Đề tài: Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001-2007
Chương I.
Lý luận chung về than khoáng sản Việt Nam
1.1. Sơ lược về than khoáng sản
1.1.1. Đặc điểm của than
Than là một trong những tài nguyên khoáng sản trong lòng đất của quốc gia, cùng
với các loại khoáng sản khác như: Đồng, chì, kẽm, thiếc…đã tạo thành một nguồn tài
nguyên khoáng sản đa dạng phong phú và có giá trị của Việt Nam.
Than là một trong những loại nhiên liệu hóa thạch được hình thành ở các hệ sinh
thái đầm lầy, các xác cây cối thực vật được nước và bùn lưu giữ khỏi bị oxi hóa và phân
hủy bởi sinh vật mà hình thành nên than đá ngày nay. Thành phần chính của than là chất
Cacbon, ngoài ra còn có các chất khác như lưu huỳnh. Với thành phần chính của than là
chất Cacbon nên than có tính năng là đốt cháy tốt và sinh ra lượng nhiệt lớn, vì vậy than
là nguồn nguyên liệu sản xuất điện năng lớn nhất thế giới. Hiện nay, lượng than được
khai thác trên thế giới và Việt Nam được sử dụng trong các ngành năng lượng, phục vụ
sản xuất nhà máy nhiệt điện và các ngành công nghiệp sử dụng chất đốt… Than đang
được khai thác từ các mỏ than lộ thiên hay nằm sâu dưới lòng đất.
Ngày nay, với trình độ công nghệ hiện đại, công tác thăm dò và khai thác đã giúp
con người phát hiện ra nhiều tài nguyên khoáng sản có giá trị đồng thời khai thác có hiệu
quả hơn đối với nguồn tài sản quốc gia này. Việt Nam được đánh giá là có nguồn dự trữ
than đá đáng kể và có giá trị về mặt kinh tế, trong tài nguyên về khoáng sản thì than đá là
nguồn tài nguyên có trữ lượng và hiệu quả kinh tế lớn nhất. Theo Cơ quan Năng lượng
quốc tế thì trữ lượng than hiện nay trên thế giới rất lớn, khoảng 910 tỷ tấn, đủ cho sản
xuất trong 155 năm với tốc độ như hiện nay và nếu như không có sự đột biến nào thì nhu
cầu sử dụng than trên thế giới sẽ tăng gấp 3 lần từ nay đến năm 2050. Theo các cuộc
thăm dò và khai thác thì than hiện diện ở khắp nơi trên thế giới và được sử dụng chủ yếu
trong các nhà máy nhiệt điện, sản xuất xi măng, phục vụ các ngành công nghiệp và nhu
cầu sinh hoạt của người dân, nhưng được sử dụng lớn nhất là trong các nhà máy nhiệt
điện, do đó 40% lượng điện được sản xuất trên toàn cầu là từ các nhà máy nhiệt điện
dùng than.
1
với lượng than khai thác được trong năm 1985 và tăng 835 nghìn tấn so với năm trước
1986. Với lượng than khai thác tăng lên qua các năm nên lượng than tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu cũng không ngừng tăng lên hằng năm trong giai đoạn, lượng than sử dụng
cho các nhà máy nhiệt điện trong nước chiếm 34% - 50% trong tổng số than được tiêu
2
2
Đề tài: Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001-2007
thụ nội địa. Trong năm 2008, toàn ngành than đã bốc 29,2 triệu m3 đất và đã khai thác
được 7605 nghìn tấn than nguyên khai, sàng tuyển được 6304 nghìn tấn than sạch để đưa
đi tiêu thụ trên thị trường.
Bảng: Sản xuất và kinh doanh than trong giai đoạn 1985 – 1994
(Đơn vị: 1000 tấn)
1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994
Than
nguyên
khai
6295 6855 7690 7605 4221 5198 4895 5226 5835 7575
Tiêu thụ 5689 6120 6340 5657 3873 4091 4128 4852 5351 6000
Xuất khẩu 640 620 201 314 528 676 920 132 182 215
Tiêu thụ
nội địa
5049 5500 6139 5343 3345 3415 3208 3528 3526 3850
(Nguồn: Số liệu lịch sử ngành than – Bộ Năng lượng)
Nhưng từ năm 1989, tổ điện của nhà máy thủy điện Hòa Bình lần lượt được đưa
vào vận hành sử dụng và nền kinh tế Việt Nam bị khủng hoảng thì nhu cầu sử dụng than
bị suy giảm, lượng than khai thác từ lòng đất cũng giảm sút so với các năm trước đó dẫn
đến tình trạng giảm sút trong kinh doanh và tiêu thụ của ngành than Việt Nam. Có thể nói
trong giai đoạn 1991-1994 là giai đoạn khủng hoảng nhất của ngành than, khi mà nạn
khai thác than trái phép lại phát triển, cùng với tình hình thị trường tiêu thụ lũng đoạn
nên đã đẩy các mỏ than chính thống phải cắt giảm sản xuất, hạn chế bóc đất, giảm đào lò,
trước đây, nhờ có sự đổi mới trong tư duy và ứng dụng công nghệ mới theo kinh nghiệm
của các nước tiên tiến trên thế giới. Một số chiến lược cụ thể và mang tính quyết định
được ngành than cụ thể hóa như:
● Bảo vệ môi trường và giữ gìn cảnh quan là mục tiêu quan trọng trong chiến
lược phát triển bền vững của ngành than Việt Nam, để khắc phục hậu quả suy thoái môi
trường ở các vùng mỏ sau nhiều năm để lại, ngành than Việt Nam đã có các cuộc khảo
sát và đánh giá tác động của hoạt động khai thác than đến môi trường của vùng mỏ rồi
đưa ra các giải pháp và chương trình để cải thiện môi trường. Tổng công ty đã quyết định
thành lập Qũy môi trường Than Việt Nam trên cơ sở sử dụng 1% chi phí tính thêm vào
giá thành được Chính phủ cho phép và các nguồn huy động khác, qua đấy đã đầu tư
trồng mới và chăm sóc được 1780 ha rừng trong ranh giới mỏ, tạo nguồn gỗ chống lò
phục vụ trong quá trình khai thác của các hầm lò. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thành
viên đã có nhiều biện pháp để tăng cường cải tạo, nâng cấp đường sá, giảm thiểu bụi
4
4
Đề tài: Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001-2007
trong công tác khoan nổ mìn, bốc xúc và sàng tuyển, vận chuyển than, cải thiện điều kiện
làm việc cho lao động.
● Đầu tư đổi mới công nghệ là chiến lược quan trọng hàng đầu được Tổng công
ty than đặc biệt quan tâm, nhằm khai thác tối đa cơ sở vật chất, tài sản sẵn có, nâng cao
mức độ đảm bảo an toàn trong sản xuất; Cải thiện điều kiện làm việc cho lao động, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao chất lượng than trong nguyên khai, than sạch và tỷ lệ
thu hồi than đồng thời tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đa dạng hóa sản
phẩm theo nhu cầu của thị trường. Tại các mỏ lộ thiên, công nghệ xuống sâu đã được áp
dụng và ngày càng hoàn thiện hơn đồng thời các mỏ được trang bị máy xúc thủy lực gần
ngược và áp dụng công nghệ xúc chọn lọc nên giảm thiểu được hệ số bóc đất ở một số
mỏ. Công nghệ cột chống thủy lực đơn và giá thủy lực di động cũng được đưa vào sử
dụng tại một số hầm lò, giảm được tổn thất than từ 40%-50% xuống còn 15%-20%, giảm
tiêu hao gỗ chống lò, giảm tỷ lệ gỗ dăm trong than và đảm bảo được an toàn cho người
lao động. Bên cạnh việc đầu tư đổi mới công nghệ cho khai thác than, các doanh nghiệp
ngắn hạn, dài hạn với cơ chế giá mềm dẻo, cạnh tranh để tăng cường khả năng kiểm soát
và mở rộng thị trường tiêu thụ than trong và ngoài nước, đưa than sản phẩm đến tận nơi
sử dụng và mở rộng mạng lưới bán than đến các tỉnh, thành phố trong cả nước, bao gồm
cả thị trường nông thôn, miền núi.
Trong giai đoạn sản xuất và kinh doanh 1995-2001, ngành than khoáng sản Việt
Nam cũng gặt hái được nhiều thành công trong khai thác, chế biến và xuất khẩu. Bằng sự
nỗ lực của chính Tổng công ty đã giúp cho lượng than khai thác và than sản phẩm xuất
khẩu hàng năm không ngừng gia tăng, đó là một dấu hiệu đáng mừng trong việc đầu tư
đổi mới công nghệ trong quá trình khai thác và chiến lược phát triển thị trường của công
ty đưa ra trong những năm đầu thành lập. Việc đổi mới công nghệ cọc chống trong hầm
lò hay công nghệ khai thác các mỏ lộ thiên, đổi mới và cải tiến công nghệ trong giai đoạn
vận chuyển trên băng chuyền… cùng với việc phát triển thị trường, bạn hàng đã mang
đến cho ngành than một số thành công nhất định.
6
6
Đề tài: Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001-2007
Bảng: Sản xuất và kinh doanh than trong giai đoạn 1995-2001
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001
Than tiêu thụ
(1000 tấn)
7592 9653 10779 10721 10500 11467 12500
- Xuất khẩu 2783 3666 3525 2900 3300 3076 4000
- Trong
nước
4809 5987 7254 7821 7200 8333 8500
Doanh thu tiêu
thụ (tỷ Đồng)
1917 2584 2953 2953 2792 3114 3675
- Xuất khẩu 955 1262 1323 1246 1328 1765 1850
- Trong
Tuy trong khai thác than thành phẩm tăng nhanh nhưng lại xuất hiện dấu hiệu chững lại
của hoạt động kinh doanh xuất khẩu do những ảnh hưởng ban đầu của cuộc đại khủng
hoảng tài chính – tiền tệ châu Á trong năm 1997, sản lượng tiêu thụ giảm, doanh thu từ
hoạt động xuất khẩu tăng nhẹ và đó là dấu hiệu đầu tiên cho những giảm sút của doanh
thu trong những năm tiếp theo. Đánh giá trong những năm 1995-1997, ngành than của
Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc nhờ biết phát huy được nội lực, công nghệ mới
áp dụng và những chính sách phát triển hợp lý, đóng góp vào ngân sách nhà nước 471 tỷ
Đồng trong 3 năm 1995-1997.
Năm 1998, sau khi chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực
nên đã tác động đến than xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới về lượng lẫn về giá cả,
ngành than của Việt Nam phải cạnh tranh hơn khi mà cung vượt quá cầu trên thị trường, nhưng
nhờ sự mềm dẻo trong quan hệ bạn hàng và có các mối quan hệ bạn hàng lâu năm nên lượng
than xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì tại mức 3 triệu tấn và giữ được 25%-30% thị phần than
Antraxit buôn bán thế giới. Thị trường trong nước cũng có sự giảm sút trong tiêu thụ, đặc biệt là
năm 1999, lượng than tiêu thụ giảm hơn 600 tấn so với năm 1998 và doanh thu kinh doanh than
của Việt Nam đã giảm xuống từ 2953 tỷ Đồng năm 1998 xuống 2792 tỷ Đồng cả năm 1999. Cho
đến năm 2001, Tổng công ty than Việt Nam đã mở rộng quan hệ dài hạn với các nhà tiêu thụ
như: Nhật Bản, Hungari, Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Đài Loan, Hà lan, Hàn Quốc, Nam
Phi… Về thị trường xuất khẩu, công ty không chỉ duy trì ở các thị trường tiêu thụ tiềm năng mà
còn mở rộng ra các thị trường mới nên sản phẩm than của công ty đã có mặt tại khoảng 40 nước
trên thế giới, và công ty cũng đã tiến hành ký kết nhiều hợp đồng cung cấp than dài hạn cho
khách hàng.
Các giai đoạn phát triển và trưởng thành của ngành than Việt Nam từ năm 1855
đến nay, có thể nhìn nhận mô hình quản lý ngành than từ trước đến nay:
● Từ tháng 4/1955 đến tháng 7/1960, ngành than do Bộ Công nghiệp quản lý.
● Từ tháng 7/1960 đến tháng 8/1969, ngành than do Bộ Công nghiệp nặng quản lý.
● Từ tháng 8/1969 đến tháng 1/1981,ngành than do Bộ Điện và Than quản lý.
● Từ tháng 1/1981 đến tháng 3/1987, ngành than thuộc sự quản lý của Bộ Mỏ và Than.
● Từ tháng 3/1987 đến tháng 10/1994, ngành than thuộc sự quản lý của Bộ Năng lượng.
● Từ tháng 10/1994, ngành than của Việt Nam chịu sự quản lý của Tổng công ty than
măng, khai thác khoáng sản, các ngành nghề giải quyết được nhiều lao động nữ (may
mặc, giày da hay dịch vụ…). Trên cơ sở liên kết, hợp tác với các doanh nghiệp khác và
tận dụng thế mạnh của địa phương, phát huy năng lực quản lý, sử dụng lao động và tận
dụng tối đa cơ sở vật chất, công nghệ.
● Phương châm phát triển: ngành than Việt Nam đã xác định phương châm phát
triển là “Cùng phát triển với bạn hàng” mà trước hết là hợp tác cùng các tổng công ty,
9
9
Đề tài: Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001-2007
công ty trong nước, giúp đỡ nhau, phân chia thị trường và định giá phù hợp với khả năng
chịu đựng của các bạn hàng. Tổng công ty than Việt Nam cũng tạo điều kiện để các công
ty nước ngoài nghiên cứu và sử dụng sản phẩm than của Việt Nam, thúc đẩy quá trình
hợp tác quốc tế.
● Mục tiêu chiến lược đề ra trong tương lai là tiêu thụ được 18-20 triệu tấn than
thương phẩm.
1.2. Tình hình sản xuất than xuất khẩu Việt Nam trong thời gian qua
1.2.1. Phân bố than ở Việt Nam
Qua các cuộc nghiên cứu và khảo sát, người ta đã xác định được các trầm tích tạo
ra than và hình thành các mỏ than ở Việt Nam rải rác từ Cao Bằng cho đến Quảng Nam-
Đà Nẵng, với các bể than lớn nhỏ khác nhau và nhiều loại than: than gầy (Than Antraxit),
than non, than bùn và than mỡ… Nhưng các thành hệ quặng hình thành nên các mỏ than
lớn đều tập trung ở miền bắc nước ta, trong thành hệ quặng đấy có thể được chia làm 2
đới trầm tích chứa than chính, đó là: Bể than Quảng Ninh và Bể than Đồng bằng Bắc bộ.
Theo số liệu của Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam công bố, tổng trữ lượng than
của Việt Nam trên 220 tỷ tấn, trong đó khu mỏ than Quảng Ninh có trữ lượng khoảng
10,5 tỷ tấn và khu mỏ vùng đồng bằng sông Hồng có trữ lượng khoảng 210 tỷ tấn nằm
rải rác trên diện rộng.
● Bể than Antraxit Quảng Ninh: nằm về phía Đông bắc Việt Nam, về địa lý được
xác định từ Phả Lại qua Đông Triều – Hòn Gai, Mông Dương – Cái Bầu – Vạn Hoa, bể
than này kéo dài 130 km, rộng 10-30 km. Theo nghiên cứu thì bể than Quảng Ninh có trữ
tuy nhiên hàm lượng tro trong mỏ than này khá cao (20%) nhưng vẫn có thể chế biến
thành than cốc. (3) mỏ Suối Hoa, (4) mỏ Đầm Đùn, (5) mỏ Đồi Hoa…
Trên đây là một số mỏ than chính trong hai bể than lớn của miền bắc Việt Nam,
đó là những mỏ than lớn có thể cung cấp một số lượng lớn than hàng năm phục vụ trong
các ngành công nghiệp và xuất khẩu. Nhìn vào triển vọng có thể thấy lượng than Antraxit
có giá trị kinh tế lớn và có thể khai thác ở một số mỏ lộ thiên là một điều kiện tốt để phát
triển ngành than, gia tăng lượng than khai thác hàng năm của Tổng công ty than Việt
Nam và hơn hết là đủ lượng than tốt phục vụ các ngành công nghiệp năng lượng như
nhiệt điện, luyện kim hay sản xuất xi măng…/
1.2.2. Một số đặc điểm than sản phẩm Việt Nam
Trong bể than Đồng bằng Bắc bộ có trữ lượng chủ yếu là loại than mỡ thì trong bể
than Quảng Ninh lại chứa chủ yếu là loại than Antraxit, một loại than có giá trị kinh tế và
chất lượng cao khi sử dụng trong các ngành công nghiệp năng lượng. Than Antraxit của
Việt Nam được biết đến với chất lượng tốt, ít khói, nhiệt lượng tỏa ra cao, hàm lượng
11
11
Đề tài: Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001-2007
Nitơ và Lưu huỳnh thấp, ít gây ô nhiễm môi trường… đặc biệt là trong hơn 10 năm trở
lại nay, than Antraxit của Việt Nam đã xuất khẩu sang nhiều thị trường trên thế giới như:
Anh, Pháp, Mỹ, Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… Than xuất khẩu của Việt
Nam đã giữ một vai trò quan trọng trên thị trường quốc tế về chất lượng cũng như sản
lượng tiêu thụ, lượng than xuất khẩu của Việt Nam được sử dụng trong các ngành: Luyện
kim, nhiệt điện, hóa chất… Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như nhu cầu phát
triển và tiêu thụ than trên thị trường, than Antraxit xuất khẩu cũng được chia thành các
loại khác nhau để đáp ứng các loại khách hàng và từng loại thị trường tiêu thụ, tùy theo
mục đích sử dụng khác nhau để tự do lựa chọn.
Trong cơ cấu than xuất khẩu của Việt Nam, hiện nay than xuất khẩu chủ yếu vẫn
là than Antraxit của mỏ than Quảng Ninh,cơ bản được phân chia thành các loại sau:
12
Số 7 0 – 15 8 8 – 10 6 – 8 0,6 82 7800-7600
Số 8 0 – 15 8 10 – 15 6 – 8 0,6 77 7600-7200
Số 9 0 – 15 8 15 – 22 6 – 8 0,6 70 7200-6500
Số 10 0 – 15 8 22 – 32 6 – 8 0,6 60 6500-5600
Số 11 0 – 15 8 32 – 42 6 – 8 0,6 50 5500-4600
(Nguồn: Tổng công ty Than Việt Nam)
Các tiêu chí để phân loại than xuất khẩu vẫn là các chỉ tiêu về: cỡ hạt, độ ẩm, độ
tro, chất bốc, hàm lượng lưu huỳnh, cacbon và nhiệt lượng, trong đó yếu tố nhiệt lượng
tỏa ra là yếu tố quan trọng nhất bởi vì yếu tố nhiệt lượng tỏa ra quyết định sự vận dụng
than trong các ngành công nghiệp năng lượng, dựa vào nhiệt lượng tỏa ra mà người ta có
thể sử dụng một lượng than hợp lý và tiết kiệm.
1.3. Tầm quan trọng của ngành than khoáng sản Việt Nam
1.3.1. Tầm quan trọng của ngành than trong nền kinh tế - xã hội
Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới, với ước
tính có khoảng 4 tỷ tấn than Antraxit. Với trữ lượng than phân bố chủ yếu là ở độ sâu
dưới 500m trong khi lượng than ở các mỏ lộ thiên lại rất nhỏ, khoảng 300 triệu tấn nên
gặp không ít khó khăn trong việc khai thác. Hơn nữa, Việt Nam có trữ lượng khoảng 17
tỷ tấn than nâu thích hợp cho việc sử dụng trong các ngành công nghiệp nồi hơi, nhưng
phần lớn lượng than này nằm dưới Đồng bằng châu thổ sông Hồng nên số than này sẽ rất
khó khăn trong việc khai thác do việc ảnh hưởng đến diện tích đất nông nghiệp và ảnh
13
13
Đề tài: Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001-2007
hưởng của lượng nước ngầm cao. Than Antraxit nằm chủ yếu ở vùng mỏ Quảng Ninh
còn than nâu chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng.
Ngành than là một bộ phận của nền kinh quốc dân thống nhất, phát triển của
ngành than phải đặt trong sự phát triển của các ngành liên quan và đặt trong tổng thể phát
triển của nền kinh tế và xã hội. Ngành than là một trong những ngành công nghiệp mang
tính chất hạ tầng và là nguồn cung cấp đầu vào phục vụ cho nhiều ngành kinh tế khác.
thụ
(1000 tấn)
11467 12500 15700 18100
- Xuất
khẩu
3076 4000 6600 6600
- Trong
nước
8333 8500 9100 11500 14500
Doanh thu
tiêu thụ (tỷ
Đồng)
3114 3675
Nạp ngân
sách
(tỷ Đồng)
155 165
(Nguồn: Tổng công ty Than Việt Nam)
● Ngành than đóng góp vào giá trị gia tăng của đất nước – giá trị GDP. Mỗi năm,
ngành than đã đóng góp vào giá trị GDP hàng ngàn tỷ đồng, năm 1995 giá trị đóng góp
của ngành than mới chỉ khoảng 120 tỷ Đồng thì đến năm 2004 giá trị đóng góp của
ngành than đã đạt mức 6 ngàn tỷ Đồng và mức độ đóng góp này ngày càng tăng lên,
trong giai đoạn 1995 đến 2004, tốc độ trung bình đóng góp của ngành than đối với nhà
nước đạt 19,1%. Không những thế, trong hoạt động xuất khẩu than hàng năm, ngành
cũng đã thu về một lượng ngoại tệ lớn, năm 2004 lượng ngoại tệ thu về đạt 322 triệu
USD.
Về xã hội
Ngành than đã trực tiếp tạo ra việc làm cho hàng chục nghìn việc làm cho người
lao động và gián tiếp tạo việc làm cho hàng chục vạn người ở các ngành kinh tế khác.
Theo số liệu tổng kết của ngành than về số lượng lao động tham gia hoạt động trong
Tuy nhiên trong việc khai thác than, đặc biệt là hoạt động khai thác trong hầm lò
luôn tiềm ẩn những rủi ro nổ lò, cháy lò, bục nước, sập lún hầm lò… Hậu quả là người
lao động gánh chịu, bên cạnh đấy cũng có nhiều lao động mắc bệnh nghề nghiệp … đấy
cũng là một vấn đề lớn đặt ra cho ngành trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của
đại bộ phận lao động của ngành.
Về bảo vệ môi trường
Từ khi được thành lập vào năm 1994, Than Việt Nam đã thực hiện nhiều biện
pháp cải thiện môi trường vùng mỏ khai thác theo tinh thần đảm bảo sự phát triển bền
16
16
Đề tài: Hoạt động xuất khẩu Than khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2001-2007
vững của ngành than và các vùng than. Với phương châm và mục tiêu đặt ra trong công
tác bảo vệ môi trường, ngành than đã có nhiều hoạt động có ý nghĩa trong việc quản lý
môi trường và giảm thiểu các ô nhiễm do hoạt động khai thác. Có thể những kết quả
trong công tác quản lý môi trường của ngành than không triệt để hay chưa kiểm soát
hoàn toàn lượng ô nhiễm của hoạt động khai thác gây ra nhưng những hành động của
ngành đã tạo động lực và bước đi đầu cho những ngành công nghề khác học tập và làm
theo trong công tác bảo vệ môi trường, khắc phục sự suy thoái của môi trường sống xung
quanh con người. Một số kết quả mà ngành than đạt được:
● Hầu hết các mỏ và các đơn vị sản xuất – kinh doanh đã lập và được duyệt báo
cáo đánh giá tác động môi trường, là cơ sở ban đầu cho việc quan trắc, quản lý môi
trường và thực hiện các giải pháp kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm. Bên cạnh đấy, các
mỏ và các nhà máy sàng tuyển đã, đang và thực hiện các dự án xây dựng các công trình
chống bụi, thoát nước, xử lý nước thải, thực hiện nạo vét sông suối, khôi phục một số hồ
nước ở Quảng Ninh, xây kè đập ở chân bãi thải đất đá của quá trình khai thác và trồng
cây xanh xung quanh các vùng mỏ, thực hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc…
tổng cộng đã trồng mới và chăm sóc được hơn 2 nghìn ha.
● Với sự tài trợ của UNDP đã thực hiện dự án VIE/95/003 về bảo vệ môi trường
trong khai thác mỏ lộ thiên ở vùng mỏ than Quảng Ninh. Ngoài ra, ngành cũng đã và
đang thực hiện các dự án về bảo vệ môi trường khác do các tổ chức quốc tế tài trợ như:
bình quân hàng năm khoảng 12%/năm, với năm 2003 đạt 18,7 triệu tấn, năm 2004 tăng
lên đến 25,4 triệu tấn… Trong những năm qua, cường độ sử dụng năng lượng của Việt
Nam không ngừng được tăng lên, đó là điều tất yếu khi mà Việt Nam đang trong giai
đoạn đầu công nghiệp hóa nên thực hiện quá trình thay đổi năng lượng phi thương mại
(củi gỗ, than gỗ, phụ phẩm nông nghiệp…) bằng các nguồn năng lượng thương mại. Bên
cạnh đó, nhà nước Việt Nam cũng đang thực hiện chính sách trợ giá năng lượng và áp
dụng chính sách giá năng lượng thấp cũng như việc sử dụng các nhà máy, các thiết bị có
hiệu suất thấp và đã quá thời hạn sử dụng cũng làm tăng cường độ sử dụng nănh lượng;
Cường độ sử dụng năng lượng của Việt Nam theo giá hiện hành hiện nay là khoảng 400
kgOE/1000 USD, trong khi giá trị bình quân của các nước đang phát triển OECD là
130,5, giá trị bình quân của thế giới là 176,5 và một số nước trên thế giới như: Thái Lan
248, Inđônêxia 319, Malaixia 262, Trung Quốc 538, Hàn Quốc 209 và Nhật Bản 61…
Xét về hệ số đàn hồi giữa năng lượng và GDP (tỷ số giữa tốc độ tăng tiêu thụ
năng lượng và tốc độ tăng trưởng GDP trong cùng một giai đoạn) – một trong những chỉ
tiêu quan trọng đánh giá mối quan hệ giữa Năng lượng và Kinh tế trong cùng một giai
đoạn nghiên cứu.
18
18