 – Cọc 8 và chuyển đổi mục đích sử dụng cảng Than Hòn Gai… Với những
thay đổi đấy đã đẩy chi phí sản xuất của ngành Than tăng lên, đẩy giá thành
sản xuất Than tăng lên.
1.3.2. Vấn đề thuộc nội bộ ngành Than khoáng sản
● Chất lượng Than nguyên vỉa của các mỏ Than là khác nhau, điều
kiện khai thác Than ở các mỏ cũng không giống nhau nên giá bán Than và
hiệu quả khai thác của các mỏ Than là khác nhau dẫn đến sự khác khác nhau
trong thu nhập của cán bộ công nhân viên lao động trong các mỏ Than. Mặt
23
khác, hiện nay giá bán Than trong nước và xuất đi thị trường quốc tế là khác
thải ra trong quá trình khai thác và chi phí vào các máy móc khoan, khai thác
tăng lên, đẩy giá thành sản phẩm tăng cao.
● Sự điều chỉnh của các chính sách của Chính phủ cũng tác động sâu
sắc đến sản lượng khai thác và tiêu thụ của ngành Than. Trong nhiều năm
qua, Chính phủ cũng đã có các chính sách vĩ mô hợp lý và tích cực vào ngành
Than như hướng dẫn trong công tác lập kế hoạch khai thác, kinh doanh và
xuất khẩu của ngành Than nhưng bên cạnh đấy nhiều trường hợp Nhà nước
cũng chưa có các chính sách thỏa đáng hỗ trợ nhân dùng Than thay củi đốt
phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Nguồn gỗ tự nhiên của Việt Nam đang cạn kiệt
và tàn phá nặng nề, trong khi lượng Than khai thác ra đủ để đảm bảo tiêu thụ
trong nước vì vậy Nhà nước cần phải đưa ra chính sách bảo vệ nguồn gỗ phục
vụ chống lò trong ngành Than và đưa Than đến với các hộ dân sinh hoạt hay
sản xuất…
● Việc sử dụng công nghệ lạc hậu của các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở
sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, phân bón… nên phải tiêu tốn một lượng
Than khá lớn và quen dùng với giá Than thấp, do đó khó chấp nhận việc tăng
dần giá Than, buộc Nhà nước phải vào cuộc để điều chỉnh lại. Trường hợp
thay đổi công nghệ ở nhà máy xi măng Bỉm Sơn và ở ngành đường sắt đã dẫn
đến sự mất hẳn thị trường tiêu thụ của mỏ Than Na Dương, mỏ Khe Bố vốn
dĩ đã từ lâu được xây dựng để phục vụ riêng cho ngành xi măng và đường
sắt...
25