MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21 với những đặc
trưng mang tính thời đại là xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với đó là sự
phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ đã đưa thế giới chuyển từ kỷ
nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên công nghệ thông tin và nền kinh tế tri
thức. Nó đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực hoạt
động xã hội, trong đó có giáo dục. Sự biến đổi đó trước hết là yêu cầu mới
của xã hội về mẫu hình nhân cách của lực lượng lao động xã hội, từ đó dẫn
đến những tư duy mới về Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) là một lĩnh vực hoạt
động xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển nguồn
nhân lực, đây là yếu tố quyết định phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Để có
thể phát triển theo kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới thì vai
trò của giáo dục càng rõ nét, ở nước ta năng lực của đội ngũ cán bộ, viên chức
ngành giáo dục sẽ quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả giáo dục
cũng như quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực để thực hiện thành công
mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước.
Lực lượng giáo dục, trong đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên, là một trong
những thành tố cơ bản của quá trình GD&ĐT. Thành tố đó có vai trò quyết
định trong việc thực hiện nội dung và chương trình, phương pháp và hình
thức tổ chức giáo dục, theo nguyên lý và phương châm giáo dục để đạt tới
mục tiêu giáo dục. Đối với nền giáo dục nước ta có một đội ngũ GV là lực
lượng nòng cốt trong sự nghiệp giáo dục, người thầy giáo là chiến sĩ cách
mạng trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Đây chính là những người truyền thụ
cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạo đức cách mạng, bồi đắp cho các em nhân cách
văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo nên
những lớp người có ích cho xã hội. Chính những yếu tố này đòi hỏi đội ngũ
nhà giáo phải không ngừng học hỏi để có sự thay đổi về năng lực, phẩm chất
đáp ứng với yêu cầu đổi mới của giáo dục, của xã hội.
1
Tại Luật giáo dục năm 2005 đã khẳng định nhà giáo giữ vai trò quyết
đội ngũ GV THCS là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp thiết, đặc biệt
quan trọng đối với các xã đặc biệt khó khăn (xã 135). Trong nhiều năm qua,
công tác phát triển đội ngũ GV THCS tại các xã đặc biệt khó khăn còn rất
nhiều hạn chế, sự bất cập về số lượng, cơ cấu bộ môn; hạn chế trong quá trình
giao lưu, học hỏi kinh nghiệm nâng cao trình độ chuyên môn và đặc biệt là
nghiệp vụ sư phạm của GV chưa đáp ứng kịp với
những đòi hỏi và yêu cầu
ngày càng cao về việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc phát triển
KT - XH, xây dựng và bảo vệ tổ quốc của địa phương.
Xuất phát từ lý do trên, với mong muốn tìm ra những biện pháp để phát
triển đội ngũ GV THCS, tác giả mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Biện
pháp phát triển đội ngũ GV THCS thuộc các xã đặc biệt khó khăn của
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2015”, nhằm góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục của địa phương trong thời gian tới.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp
phát triển đội ngũ GV THCS thuộc các xã đặc biệt khó khăn của huyện Bắc
Quang, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 – 2015 nhằm góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục của địa phương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình quản lý đội ngũ GV THCS thuộc các xã đặc biệt khó khăn
của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS thuộc các xã đặc biệt khó khăn
của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2015.
3
4. Giả thuyết khoa học
Công tác phát triển đội ngũ GV THCS thuộc các xã đặc biệt khó khăn
của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang còn rất nhiều hạn chế, chưa đáp ứng
thiết và tính khả thi của các biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS thuộc các
xã đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tiến hành nghiên cứu, tổng kết
kinh nghiệm của một số đội ngũ CBQL như: Lãnh đạo UBND huyện, lãnh
đạo UBND các xã, Ban lãnh đạo phòng GD&ĐT huyện, các bộ phận chức
năng, một số trường trực thuộc,…
7.3. Phương pháp bổ trợ
Dùng phương pháp thống kê toán học, phân tích, xử lý các số liệu điều tra.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên THCS.
Chương 2: Thực trạng đội ngũ GV và công tác phát triển đội ngũ giáo
viên THCS tại các xã đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
Chương 3: Thực trạng đội ngũ GV và công tác phát triển đội ngũ GV THCS
thuộc các xã đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
5
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Cùng với quá trình phát triển KT - XH, các quốc gia luôn coi trọng phát
triển nền giáo dục của nước mình nhằm đáp ứng ngày càng cao về nâng cao
trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực và nền giáo dục của các nước đều
đã và đang phát triển theo hướng hiện đại hóa hội nhập với xu hướng phát
triển chung của thế giới. Bởi lẽ một nền giáo dục tốt, hiện đại sẽ tạo ra một
nguồn nhân lực tốt, nâng cao vị thế của quốc gia, không phải ngẫu nhiên mà
trong báo cáo phát triển con người của UNDP từ năm 1995 đến nay mà gần
đây nhất là báo cáo phát triển con người năm 2008 phần lớn các nước có chỉ
số HDI (chỉ số phát triển con người) cao. Điều đó đặt ra cho giáo dục Việt
- Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề phát
triển đội ngũ GV THCS vùng đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Quang, tỉnh
Hà Giang. Bởi vậy tác giả chọn đề tài: “Biện pháp phát triển đội ngũ GV
THCS thuộc các xã đặc biệt khó khăn của huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang,
giai đoạn 2011 - 2015” làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục tại địa phương.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Phát triển.
Theo từ điển tiếng Việt: “Phát triển là biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến
rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [14,797]. Theo quan điểm triết
học, phát triển là quá trình vận động đi lên của sự vật hiện tượng, trong đó có
sự gia tăng từ ít thành nhiều, từ thấp thành cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ
chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, từ hoàn thiện đến hoàn thiện hơn nữa,… Như
vậy, sự vật, hiện tượng, con người, xã hội hoặc biến đổi để tăng tiến về số
7
lượng, chất lượng hoặc là dưới tác động của bên ngoài làm cho biến đổi tăng
đều được coi là phát triển.
Theo đó trong lịch sử phát triển của con người, luôn mong muốn có
một cuộc sống tự do, dồi dào về vật chất, phong phú về tinh thần, không
ngừng được nâng cao về tri thức của mỗi người luôn được ấp ủ và theo đuổi
qua mọi thế hệ, mọi thời đại. Tuy nhiên trong những giai đoạn lịch sử khác
nhau, khi theo đuổi mục đích đó, trọng tâm và mục tiêu phát triển lại không
hoàn toàn giống nhau. Nửa thế kỷ trở lại đây, phát triển trở thành cơ hội thực
sự cho nhiều quốc gia, nhiều cộng đồng trên thế giới và cũng có nhiều cách
tiếp cận khác nhau về lý luận phát triển.
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ,
một cách phát triển khác có tính hệ thống, mang đậm tính chất nhân văn đã
được định hình rõ nét trong tư duy phát triển của nhiều quốc gia, đó là sự phát
triển bền vững, trong đó con người được coi là trung tâm của sự phát triển.
Người ta quan niệm: Phát triển là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người
hoạt động giáo dục trong nhà trường.
Từ đó ta có thể hiểu hơn về đội ngũ: Đó là sự gắn kết những cá thể với
nhau, hoạt động qua sự phân công, hợp tác lao động. Là những người có
chung mục đích, lợi ích và rằng buộc với nhau bằng trách nhiệm pháp lý.
1.2.3. Đội ngũ GV THCS.
Có nhiều tác giả có quan điểm khác nhau đề cập đến đội ngũ giáo viên,
trong đó một số tác giả nước ngoài có quan điểm: Đội ngũ GV là những
chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức, hiểu biết dạy học
và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng
của họ đối với giáo dục.
9
Luật Giáo dục năm 2005 quy định tại Khoản 3, Điều 70 thì khái niệm
giáo viên: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là
giảng viên”.[16]
Tác giả Phạm Viết Vượng có quan điểm về đội ngũ: “Đội ngũ GV
trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm cán bộ quản lý, GV và
nhân viên, nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là
đội ngũ GV và đội ngũ QLGD”[26,10].
Từ những quan điểm đã nêu trên của tác giả trong và ngoài nước, có
thể hiểu đội ngũ GV như sau: Đội ngũ GV là một tập hợp những người làm
nghề dạy học và giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một
nhiệm vụ, có đầy đủ tiêu chuẩn của một Nhà giáo, cùng thực hiện các nhiệm
vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật giáo dục và các Luật khác được
Nhà nước quy định.
Từ khái niệm đội ngũ GV nói chung ta còn có khái niệm đội ngũ GV
Tiểu học, đội ngũ GV THCS, đội ngũ GV THPT, đội ngũ GV dạy nghề, đội
ngũ GV trung học chuyên nghiệp.
Khi nói đến đội ngũ GV THCS, ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm
hệ thống. Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có
Sử dụng
nguồn nhân lực
Môi trường
nguồn nhân lực
Đào tạo, bồi
dưỡng, phát triển;
nhu cầu phục vụ
xã hội
Tuyển dụng; sàng
lọc, sử dụng, đánh
giá, đãi ngộ,…
Mở rộng loại việc
làm, mở rộng quy
mô việc làm, phát
triển tổ chức
số lượng, hợp lý về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ, nâng cao phẩm chất và
năng lực để đáp ứng việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của tổ chức. Nói
cách khác là tạo ra sự tăng trưởng bền vững về hiệu suất của mỗi thành viên
và hiệu quả chung của tổ chức gắn liền với việc tăng lên về mặt số lượng của
đội ngũ, cũng như chất lượng của nhân lực.
Theo Harold Koontz đã nhận định: “Việc quản lý là thiết yếu trong mọi
sự hợp tác có tổ chức, cũng như ở mọi cấp độ của tổ chức trong một cơ
sở”[10,21], như vậy có thể khẳng định rằng mọi quá trình hoạt động không
thể thiếu quả lý được.
Từ cơ sở lý luận trên, ta có thể hiểu phát triển đội ngũ của một tổ chức
phải gắn liền với quá trình quản lý tốt tổ chức đó, điều này cũng có thể được
hiểu chính là một trong những yếu tố phát triển nguồn nhân lực.
Ta có thể hiểu phát triển đội ngũ là tổng thể các hình thức, phương
pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng đội
ngũ nhằm đạt được mục đích đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu, đạt chuẩn về
phát triển nguồn nhân lực của xã hội. Ngược lại mối quan hệ giữa đội ngũ GV
THCS với nguồn nhân lực bổ sung cho chính đội ngũ này từ xã hội, cũng phải
được xem xét.
Như vậy, phát triển đội ngũ GV chính là việc phát triển nguồn nhân lực
trong giới hạn một cấp học cụ thể. Nội dung chính của nó gồm có 3 mặt:
- Xây dựng đội ngũ, gồm: Giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu,
phục vụ.
- Phát triển bền vững (tăng cường khả năng tự phát triển của cá nhân,
khả năng thích ứng tình huống của hệ thống, tính luôn luôn mới, tính cách
mạng của mỗi cá nhân và của toàn thể).
13
- Tạo mối liên kết chặt chẽ, bền vững với việc “Sử dụng nguồn nhân
lực” và “Môi trường nguồn nhân lực”.
1.2.6. Xã đặc biệt khó khăn
Theo Thông tư số 41/UB-TT ngày 08/01/1996 của Ủy ban Dân tộc và
Miền núi Quy định và hướng dẫn thực hiện tiêu chí từng khu vực ở vùng dân
tộc, miền núi. Trong đó, tại mục II có quy định cụ thể tiêu chí đối với các khu
vực (xã) có đặc biệt khó khăn hay còn gọi là khu vực ba (khu vực khó khăn)
cụ thể như sau:
“1. Địa bàn cư trú gồm các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao hẻo lánh,
vùng biên giới, hải đảo. Khoảng cách của các xã đến các khu trục động lực
phát triển trên 20 km.
2. Cơ sở hạ tầng chưa được xây dựng, hoặc còn tạm bợ. Giao thông rất
khó khăn, không có đường ô tô vào xã. Các công trình điền, thủy lợi, nước
sạch, trường học, bệnh xá, dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có.
3. Các yếu tố xã hội chưa đạt tối thiểu. Dân trí quá thấp, tỷ lệ mù chữ và
thất học trên 60%, bệnh tật nhiều, tập tục lạc hậu, không có thông tin
4. Điều kiện sản xuất khó khăn, thiếu thốn. Sản xuất mang tính tự nhiên
hái lượm, chủ yếu phát rừng làm nương rẫy, du canh du cư.
5. Số hộ đói nghèo trên 60% số hộ của xã. Đời sống thực sự khó khăn,
chúng theo một dấu hiệu nhất định”[16,35].
Cơ cấu đội ngũ GV theo chuyên môn là tổng thể về tỷ trọng GV của
môn học theo ngành học ở cấp tổ chuyên môn. Nếu tỷ trọng này vừa đủ, phù
hợp với định mức quy định, thì ta có được một cơ cấu chuyên môn hợp lý.
Cơ cấu đội ngũ GV theo độ tuổi là sự hợp lý về tỉ lệ tuổi của các nhóm
thành viên tạo nên đội ngũ để tạo thành sự hỗ trợ, tương tác nhau về sức khỏe,
kinh nghiệm công tác nhằm tạo nên năng lực chung của đội ngũ giáo viên.
Yêu cầu hợp lý của tỉ lệ này là cơ sở để phân tích thực trạng, chiều hướng
15
phát triển của tổ chức. Đối với GV cấp THCS ta có thể có nhóm cơ cấu nhóm
tuổi theo các giai đoạn sau: Dưới 25 tuổi, từ 25 đến 30 tuổi, từ 31 đến 35 tuổi,
từ 36 đến 40 tuổi, từ 41 đến 45 tuổi, từ 46 đến 50 tuổi, từ 51 đến 55 tuổi, từ 56
đến 60 tuổi.
Cơ cấu theo giới tính là tỉ lệ phù hợp giữa nam và nữ để có hài hòa về
phát triển tâm lý, có sự hỗ trợ nhau trong các hoạt động đào tạo một cách phù
hợp với tâm lý, giới của đối tượng giáo dục, tạo nên được sức mạnh tinh thần.
Nếu tỷ lệ này hợp lý, sẽ đảm bảo được các chính sách phát triển giới trong
phát triển nguồn nhân lực xã hội nói chung và đội ngũ GV trong các trường
THCS nói chung. Nếu xét mặt tỷ trọng cơ cấu giới tính đội ngũ GV trong
trường THCS, có thể không nói lên được nhiều vấn đề về sự phát triển về
giới. Bởi vì, khác với cấp học đào tạo về giáo dục, ở cấp THCS GV nữ
thường chiếm tỷ lệ nữ giới nhiều hơn nam giới. Tóm lại, nghiên cứu về cơ cấu
giới tính đội ngũ là để có những tác động cần thiết thông qua quản trị nhân sự,
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu xuất công tác của từng cá nhân và của cả đội
ngũ giáo viên.
Cơ cấu GV theo trình độ đào tạo là sự phân chia GV theo tỷ trọng ở các
trình độ đào tạo. Các trình độ đào tạo của GV ở cấp THCS có thể có là:
THSP, CĐSP, ĐHSP, Thạc Sỹ và trình độ tương ứng ở các chuyên ngành
không sư phạm. Xác định một cơ cấu hợp lý về trình độ đào tạo và thực hiện
các hoạt động liên quan để đạt đến cơ cấu đó cũng là một giải pháp nâng cao
+ Có ý thức tổ chức kỉ luật; giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín nhà
giáo; trung thực, hợp tác, có ý thức xây dựng tập thể đoàn kết, là tấm gương
tốt cho học sinh.
+ Thương yêu, tôn trọng, đối xử công bằng với học sinh, giúp học sinh
khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt. Có lối sống lành mạnh, văn
17
minh, phù hợp với bản sắc dân tộc và môi trường giáo dục; có tác phong mẫu
mực, làm việc khoa học.
- Năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm:
+ Giáo viên phải nắm vững những phương châm nguyên lý, nội dung
chương trình, phương pháp dạy học của môn khoa học mà mình giảng dạy,
đồng thời phải có những hiểu biết liên đới với các bộ môn khoa học khác. Nói
như vậy, ngoài yêu cầu về trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn thì người
GV phải tinh thông trong việc thực hiện các nhiệm vụ nghề nghiệp mà ở đây
là nghiệp vụ sư phạm.
+ Giáo viên phải thông thạo trong việc soạn giảng (giáo án), giảng dạy
trên lớp (coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự
học, chú ý phát triển tư duy sáng tạo, rèn kỹ năng thực hành cho học sinh),
đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh.
Theo Quy định Chuẩn nghề nghiệp GV trung học cơ sở, GV trung học
phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày
22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định một số nội dung
về năng lực dạy học của GV THCS[5].
Làm chủ kiến thức, đảm bảo nội dung chính xác, có hệ thống, bám sát
chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ, vận dụng hợp lý các kiến thức
liên môn theo yêu cầu cơ bản, hiện đại, thực tiễn. Tạo dựng môi trường học
tập: dân chủ, thân thiện, hợp tác, cộng tác, thuận lợi, an toàn và lành mạnh.
Thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ thông qua
giảng dạy môn học và tích hợp các nội dung giáo dục khác trong các hoạt
động chính khoá và ngoại khoá theo kế hoạch đã xây dựng.
và quyền hạn của tổ chức (thể chế);
- Bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân lực bao gồm: Nhà quản lý, và các
cán bộ, công chức (đội ngũ).
19
- Công sở và các điều kiện tài lực và vật lực cần thiết cho đội ngũ của
tổ chức thực thi nhiệm vụ và chức năng (CSVC và thiết bị kỹ thuật);
- Môi trường hoạt động của tổ chức;
- Thông tin và hệ thống thông tin quản lý về các lĩnh vực hoạt động của
tổ chức.
Đặc trưng của các trường phổ thông là giáo dục đào tạo học sinh. Lực
lượng tham gia hoạt động này bao gồm: Đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân
viên, học sinh. Ngoài gia cơ sở vật chất và thiết bị dạy học phục vụ cho
hoạt động trên.
Như vậy, đội ngũ là một yếu tố không thể thiếu được để cấu thành nên
một nhà trường phổ thông; đồng thời đội ngũ cũng là một yếu tố quan trọng
trong cấu trúc của hoạt động giáo dục và đào tạo. Từ đó ta thấy được ý nghĩa
to lớn của đội ngũ GV đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
trong các trường phổ thông.
Với ý nghĩa như vậy để có đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đạt chuẩn
về trình độ, có phẩm chất tốt và có năng lực chuyên môn cũng như nghiệp vụ
sư phạm thì vấn đề phát triển đội ngũ GV trong nhà trường phổ thông là một
việc làm có ý nghĩa rất quan trọng.
1.4.2. Mục đích phát triển đội GV THCS
Để thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của nhà trường phổ thông thì
phải có đội ngũ GV phát triển và có khả năng đáp ứng được những yêu cầu
của xã hội đối với công tác giáo dục, cụ thể đạt được mục đích nâng cao chất
lượng giáo dục. Phát triển đội ngũ GV là một trong những yếu tố quan trọng,
góp phần làm cho nhà trường phổ thông có một đội ngũ:
+ Đủ về số lượng (theo quy định tỷ lệ giáo viên/lớp).
+ Đồng bộ về cơ cấu (tuổi, giới tính, chuyên ngành đào tạo,…).
21
công cụ thì mọi hoạt động của công tác quản lý chỉ thực hiện được khi nhà
quản lý hình dung, định hình được họ cần phải làm gì và làm như thế nào.
Quy hoạch phát triển nhân lực đội ngũ GV có vai trò vô cùng quan
trọng trong Kế hoạch phát triển GD&ĐT; đồng thời nó cũng nằm trong tổng
thể quy hoạch phát triển nhân lực của quốc gia.
Quá trình quy hoạch và lập kế hoạch phát triển đội ngũ GV THCS trong các
trường THCS cần đảm bảo một số nguyên tắc sau: Xác định mục tiêu quy
hoạch; Tổ chức thu thập các thông tin về bối cảnh môi trường, nhu cầu và yêu
cầu xã hội đối với với triển giáo dục (giáo dục THCS); tổ chức thu thập các số
liệu nói lên thực trạng đội ngũ GV (về cơ cấu, trình độ đào tạo, năng lực
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm,…); đồng thời thu thập các số liệu về các
điều kiện phát triển đội ngũ giáo viên; tổ chức các hoạt động dự báo về quy
mô đào tạo để chỉ ra lưu lượng sinh viên trong từng giai đoạn dự báo; xử lý
các số liệu thu thập được để làm rõ kết quả so sánh giữa hiện trạng và nhu
cầu (theo kết quả dự báo); viết nội dung quy hoạch.
1.4.3.2. Tuyển dụng và sử dụng hiệu quả đội ngũ GV THCS hiện có
1.4.3.2.1. Tuyển dụng đội ngũ giáo viên
Tuyển dụng người vào làm GV trong các nhà trường phổ thông phải
đảm bảo nguyên tắc đáp ứng về số lượng, phù hợp về cơ cấu, đúng trình độ
chuyên ngành đào tạo theo chuẩn, giảm tối đa hiện tượng dạy chéo ban, dạy
kê đệm không đảm bảo chất lượng giảng dạy và phần nào phù hợp với nguyện
vọng của người được tuyển.
GV được tuyển chọn phải đạt chuẩn về chất lượng, về trình độ chuyên môn sư
phạm, về nghiệp vụ sư phạm, chuẩn về đạo đức tư cách người thầy.
Muốn vậy phương thức tuyển chọn là hết sức quan trọng, tùy từng đơn vị,
từng vùng mà những phương thức tuyển chọn phù hợp. Có thể xét tuyển, thi
tuyển và kết hợp cả hai hình thức thi tuyển và xét tuyển. Nhất là quy trình
thực hiện phải đảm bảo được tính minh bạch rõ ràng, xây dựng quy chế và
22
nhiều GV xin thuyên chuyển không theo đúng nguyên tắc, không đúng với
yêu cầu chuyên môn hoặc nhu cầu sử dụng của nhà trường, mặt khác quy mô
của các trường THCS thường nhỏ, không đồng đều chủ yếu là các trường
hạng II, hạng III (từ 18 lớp trở xuống), vì vậy trong một nhà trường có thể
thừa GV bộ môn này nhưng lại thiếu GV ở bộ môn khác làm cho các bộ môn
không đồng bộ, không bảo đảm yêu cầu, số GV giảng dạy chéo ban nhiều. Để
có thể sử dụng hiệu quả đội ngũ GV cần chú ý một số nội dung:
- Việc bố trí sử dụng đội ngũ GV phải có một cơ chế rõ ràng. Sự bố trí
sử dụng phải bảo đảm phù hợp với trình độ chuyên môn, năng lực công tác và
yêu cầu công việc của nhà trường. Sự bố trí sử dụng phải là sự kết hợp chặt
chẽ có tính thống nhất, hợp lý giữa Phòng Nội Vụ và Phòng GD&ĐT với Cán
bộ quản lý nhà trường THCS, cần tiến hành một cách công khai rõ ràng
không phải vì bất cứ lý do nào mà chỉ để sử dụng đúng, tốt hợp lý đội ngũ GV
để họ phát huy được khả năng chuyên môn, thuận lợi trong công việc phân
công chuyên môn và bảo đảm chất lượng giáo dục.
1.4.3.3. Tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình
độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ GV THCS
Có quan điểm cho rằng: “Chừng nào chúng ta coi trọng việc đào tạo, bồi
dưỡng, trọng dụng đội ngũ GV thì chúng ta mới có nhiều chuyên gia giỏi để đào tạo
nguồn nhân lực cho đất nước”. [11,550]
Con đường đi cơ bản và chủ yếu để duy trì và không ngừng nâng cao năng
lực, phẩm chất nguồn nhân lực trong bất kỳ tổ chức nào là tổ chức hoạt động
đào tạo bồi dưỡng. Do đặc thù công việc, GV phải thường xuyên được bồi
dưỡng để hoàn thành niệm vụ và nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn,
việc bồi dưỡng càng được quan tâm thì càng tạo sự năng động, sáng tạo cho
GV và tránh được sức ỳ, tự thỏa mãn của giáo viên. Theo đánh giá chung,
hiện nay công tác bồi dưỡng của GV phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu
của cải cách giáo dục và đổi mới phương pháp, nhất là GV THCS.
24
Yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho