Lời mở đầu
1. Tính tất yếu của việc nghiên cứu đề tài
Nhận định chung cho rằng thế kỷ XIX là thế kỷ của than, thế kỷ XX là thế kỷ
của dầu mỏ và trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, chắc chắn loại nhiên
liệu không thể tái sinh đợc này vẫn cha thể bị thay thế bởi khí đốt, than, thuỷ
điện, năng lợng hạt nhân, năng lợng gió, mặt trời, địa nhiệt, bởi hơn 80%
năng lợng hiện nay đợc tạo ra bởi dầu mỏ.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, mặt hàng dầu thô (dầu mỏ
cha qua tinh chế) là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực, luôn chiếm vị trí số một
về giá trị kim ngạch xuất khẩu (tổng trị giá xuất khẩu của toàn bộ nền kinh tế
Việt Nam tính từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2004 là 21331 triệu USD thì xuất
khẩu dầu thô đạt 4600 triệu USD - tơng đơng 39,26% tổng trị giá kim ngạch
xuất khẩu). Dự báo trong những năm tới mặt hàng dầu thô sẽ là một trong
những mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam. Việc khai thác và xuất khẩu hiệu
quả mặt hàng này sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp Việt
Nam, tăng doanh thu xuất khẩu cho đất nớc.
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, thị trờng dầu thô thế giới biến động
không ngừng do nhiều nguyên nhân khác nhau, do vậy làm ảnh hởng rất
nhiều tới tình hình xuất khẩu dầu thô của Việt Nam. Giá dầu trên thế giới
biến động lúc tăng, lúc giảm tạo ra những thuận lợi và cả những khó khăn cho
hoạt động xuất khẩu dầu của Việt Nam. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài
Những biến động trên thị trờng dầu mỏ thế giới và ảnh hởng của nó tới hoạt
động xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam để tận dụng những thuận lợi, khắc
phục khó khăn, tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu dầu thô một cách hiệu
quả nhất là một tất yếu khách quan.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những biến động trên thị trờng dầu mỏ thế giới, nguyên
nhân của những biến động, đồng thời chỉ ra những thuận lợi và khó khăn mà
biến động đó tạo ra cho hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam. Từ đó đa
ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu mặt hàng này.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
là trong các điều kiện nhiệt độ và áp suất khác nhau chúng kết hợp và tạo thành
những hợp chất hydrocacbon khác nhau. Loài ngời đã sớm biết sử dụng đặc tính
quý giá này để phục vụ nhu cầu cuộc sống của mình.
Có nhiều lý thuyết giải thích việc hình thành dầu mỏ. Theo lý thuyết tổng
hợp sinh học đợc nhiều nhà khoa học đồng ý, dầu mỏ phát sinh từ những xác
chết của các sinh vật ở đáy biển, hay từ các thực vật bị chôn trong đất. Khi thiếu
khí ôxy, bị đè nén dới áp suất và ở nhiệt độ cao các chất hữu cơ trong các sinh
vật này đợc chuyển hoá thành các hợp chất tạo nên dầu. Dầu tích tụ trong các
lớp đá xốp, do nhẹ hơn nớc nên dầu đã chuyển dần dần lên trên cho đến khi gặp
phải các lớp đá không thẩm thấu thì tích tụ lại ở đấy và tạo thành mỏ dầu.Cuối
thế kỷ XIX, nhà hoá học ngời Nga Menđêleep đã đa ra lý thuyết vô cơ giải
thích sự hình thành của dầu mỏ. Theo lý thuyết này, dầu mỏ phát sinh từ phản
ứng hoá học giữa cacbua kim loại với nớc tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng đất
tạo thành các hiđrôcacbon và sau đó bị đẩy lên trên. Các vi sinh vật sống trong
lòng đất qua hàng tỷ năm đã chuyển chúng thành các hỗn hợp hiđrocacbon
khác nhau. Lý thuyết này là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học.
Dầu mỏ là loại khoáng sản năng lợng, có tính linh động cao. Sau nữa,
chúng có bản chất sinh thành, di c và tích tụ gần giống nhau. Giống nh nhiều
loại tài nguyên khoáng sản khác, dầu mỏ đợc hình thành do kết quả quá trình
vận động phức tạp lâu dài hàng triệu năm về vật lý, hoá học, địa chất, sinh
học trong vỏ trái đất. Thông th ờng dầu mỏ sau khi khai thác có thể xử lý, tàng
trữ và xuất khẩu ngay.
2. Vai trò của dầu mỏ
Dầu mỏ cùng với các loại khí đốt đợc coi là Vàng đen, đóng vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế toàn cầu. Đây cũng là một trong những nguyên liệu
quan trọng nhất của xã hội hiện đại dùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu
của tất cả các phơng tiện giao thông vận tải. Hơn nữa dầu mỏ cũng đợc sử dụng
trong công nghiệp hoá dầu để sản xuất các chất dẻo và nhiều sản phẩm khác.
Dầu mỏ mang lại lợi nhuận siêu ngạch cho các quốc gia và dân tộc trên thế
giới đang sở hữu và tham gia trực tiếp kinh doanh nguồn tài nguyên trời cho
Sự cố chìm giàn khoan dầu P - 36 ngoài khơi Braxin tháng 3 - 2001 vừa qua đã
gây tổn thất tới 450 triệu đôla Mỹ cho Công ty Petrobras. Vì vậy các công ty
dầu mỏ thờng liên minh để giảm thiểu rủi ro và một khi phát hiện dòng dầu
công nghiệp, thì họ càng khai thác càng nhanh càng tốt để sớm thu hồi vốn đầu
t.
Thứ hai, ngành công nghiệp dầu mỏ cũng là ngành công nghệ cao và là con
đẻ của ngành công nghiệp nặng. Tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực thăm dò,
khoan, khai thác, xây dựng công trình biển có nhiều b ớc nhảy vọt . Có thể nói,
ngành công nghiệp dầu mỏ nói riêng và công nghiệp dầu khí noi chung đang sử
dụng những công nghệ hiện đại nhất trong tất cả các lĩnh vực và đang là ngành
dẫn đầu trong phát triển và ứng dụng các công nghệ ngày càng tiên tiến hơn.
Thứ ba, công nghiệp dầu mỏ là một ngành mang tính quốc tế cao, khác với
than đá trớc đây, việc thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối dầu khí đã
nhanh chóng mang tính toàn cầu. Có lẽ, hiện tợng toàn cầu hoá xảy ra sớm nhất
trong ngành này. Trong quá trình phát triển của mình, đặc biệt nhất là trong
thập kỷ vàng, các hoạt động dầu khí chủ yếu đợc tiến hành thông qua các hợp
đồng ký giữa các công ty đa quốc gia với nớc chủ nhà có nguồn tài nguyên dầu.
Có nhiều dạng hợp đồng đã đợc sử dụng, nhng phổ biến và vẫn còn ý nghĩa cho
tới ngày nay là dạng hợp đồng phân chia sản phẩm. Điều khoản cơ bản của
dạng hợp đồng này là nhà đầu t (các công ty dầu mỏ) đồng ý tiến hành mọi hoạt
động tìm kiếm, thăm dò bằng nguồn tài chính của riêng mình. Nếu có phát hiện
thơng mại, nhà đầu t tiếp tục chi cho các hoạt động phát triển, khai thác. Lợng
dầu khí khai thác lên sau khi nộp cho thuế tài nguyên sẽ đợc chia theo tỷ lệ sản
lợng cho nớc chủ nhà. Để san sẻ rủi ro và đảm bảo lợi nhuận ổn định, ngoài việc
liên minh, liên kết trong các hợp đồng phân chia sản phẩm, hầu hết các công ty
dầu mỏ có chiến lợc phát triển theo mạng đầu t ở nhiều nơi, nhiều nớc và theo
chiều dọc.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng phân chia sản phẩm, các nớc sở hữu
dầu mỏ nhận thấy rằng cần phải giảm thiểu sự phụ thuộc vào các công ty đa
quốc gia, tiếp cận trực tiếp với ngành công nghiệp này và đảm bảo an ninh năng
khẩu hàng năm đã đạt hơn hai chục triệu tấn. Công việc khai thác đã từng bớc
đợc hoàn thiện.
II. Thị trờng dầu mỏ thế giới
1. Đặc điểm thị trờng dầu mỏ thế giới
Thị trờng dầu mỏ thế giới là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch, mua bán về
dầu mỏ giữa các quốc gia trên khắp thế giới. Nó có những đặc điểm chung song
cũng có những điểm hết sức khác biệt so với các thị trờng khác.
Thứ nhất, đây là một thị trờng lớn do nhu cầu phong phú, đa dạng về dầu mỏ
của các quốc gia trên khắp thế giới. Trong khi mà các nguồn tài nguyên không
thể tái sinh ngày càng cạn kiệt và những nguồn năng lợng khác cha thể thay thế
đợc vai trò chiến lợc của dầu mỏ thì nhu cầu về dầu mỏ vẫn ngày một tăng với
một số lợng lớn các giao dịch mua bán dầu mỏ giữa các quốc gia, các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu trên thế giới.
Thứ hai, thị trờng dầu mỏ còn hết sức nhạy cảm với những biến động về kinh
tế, chính trị trên toàn cầu từ đó dẫn đến những biến động trên chính thị trờng
dầu mỏ. Chỉ cần xảy ra một sự bất ổn định về mặt chính trị của một trong những
quốc gia xuất khẩu dầu nh là sự căng thẳng về chính trị tại Nigieria hay các
hoạt động phá hoại của lực lợng chống đối tại iraq, sự bất ổn các nguồn cung từ
Nga (vụ Yukos) cũng có thể làm chao đảo thị trờng dầu mỏ mà điển hình là sự
tăng giá dầu đến mức kỷ lục vào tháng 10/2004.
Thứ ba, thị trờng dầu mỏ thế giới chịu sự chi phối rất lớn của tổ chức OPEC.
Các quyết định, chính sách của OPEC về cung cầu dầu mỏ cũng nh giá dầu đều
có tác động rất lớn đến thị trờng dầu mỏ thế giới. Chẳng hạn nh khi OPEC ra
quyết định cắt giảm sản lợng vào tháng 4/2004, ngay lập tức thị trờng đã có
những phản ứng và biến động khác nhau trớc quyết định này. Trên các thị trờng
kỳ hạn, giá dầu có xu hớng giảm nhẹ ngay sau khi OPEC cắt giảm sản lợng do
các nhà giao dịch bán ồ ạt các hợp đồng kỳ hạn để kiếm lợi. Ngày 1/4/2004, giá
dầu thô tại thị trờng New York giao tháng 5 giảm 1,49 USD xuống còn 34,27
USD/1 thùng nhng sau đó giá dầu lại tiếp tục tăng mạnh trên các thị trờng giao
dịch. Bảng 1 sẽ cho ta thấy sự biến động giá xăng dầu sau quyết định cắt giảm
OPEC. Trong năm năm đầu tiên đặt trụ sở cuả OPEC tại Geneve, Thuỵ Sĩ, sau
đó chuyển về Viên, áo từ tháng 9/1965. Các nớc thành viên OPEC khai thác
vào khoảng 40% tổng sản lợng dầu thế giới và nắm giữ khoảng 3/4 trữ lợng dầu
thế giới.
OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu của các nớc thành
viên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu trên thị trờng thế giới. Hội nghị
các bộ trởng phụ trách vấn đề năng lợng và dầu mỏ thuộc tổ chức OPEC đợc tổ
chức mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thị trờng dầu mỏ và đề ra các biện pháp
phù hợp để đảm bảo việc cung cấp dầu trên thị trờng dầu mỏ thế giới. Bộ trởng
các nớc thành viên thay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ
chức hai năm một nhiệm kỳ.
Mục tiêu chính thức đợc ghi vào hiệp định thành lập OPEC là ổn định thị tr-
ờng dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế giới và
ủng hộ về mặt chính trị cho các thành viên khi bị các biện pháp cỡng chế vì các
quyết định của OPEC. Nhng thật ra nhiều biện pháp đợc đề ra lại có động cơ bắt
nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí dụ nh trong cơn khủng hoảng dầu, OPEC đã
không tìm cách hạ giá dầu mà lại duy trì chính sách cao giá trong thời gian dài.
Mục tiêu của OPEC thật ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá.OPEC
dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lợng khai thác
dầu, tạo ra khan hiếm hoặc d dầu giả, thông qua đó có thể có thể tăng, giảm
hoặc giữ giá dầu ổn định. Có thể coi OPEC nh là một liên minh độc quyền luôn
tìm cách giữ giá dầu ở mức có lợi nhất cho mình. OPEC giữ một vị trí quan
trọng nhất trên thị trờng dầu mỏ thế giới. Các mốc chính đánh dấu hoạt động
của OPEC.
* 14/9/1960: thành lập tổ chức OPEC theo đề xuất của Venezuela tại
Baghdad.
* 1965: Dời trụ sở về Viên. Các thành viên thống nhất một chính sách khai
thác chung để bảo vệ giá.
* 1970: Nâng giá dầu lên 30%., nâng thuế tối thiểu áp dụng cho các công
ty khai thác dầu lên 55% của lợi nhuận.
thùng dầu thì trong quý IV giá đã vợt trên 37 USD/thùng. Các nớc thành viên
của OPEC đồng ý giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng.
* 1/2005: OPEC quyết định giữ nguyên lợng khai thác 27 triệu thùng. Các
thành viên đã nhất trí tạm ngng không giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng.
3. Những biến động trên thị trờng dầu mỏ thế giới
Kể từ khi có ngành công nghiệp dầu khí đến nay, với khởi đầu Công nghiệp
dầu khí Mỹ, rồi khi Nga bắt đầu xuất khẩu dầu (1884), và phát hiện vùng dầu
Texas vào cuối thế kỷ XIX, những năm đầu thế kỷ XX Venezuala bắt đầu khai
thác dầu, đến chiến tranh thế giới lần thứ hai thì về cơ bản giá dầu cũng chỉ ở
mức từ 5 - 7 USD/1 thùng. Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đã liên tiếp xảy ra
nhiều cuộc khủng hoảng giá dầu. Đặc biệt trong những năm gần đây giá dầu thế
giới luôn ở mức cao, gây ra sự biến động trên thị trờng dầu mỏ đặc biệt là từ
năm 2004 đến nay.
Từ năm 1948 đến những năm cuối 1960, giá dầu trung bình của thế giới chỉ
dao động từ 2,5 - 3 USD/1 thùng. Sự ra đời của các nớc thành viên OPEC đảm
bảo cho sự ổn định về giá dầu. Cú sốc giá dầu lần thứ nhất bắt đầu vào cuối
tháng 10/1973 khi Syria và Ai Cập tấn công isarel. Mỹ và các nớc phơng tây đã
hỗ trợ mạnh cho isarel. Trả đũa cho hành động này, hàng loạt các nớc xuất khẩu
dầu trong khối arab đã cấm vận xuất dầu cho các nớc thân với isarel. Họ đã cắt
giảm lợng dầu sản xuất từ 5 triệu thùng một ngày xuống còn một triệu thùng.
Kết quả là trong vòng 6 tháng, giá dầu thế giới đã tăng 400%. Từ năm 1972 -
1978, giá dầu dao động từ 12 - 14 USD/1 thùng so với giai đoạn trớc chỉ có 3
USD/1 thùng. Lần biến động tiếp theo đợc châm ngòi bằng cuộc chiến tranh
giữa iran và iraq năm 1979. Kết quả là lợng dầu sản xuất của hai quốc gia này
sụt giảm. Giá dầu lập tức tăng từ 14 USD/1 thùng năm 1978 lên 38 USD/1
thùng năm 1981, tức tăng 271%. Cú sốc giá dầu thứ ba xảy ra vào giai đoạn
iraq tấn công Kuwait năm 1990 - 1991. Giá dầu từ mức 20 USD/1 thùng đã tăng
lên 35 USD/1 thùng vào tháng 10/1990.
Lần giá dầu tăng vọt gần đây là vào năm 2002. Theo dõi diễn biến giá dầu
thô từ đầu năm 2002 đến nay, nếu bỏ qua các thăng giáng đột xuất, ngắn ngày,
2000 có 13 mỏ mới đợc phát hiện với trữ lợng 500 triệu thùng trở lên, năm 2001
giảm xuống còn 6 mỏ, năm 2002 phát hiện 2 mỏ và đến năm 2003 chỉ còn 1 mỏ
thuộc tầm cỡ nói trên. Các mỏ có trữ lợng trên 500 triệu thùng cung cấp đến
80% sản lợng dầu tiêu thụ trên thị trờng thế giới, do đó hiện tợng cạn kiệt dầu
trở thành một nguy cơ đối với toàn cầu.Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ dầu
không ngừng gia tăng, đặc biệt ở những nớc đang phát triển, nhất là Trung
Quốc và ấn Độ. Và từ năm 2003, Mỹ đã tăng mức dự trữ dầu thô chiến lựoc lên
đến 700 triệu thùng, cũng làm cho nhu cầu sử dụng dầu trên thế giới tăng lên.
Để đảm bảo an ninh năng lợng, các nớc công nghiệp đều lo dự trữ dầu và tìm
cách khống chế các nguồn cung dầu bằng các biện pháp quân sự, gây bất ổn
định chính trị xã hội.
Những tác động về mặt kinh tế toàn cầu cũng có ảnh hởng không nhỏ đến sự
biến động của giá dầu. Nền kinh tế thế giới ngày càng tăng trởng mạnh. Cùng
với việc tăng trởng, thì nhu cầu sử dụng dầu thô cũng tăng theo; đặc biệt là nhu
cầu dầu thô của Trung Quốc, Mỹ và ấn Độ trong đó Trung Quốc chiếm đến
40% lợng dầu tăng của toàn thế giới. Năm 2003, Trung Quốc đã vợt Nhật Bản
và trở thành quốc gia thứ hai tiêu thụ dầu thô trên thế giới, sau Mỹ. Nhìn chung
các nguồn năng lợng của Trung Quốc tơng đối phong phú nhng chủ yếu là than
đá, còn dầu mỏ và khí đốt là để phục vụ nhu cầu trong nớc vẫn còn thiếu hụt.
Trong 10 năm qua mức tiêu thụ dầu mỏ của Trung Quốc tăng khoảng 6%/năm
trong khi sản lợng dầu chỉ tăng 1,5%. Chính sách truyền thống về tự cung tự cấp
dầu mỏ nay đã trở thành dĩ vãng. Là nớc nhập khẩu lớn thứ hai trên thế giới sau
Mỹ và chiếm 40% mức tăng tiêu thụ dầu mỏ thế giới, hàng ngày Trung Quốc
nhập khẩu khoảng hai triệu thùng, tơng đơng 270.000 tấn. Chính phủ Trung
Quốc dự báo đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên 9,8 triệu thùng, tơng đơng
1,35 triệu tấn. Đến năm 2020, theo nh cam kết tăng gấp bốn lần GDP hiện nay
tại Đại hội Đảng thứ XVI, Trung Quốc sẽ nhập khẩu khoảng 250 triệu tấn dầu
mỗi năm và trở thành quốc gia nhập khẩu dầu lớn nhất trên thế giới.
Bên cạnh đó, chính trị cũng là một nhân tố rất quan trọng gây nên sự biến
động trên thị trờng dầu mỏ. Trớc mắt, chính trị dầu mỏ không phải liên quan
nguồn năng lợng mới. Để giữ cho giá xăng dầu nội địa ít biến động, các nớc
này rất tích cực lập kho dự trữ chiến lợc, đặc biệt là Mỹ, mục tiêu dầu dự trữ
phải đủ dùng trong 9 tháng, Trung Quốc mục tiêu này là 3 tháng.
Chơng II: Tác động của sự biến động thị trờng
dầu mỏ thế giới đối với hoạt động xuất khẩu
dầu mỏ của Việt Nam.
I. Thực trạng xuất khẩu dầu mỏ của Việt Nam
1. Khai thác dầu mỏ ở Việt Nam
Công tác tìm kiếm thăm dò dầu mỏ trên đất liền miền Bắc đã bắt đầu từ
những năm 60 của thế kỷ trớc và thực sự đợc mở rộng ra toàn lãnh thổ và lãnh
hải Việt Nam từ sau ngày đất nớc thống nhất. Ngày 26/6/1986 đã đánh dấu sự
bắt đầu của ngành công nghiệp khai thác dầu khi mỏ Bạch Hổ (thuộc thềm lục
địa phía Nam, ngoài khơi tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đã khai thác dòng dầu đầu
tiên và chính thức đa Việt Nam vào danh sách các nớc xuất khẩu dầu thô từ năm
1991. Điều đặc biệt quan trọng mang tính bớc ngoặt là vào năm 1988 đã khẳng
định nguồn trữ lợng dầu lớn tích tụ trong đá móng granít nứt nẻ và đã đợc khai
thác. Từ đó đến nay, móng granít nứt nẻ thuộc mỏ Bạch Hổ luôn đóng vai trò
chủ lực trong khai thác dầu của Việt Nam. Với việc phát hiện và đa vào khai
thác dầu từ móng granít nứt nẻ tại mỏ Bạch Hổ, ngành dầu khí Việt Nam chẳng
những đã chứng tỏ đợc sự lớn mạnh của mình mà còn mang đến cho nền công
nghiệp dầu thế giới những quan điểm hết sức mới mẻ về việc tìm kiếm, thăm
dò, khai thác dầu trong đá móng granít nứt nẻ, một đối tợng mà từ trớc đến nay
thờng ít đợc chú ý.
Sau gần 30 năm hoạt động, sản lợng trung bình ngày trong năm 2004 là 400
nghìn thùng (53 nghìn tấn) dầu thô. Điều này đã đa Việt Nam trở thành quốc gia
đứng thứ ba về sản xuất và xuất khẩu dầu trong khu vực. Hiện tại, trên thềm lục địa
và đất liền của nớc ta có các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông, Hồng
Ngọc, S Tử Đen, Cái Nớc, Bunga Kekwa, Bunga Raya, Bunga Seroja, Lan Tây và
Tiền Hải C đang khai thác. Cho tới thời điểm hết tháng 10/2004, tổng sản lợng
khai thác đợc là 16,95 triệu tấn dầu thô đạt 97,5% kế hoạch năm. Nhà sản xuất dầu
Việt Nam đứng thứ 31 trong số các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ về sản lợng
dầu xuất ra so sánh với các quốc gia khác trên thế giới và khu vực. Dầu thô giữ
vị trí số một trong xuất khẩu song kim ngạch xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào
biến động giá cả trên thị trờng quốc tế. Năm 2002, giá dầu ít biến động so với
năm 2002 và kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 4,6% chủ yếu nhờ vào tăng sản lợng
khai thác. Đến năm 2003 sản lợng xuất khẩu dầu thô đạt 17169 nghìn tấn với
tổng giá trị xuất khẩu là 3777 triệu USD. Hoạt động thăm dò, khai thác và sản
xuất dầu thô trong năm 2003 tiến triển tốt, dầu thô khai thác đạt 17,34 triệu tấn,
tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trớc. Trong năm 2004, ngành dầu khí Việt Nam