Hoạt động quản lí nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Từ Đại hội Đảng VI (1986), thực hiện chủ trơng đờng lối đổi mới, mở cửa
nền kinh tế theo phơng châm Đa phơng hóa, đa dang hóa các quan hệ chính trị,
kinh tế, đối ngoại, kết hợp chặt chẽ giữa việc khai thác có hiệu các nguồn lực trong n-
ớc là chính với việc huy động tối đa các nguồn lực bên ngoài, Đảng và Nhà nớc ta
đã đặc biệt quan tâm đến hoạt động đến đầu t trực tiếp nớc ngoài. Việc ban hành
Luật đầu t nớc ngoài đầu tiên (29/12/1987) với những quy định thông thoáng hấp
dẫn nh một luồng gió mới thổi vào nền kinh tế Việt nam lúc đó đang trong tình
trạng khủng hoảng trầm trọng, các nhà đầu t nớc ngoài bắt đầu chọn Việt Nam
làm điểm dừng chân của mình. Nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động đầu t
trực tiếp nớc ngoài, nhằm cải thiện tốt hơn môi trờng đầu t, khuyến khích và tạo
điều kiện cho các nhà đầu t nớc ngoài, năm 1990 và năm 1992, Luật đầu t nớc
ngoài đã 2 lần đợc sửa đổi, bổ sung và đến năm 1996, để phù hợp với điều kiện
phát triển kinh tế- xã hội, tình hình xu thế đầu t trực tiếp nớc ngoài vào Việt Nam,
Luật đầu t nớc ngoài mới đã đợc quốc hội thông qua ngày 12/11/1996.
Qua 10 năm thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu t trực tiếp
nớc ngoài dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, Việt Nam đã tiến những bớc dài
trên bớc đờng hội nhập vào nền kinh tế thế giới và thúc đầy phát triển nền kinh tế
trong nớc với tốc độ tăng GDP hàng năm vào loại cao trên thế giới (8,5 - 9%), dự
định tốc độ này dự tính sẽ đợc duy trì vào năm 1998.
Đánh giá các động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, một yếu tố không
thể phủ nhận đợc đó là vai trò quan trọng của đầu t trực tiếp nớc ngoài. Đầu t trực
tiếp nớc ngoài không chỉ góp phần để nền kinh tế đạt đợc tốc độ tăng trởng cao
trong những năm qua mà còn là điều kiện cơ sở cần thiết cho cả quá trình phát triển
trong những năm tiếp theo (Trả lời phỏng vấn Báo Đầu t của cựu Thủ tớng Võ
Văn Kiệt ). Hiểu đợc điều đó càng không thể không khẳng định công lao to lớn
của Đảng và Nhà nớc ta. Vấn đề quản lý Nhà nớc đối với đầu t trực tiếp nớc ngoài
đã và đang là một vấn đề đợc quan tâm, nhiều hội thảo xung quanh đầu t trực tiếp
và quản lý Nhà nớc về đầu t đã đợc tổ chức, thu hút nhiều nhà kinh tế Việt Nam và
thế giới, các nhà đầu t nớc ngoài.

1.1. Bối cảnh chung về đầu t trực tiếp nớc ngoài
1.1.1. Sự ra đời của đầu t trực tiếp
Hiện nay trên thế giới đã và đang tồn tại một cách khách quan những nớc
giầu và nớc nghèo, hay nói một cách khác là nớc chậm phát triển và nớc phát triển.
Nguyên nhân chính là do đâu? Ai cũng có thể trả lời câu hỏi này một cách dễ
dàng. Chẳng hạn, hiểu một cách đơn giản là một bàn tay bao giờ cũng có ngón
dài, ngón ngắn, vì vậy mà trên thế giới luôn xuất hiện những nớc giàu, nớc nghèo.
Khi có sự cách biệt về khả năng kinh tế, về tài chính giữa các nớc thì lúc
này các nớc phát triển bắt đầu xảy ra tình trạng d thừa vốn, công nghệ và lợi nhuận
giảm. Còn các nớc chậm phát triển lại rơi vào tình trạng thiếu vốn, thiếu công
nghệ mới, thiếu kinh nghiệm quản lý. Vì vậy để tránh tình trạng ứ đọng vốn, công
nghệ của họ ra nớc ngoài nhằm mục đích sinh lời và kéo dài tuổi thọ của công
nghệ. Trong khi đó các nớc đang phát triển mới chỉ có đợc công nhân dồi dào và
nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú cha đợc khai thác triệt để do cha có vốn
và công nghệ thích hợp để khai thác tốt hai nguồn lực này, đây là một môi trờng
đầu t đầy triển vọng của các nhà đầu t nớc ngoài trong quá trình tìm kiếm cơ hội
đầu t nhằm làm tăng lợi nhuận cho mình trong hoạt động đầu t nớc ngoài. Hơn nữa
do các nớc phát triển rất dồi dào sản phẩm công nghệ cao, có chất lợng tốt, mẫu
mã đa dạng phong phú, bao bì đẹp, đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng cao cho nên
tính cạnh tranh trên thị trờng giữa các sản phẩm hết sức gay gắt. Sự cạnh tranh này
nhiều lúc không cân sức vì trên thị trờng nếu chúng ta chỉ nhìn vào sản phẩm thì
không thể biết đối thủ cạnh tranh mạnh hay yếu, mà phải nhìn vào chiến lợc kinh
doanh của đối thủ cạnh tranh thì mới biết đợc. Vì vậy, để tránh rủi ro trên thị trờng
nội địa thì buộc các doanh nghiệp phải tiến hành đầu t ra nớc ngoài. Hình thức đầu
t ra nớc ngoài bên cạnh việc hạn chế rủi ro thì nó còn nhằm tăng vòng quay của
vốn, tận dụng đợc công nghệ hạng 2 ở trong nớc (nớc phát triển).
Trong quá trình đầu t, các nhà đầu t cố gắng hạ thấp chi phí để đạt đợc lợi
nhuận cao nhất. Muốn làm đợc điều đó buộc họ phải đầu t ra nớc ngoài để mở
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368

hàng tồn kho, ở đó quyền quản lý và t bản cùng tồn tại và nhà đầu t giữ quyền
quản lý quá trình sử dụng vốn đầu t đó.
Tuy nhiên các định nghĩa trên cha nhấn mạnh đến khía cạnh sở hữu.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Cách tiếp cận khác, khi tìm kiếm một định nghĩa về FDI là cách tiếp cận sở
hữu. Synthia day, Wallacc, một chuyên gia Mỹ nghiên cứu về công ty xuyên quốc
gia viết:
Đầu t nớc ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay
giành đợc quyền sở hữu đáng kể trong một hãng (công ty) ở nớc ngoài hay sự gia
tăng khối lợng của một khoản đầu t nớc ngoài nhằm đạt đợc quyền sở hữu đáng
kể.
Các nhà kinh tế Việt Nam, khi nghiên cứu FDI thờng đi theo cách tiếp cận
nguồn vốn, coi FDI là một trong các nguồn vốn nớc ngoài, bên cạnh các nguồn
vốn nh: Tài trợ phát triển chính thức (ODA), viện trợ của các tổ chức phi Chính
phủ (NGOs) tín dụng từ các ngân hàng thơng mại.
Mỗi khái niệm, mỗi cách tiếp cận đều có điểm mạnh và điểm yếu của nó,
nhng dù sao cách hiểu nào đi chăng nữa cũng phần nào giúp chúng ta hiểu đợc về
FDI.
1.2. Khái niệm quản lý Nhà nớc về đầu t nớc
ngoài
Quản lý là một chức năng xã hội bắt nguồn từ tính xã hội của lao động. Sự
phát triển không ngừng sản xuất xã hội về quy mô trình độ khoa học và công
nghệ, về các quan hệ phân công và hợp tác trên phạm vi quốc tế, sự phát triển rất
cao của nền kinh tế thị trờng đợc quốc tế hoá nhanh chóng đã thúc đẩy mạnh mẽ
xu hớng nâng cao vai trò quản lý với t cách là một chức năng xã hội đặc biệt.
Từ khi xuất hiện Nhà nớc thì bộ phận quan hệ quản lý quan trọng nhất,- tức
là phần quản lý xã hội quan trọng nhất- do Nhà nớc đảm nhận. Tất nhiên, chúng ta
cần thấy rằng, quản lý xã hội nói chung và quản lý kinh tế nói riêng không chỉ do
Nhà nớc với t cách là tổ chức chính trị quyền lực đặc biệt thực hiện mà còn do các

tính chất pháp lý- quyền lực đợc đảm bảo bởi khả năng áp dụng cỡng chế. Hoạt
động chấp hành thờng bao hàm hoạt động điều hành bởi trong đa số các trờng hợp,
nếu thiếu các hoạt động điều hành thì không thể chấp hành pháp luật một cách
nghiêm chỉnh đợc.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài có những đặc trng chủ yếu của
hoạt động quản lý Nhà nớc đó là: hoạt động mang tính tổ chức là chủ yếu. Hoạt
động bảo vệ pháp luật- tài phán trong quản lý Nhà nớc là cần thiết và quan trọng
nhng chỉ chiếm phần nhỏ.
Là hoạt động mang tính chất chủ quan của con ngời nhng quản lý Nhà nớc
về đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang tính tổ chức và sáng tạo cao. Đặc trng này
xuất phát trực tiếp từ bản chất mặt điều hành của quản lý Nhà nớc. Tính chủ động
sáng tạo thể hiện ở hoạt động xây dựng pháp luật theo thẩm quyền, đặc biệt có thể
cả những văn bản chứa đựng các quy phạm tiên phát điều chỉnh quan hệ mới phát
sinh cha ổn định và cha đợc luật điều chỉnh. Tính chủ động sáng tạo đợc quy định
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bởi chính sự phức tạp, phong phú và đa dạng của các hoạt động đầu t trực tiếp. Đầu
t trực tiếp luôn biến động và phát triển không ngừng, đòi hỏi phải có sự phối hợp
kịp thời giữa các cơ quan chức năng trong việc vận dụng pháp luật một cách sáng
tạo để giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và triển
khai dự án. Tất nhiên, trong mọi trờng hợp không thể "chủ động, sáng tạo" ngoài
phạm vi khuôn khổ thẩm quyền luật định.
Quản lý Nhà nớc về đầu t trực tiếp nớc ngoài còn mang tính dới luật. Tính
dới luật thể hiện ở chỗ bản thân hoạt động quản lý là hoạt động chấp hành và điều
hành trên cơ sở các quy định của Luật đầu t nớc ngoài và các đạo luật có liên quan.
Quyết định đợc ban hành của các cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phải
phù hợp với các quyết định của luật và các văn bản của cơ quan Nhà nớc cấp trên.
Quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là hoạt động đợc sự bảo đảm về phơng
diện tỏ chức- bộ máy và cơ sở vật chất đó là hệ thống các cơ quan nhiều về số lợng
và biên chế, phức tạp về tổ chức- cơ cấu với nhiều chức năng, nhiệm vụ và phong

thiết phải rút lui ra khỏi nền kinh tế, chỉ nên là "Ngời lính gác đêm" cho nền kinh
tế.
Ngợc lại, những nhà kinh tế học theo trờng phái Keynes đã đề cao vai trò
điều tiết vĩ mô của Nhà nớc. Học thuyết này đa ra nhiều biện pháp can thiệp vào
quá trình phát triển kinh tế nh sử dụng đơn đặt hàng của Nhà nớc, sử dụng ngân
sách Nhà nớc nh là công cụ điều tiết, sử dụng các biện pháp điều hoà nhằm phối
hợp giữa đầu t t nhân với việc sử dụng linh hoạt các khoản chi ngân sách Nhà nớc.
Nhiều nhà kinh tế theo học thuyết này cho rằng để điều tiết nền kinh tế có hiệu quả
chủ yếu phải bằng kế hoạch hoá.
Học thuyết về nền kinh tế hỗn hợp (The mixed economy) xây dựng một mô
hình kinh tế mới phối hợp năng động giữa thị trờng và sự can thiệp của Nhà nớc
trong giải quyết các vấn đề kinh tế. Học thuyết này đợc phát triển hoàn chỉnh với
đỉnh cao là công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học đợc giải Nôbel về kinh tế
ngời Mỹ là A.SamuelSon. Học thuyết nền kinh tế hỗn hợp dã tìm kiếm đợc con đ-
ờng thứ ba nằm giữa mô hình kinh tế thị trờng tự do với "bàn tay vô hình" của thị
trờng và nền kinh tế kế hoạch tập trung mệnh lệnh (The command economy) với
"bàn tay hữu hình" của Nhà nớc.
Mô hình kinh tế hỗn hợp đang đợc áp dụng có hiệu quả ở hầu hết các quốc
gia có nền kinh tế thị trờng phát triển, tuy mức độ hỗn hợp của mỗi nớc có khác
nhau. Nhà nớc cần can thiệp vào các hoạt động trong nền kinh tế thị trờng ở những
chừng mực và phơng pháp nhất định là đúng đắn và cần thiết khách quan. Lý do
của sự can thiệp này nhằm khắc phục nhanh chóng và kịp thời các khuyết tật cố
hữu của thị trờng, phân bổ các nguồn lực kinh tế hợp lý, hớng các hoạt động kinh
tế- đầu t vào quỹ đạo với hiệu quả cao nhất.
Vấn đề đổi mới theo hớng nâng cao vai trò quản lý về kinh tế nói chung và
đầu t trực tiếp nớc ngoài nói riêng là một xu thế khách quan đối với tất cả các quốc
gia không phân biệt chế độ chính trị, văn hoá, xã hội, xu hớng quốc tế hoá đời
sống kinh tế đòi hỏi Nhà nớc bằng mọi biện pháp có thể can thiệp vào quá trình
đầu t trực tiếp nớc ngoài để cho nền kinh tế phát triển đúng hớng và sâu xa hơn là
8

bảo hộ mậu dịch, bảo vệ an ninh quốc phòng, đẩy mạnh xuất khẩu và phấn đấu
tham gia ngày càng sâu trong phân công lao động quốc tế nhng vẫn kết hợp hài
hoà với việc mở rộng phân công lao động trong nớc và phát triển các thị trờng
trong nớc.
Sự thông thoáng của Luật đầu t nớc ngoài là cái giá mà nớc ta phải trả một
cách có tính toán nhằm thực hiện các mục tiêu hợp tác- đầu t với nớc ngoài để
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhận đợc càng sớm càng tốt những cái ta đang thiếu và rất cần cho chiến lợc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hớng về xuất khẩu. Nhng, nh một hành lang, dù có rộng
rãi đến đâu vẫn cần phải có những khuôn khổ. Nh vậy song với những quy định
cởi mở nhằm thu hút đầu t nớc ngoài thì cần thiết phải tăng cờng hoạt động quản
lý Nhà nớc để đảm bảo hiệu quả và mục đích của đầu t trực tiếp đối với nền kinh tế
nớc ta. Đổi mới và thực hiện cơ chế quản lý về đầu t trực tiếp nớc ngoài, Nhà nớc
ta thực hiện sự tác động mang tính quyền lực vào các quan hệ đầu t trực tiếp theo
những hình thức và phơng pháp nhất định để đạt đợc mục tiêu sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra.
1.3. Chức năng và các nguyên tắc quản lý Nhà
nớc về đầu t nớc ngoài
1.3.1. Các chức năng của quản lý Nhà n ớc về đầu t n ớc ngoài
Dới trạng thái "động", quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài là một loại hoạt
động có những nội dung và hình thức biểu hiện sinh động. Nội dung của quản lý
Nhà nớc về đầu t nớc ngoài gồm các yếu tố: Mục đích, nhiệm vụ, chức năng và ph-
ơng pháp quản lý. Trong phần này, ta đi vào nghiên cứu yếu tố quan trọng nhất đó
là chức năng của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài. Sự cần thiết khách quan của
việc nghiên cứu các chức năng này thể hiện ở chỗ các mục đích và nhiệm vụ quản
lý đạt đợc là nhờ chức năng quản lý. Vì vậy, có thể coi chức năng quản lý nh là
một phơng tiện thực hiện nhiệm vụ quản lý.
Trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài quản lý Nhà nớc mang nhiều chức năng
khác nhau, các chức năng này vừa có mối liên hệ chặt chẽ, vừa có tính độc lập t-

động xác lập và điều chỉnh những hành vi nhất định của các chủ thể quan hệ đầu t
trực tiếp. Chức năng tổ chức điều hành còn thể hiện qua việc thiết lập các chế độ
quản lý đầu t, cho hoạt động đầu t nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nớc, bảo hộ sản xuất
trong nớc và khuyến khích hoạt động đầu t nớc ngoài vào các lĩnh vực của nền
kinh tế theo nguyên tắc : "Cơ quan Nhà nớc chỉ đợc làm những gì pháp luật không
cấm".
Chức năng kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu t nớc ngoài: Đó là
việc căn cứ vào chế độ, chính sách, kế hoạch và pháp luật để phát hiện và đề ra các
biện pháp khắc phục những sai sót lệch lạc, vớng mắc trong quá trình đàm phán,
triển khai và thực hiện dự án đầu t. Vì vậy, có thể coi: "Kiểm tra là tai, là mắt của
quản lý". Hoạt động kiểm tra, thanh tra cần đợc tiến hành thờng xuyên dới nhiều
hình thức và phơng pháp đối với các nhà đầu t đối với các nhà đầu t lẫn cơ quan
quản lý về đầu t nớc ngoài.
Tóm lại, các chức năng cơ bản của quản lý Nhà nớc về đầu t nớc
ngoài không tồn tại độc lập mà tác động qua lại với nhau. Chỉ có thể quản lý tốt
các hoạt động đầu t nớc ngoài khi các chức năng quản lý nêu trên một cách đồng
bộ và thống nhất.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.3.2. Các nguyên tắc quản lý Nhà n ớc về đầu t n ớc ngoài
Nhiệm vụ của hoạt động quản lý là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa
hoạt động chủ quan và thực tiễn khách quan. Trong quá trình quản lý- với t cách
đại diện cho quyền lực công, cho lợi ích quốc gia- mỗi viên chức trong các cơ quan
quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài phải có t duy và hành động khoa học, nghiêm
chỉnh chấp hành hoạt động công vụ. Với tính chất phức tạp của đầu t nớc ngoài,
mọi quyết định quản lý ra đời từ sự chủ quan duy ý chí hay nóng vội đều đi tới thất
bại.
Thuật ngữ "Nguyên tắc" có nguồn gốc từ tiếng La tinh "principiuim"
(nguyên lý) và có nghĩa là những t tởng đầu tiên t tởng chỉ đạo trong khoa học,
hiện tợng, quá trình. Nguyên tắc đó đợc áp dụng để nghiên cứu pháp luật nói

nguyên tắc này sẽ tạo điều kiện thực hiện các nguyên tắc khác, ngợc lại, vi phạm
nguyên tắc nào đó sẽ kéo theo sự vi phạm các nguyên tắc tơng ứng.
Hệ thống các nguyên tắc quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài rất đa dạng, ở
đây chỉ đi vào trình bày những nguyên tắc đặc trng cơ bản sau:
+ Nguyên tắc pháp chế
+ Nguyên tắc kế hoạch hoá
+ Nguyên tắc "một cửa" trong quản lý Nhà nớc.
+ Nguyên tắc đơn giản, nhanh chóng.
+ Nguyên tắc bảo đảm và khuyến khích các hoạt động đầu t nớc ngoài.
Nguyên tắc pháp chế:
Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều
chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỷ luật,
là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà n-
ớc, của các cơ quan đơn vị, tổ chức và đối với công dân.
Pháp chế là phơng thức để tổ chức, trật tự hoá đời sống xã hội phù hợp với
ý chí của giai cấp cầm quyền. Nếu nh ý chí của giai cấp thống trị đợc đa lên thành
luật, xuất phát từ nhu cầu và điều kiện xã hội thực tại của giai cấp đó thì pháp chế
là việc đa ý chí đó vào cuộc sống, trở thành hiện thực và có đợc sức mạnh vật chất.
Dới góc độ quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, đây là nguyên tắc của mọi
nguyên tắc, nó đòi hỏi tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nớc về đầu t
nớc ngoài phải đợc pháp luật điều chỉnh chặt chẽ và pháp luật đó phải đợc tuân thủ
nghiêm chỉnh.
Cơ sở nguyên tắc này là điều 12/hiến pháp 1992: "Nhà nớc quản lý xã hội
bằng pháp luật và không ngừng tăng cờng pháp chế XHCN..."
Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi việc tổ chức cac cơ quan Nhà nớc thực hiện
chức năng quản lý về đầu t nớc ngoài phải trên cơ sở các văn bản pháp luật và vấn
đề then chốt tiếp theo là những cơ quan này phải thực hiện đúng các chức năng,
nhiệm vụ của mình.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368

đại đều coi trọng kế hoạch hoá trong quản lý với nhiều hình thức và mức độ khác
nhau.
Quản lý có kế hoạch hoạt động đầu t nớc ngoài là một tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, để quản lý theo nguyên tắc kế hoạch hoá cần phải có quá trình học hỏi,
tìm tòi, thử nghiệm khó khăn và phức tạp. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sức mạnh
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và tính u việt của nền kinh tế có kế hoạch, đồng thời chỉ ra rằng phải không ngừng
đổi mới, nâng cao trình độ kế hoạch hoá. Kế hoạch hoá là xây dựng kế hoạch
thành những phơng án cụ thể hoá đờng lối của Đảng, pháp luật của Nhà nớc về
đầu t nớc ngoài.
Thông qua kế hoạch mà đờng lối vận động, chính sách quản lý đầu t nớc
ngoài đợc cụ thể hoá thành mục tiêu trong từng thời gian nhất định.
Đổi mới quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài, đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế đầu t đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn về kế hoạch hoá.Nguyên tắc
"một cửa" trong quản lý Nhà nớc về đầu t nớc ngoài:
Để cải cách công tác quản lý Nhà nớc, góp phần cải thiện môi trờng đầu t
thì nguyên tắc "một cửa" vừa là công cụ hữu hiệu vừa là mục tiêu cần đạt đến. Để
thực hiện nguyên tắc này trớc hết phải phân định rõ thẩm quyền của các cơ quan
chức năng và mối quan hệ phối hợp giữa chúng trong quản lý đầu t nớc ngoài.
Nguyên tắc "một cửa" nhằm kịp thời xử lý các phát sinh trong quá trình đầu
t, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu t nớc ngoài tiến hành các hoạt
động đầu t ở Việt Nam. Nguyên tắc này không cho phép việc can thiệp chồng chéo
của nhiều cơ quan trong lĩnh vực đầu t nớc ngoài nhằm thu hút đầu t nớc ngoài và
bảo vệ đợc lợi ích của Nhà nớc Việt Nam. Do đó, quản lý Nhà nớc về đầu t nớc
ngoài phải đợc tập trung vào một đầu mối, một cơ quan. Điều đó phù hợp với một
luận điểm quan trọng của khoa học quản lý là: "Mỗi việc cần đợc giải quyết dứt
điểm ở một cấp" và "Mỗi ngời cần phải làm công việc của chính mình". Đành
rằng, trong đầu t nớc ngoài- một lĩnh vực còn hết sức phức tạp và mới mẻ- quản lý
Nhà nớc cần có sự phối hợp tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành, nhng đối với các

giúp UBND thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nói trên.
Nguyên tắc đơn giản, nhanh chóng:
Nguyên tắc này gắn chặt với nguyên tắc "một cửa" và là trọng tâm của
công tác cải cách thủ tục đầu t. Nguyên tắc này đợc ghi nhận tại điều 1 Luật đầu t
nớc ngoài: "Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam...tạo điều kiện thuận lợi
và quy định thủ tục đơn giản nhanh chóng cho các nhà đầu t nớc ngoài đầu t vào
Việt Nam".
Đơn giản, nhanh chóng là việc nâng cao chất lợng quản lý Nhà nớc về đầu
t nớc ngoài, giảm tối đa những gì rờm rà không cần thiết, tiếp nhận và giải quyết
kịp thời những đề nghị thắc mắc từ phía các nhà đầu t nớc ngoài, khắc phục tình
trạng nhà đầu t mất nhiều thời gian và công sức trong thăm dò nghiên cứu, đàm
phán và triển khai dự án.
Ngày nay, những u đãi về thuế quan đang mất dần vai trò trong việc cải
thiện môi trờng đầu t nhằm thu hút đầu t nớc ngoài. Bài học đợc rút ra trong thực
tiễn là chính sách u đãi về thuế hoàn toàn không phải "miếng mồi ngon" đối với
những "con hổ" kinh tế nữa, bởi không thể có gì đảm bảo rằng những u đãi về thuế
không thể không bị sửa đổi bởi các nhà hoạch định chính sách. Về bản chất, bất kỳ
quốc gia nào đi nữa cũng không thể duy trì lâu dài hai hệ thống thuế có tính chất
phân biệt đối xử giữa khu vực kinh tế trong nớc và khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Điều quan trọng mà chính các nhà đầu t than phiền rằng, sự phiền phức về thủ tục
kèm theo những chi phí của nó còn lớn hơn nhiều lần những u đãi về thuế mà họ đ-
ợc hởng. Đối với các nhà đầu t quốc tế, thời gian còn quan trọng hơn vàng bạc, vì
vậy kéo dài sự chờ đợi các phán quyết của cơ quan quản lý chức năng sẽ làm tuột
mất các cơ hội đầu t gây nên sức ép tâm lý rất lớn đối với các nhà đầu t.
Điều các nhà đầu t mong muốn chúng ta có thể làm đợc và cần phải làm đ-
ợc đó là cải cách mạnh mẽ thủ tục đầu t theo hớng đơn giản hơn, nhanh chóng hơn.
Điều 59 Luật ĐTNN đã quy định rã ràng các giấy tờ, tài liệu cần thiết mà
nhà đầu t phải gửi cho cơ quan cấp phép đầu t, tạo điều kiện cho cơ quan chức

yêu cầu công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, góp phần giải quyết những mất cân
đối trong cơ cấu về lĩnh vực, địa bàn kinh tế, về cán cân thơng mại và cán cân
thanh toán quốc tế. Căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế từng thời kỳ, Chính
phủ công bố danh mục các dự án khuyến khích, đặc biệt khuyến khích nhằm định
hớng, tạo những điều kiện thuận lợi cho nhà đầu t nớc ngoài lựa chọn những dự án
đầu t. Phân tích các quyết định trong Luật đầu t nớc ngoài ta thấy rõ Nhà nớc đặc
biệt khuyến khích những dự án hớng mạnh về xuất khẩu, chuyển giao nhanh công
nghệ tiên tiến, xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, sử dụng nhiều lao động... đồng
thời thu hút đầu t nớc ngoài vào một số mục tiêu u tiên quan trọng nh: Trồng rừng,
xây dựng kết cấu hạ tầng tại miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự án có quy mô lớn
và tác động lớn đối với nền kinh tế, xã hội.
Theo các quy định của Luật ĐTNN hiện nay vẫn còn hiệu lực thì những
khuyến khích về thuế đóng vai trò quan trọng.
Về việc cân đối ngoại tệ thì: "...Chính phủ Việt Nam bảo đảm việc hỗ trợ
cân đối ngoại tệ đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, sản xuất hàng thay thế
nhập khẩu thiết yếu và một số công trình quan trọng khác". (Điều 33-Luật ĐTNN)
Một mục tiêu quan trọng thu hút đầu t nớc ngoài là khuyến khích và u đãi
việc chuyển giao nhanh công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến, thực tế cho thấy
rằng, trong các năm vừa qua, tuycó hạn chế đợc việc du nhập công nghệ cũ, nhng
việc thu hút công nghệ cao còn rất chậm. Điều 37, nghị định 12/CP quy định:
"Chính phủ nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi và
bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ để thực
hiện dự án đầu t tại Việt Nam; khuyến khích và u đãi đối với chuyển giao nhanh
công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiên tiến".
"Trong trờng hợp nhà đầu t áp dụng tiêu chuẩn môi trờng tiên tiến của quốc
tế trong quá trình xây dựng và hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thì chỉ cần đăng
ký với cơ quan quản lý Nhà nớc về công nghệ và môi trờng". (Khoản 3, điều 39,
nghị định 12/CP).
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc thu hút
các công ty xuyên quốc gia, các công ty lớn vào các dự án sử dụng kỹ thuật tiên

đầu t trực tiếp nớc ngoài là sự kết hợp giữa các nhân tố trong và ngoài nớc nhằm
tạo ra những nguồn lực mới cho tăng trởng kinh tế đất nớc. Đây là hình thức đầu t
ít chịu ảnh hởng, lệ thuộc vào quan hệ chính trị giữa nớc ta với các nớc, tận dụng
đợc nguồn vốn đầu t của nớc ngoài, nhng không dẫn đến gánh nợ quốc tế, lại tạo
cơ hội thuận lợi tiếp cận và thâm nhập nhanh vào thị trờng quốc tế.
Thực tiễn thực hiện 10 năm Luật ĐTNN ở nớc ta đã chứng tỏ FDI là nguồn
đầu t quan trọng đóng góp tích cực vào việc tạo ra năng lực sản xuất mới trong
nghành kinh tế tạo ra nhiều ngành nghề mới và sản phẩm mới, tiếp thu ký thuật
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công nghệ tiên tiến và phơng pháp quản lý klinh doanh hiện đại theo kinh tế thị tr-
ờng, kích thích sự phát triển của thị trờng nội địa và mở rộng thị trờng quốc tế, tạo
việc làm cho ngời lao động và có những đóng góp cho ngân sách Nhà nớc. Những
kết quả bớc đầu hết sức quan trọng của đầu t trực tiếp nói trên gắn liền và là kết
quả của quản lý Nhà nớc đối với lĩnh vực hoạt động này.
Trong quản lý Nhà nớc hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài, cần thống nhất
nhận thức một số quan điểm sau:
+ Công tác quản lý Nhà nớc nhằm thực hiện một cách tốt nhất định hớng
của Luật ĐTNN là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vào công cuộc
phát triển kinh tế; vừa mở cửa ra bên ngoài, nhằm tranh thủ mọi nguồn lực quốc tế
nhng không coi nhẹ đầu t cho sản xuất trong nớc; mở cửa cho bên ngoài nhng
không quên những biện pháp "che chắn" cần thiết để bảo hộ sản xuất trong nớc,
bảo đảm an ninh quốc phòng, đẩy mạnh xuất khẩu và tham gia phân công lao
động quốc tế trong khu vực và thế giới một cách có lợi nhất.
+ Công tác quản lý Nhà nớc phải nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà nớc
ta trong hợp tác đầu t với nớc ngoài là thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản
lý của các công ty nớc ngoài, tạo việc làm cho ngời lao động, góp phần khai thác
có hiệu quả mọi tiềm năng đất nớc phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
+ Quản lý Nhà nớc nhằm bảo đảm cho các hoạt động đầu t trực tiếp nớc

thể doanh nghiệp thu hồi giấy phép.
MPI là cơ quan cấp giấy phép đầu t nên có trách nhiệm, thẩm quyền xem
xét, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép để đảm bảo tính trách nhiệm rõ
ràng giữa các cơ quan quản lý. Nếu trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có
vốn dầu t nớc ngoài, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh vi phạm pháp
luật Việt Nam thì các cơ quan hữu trách có thể xử lý vi phạm và kiến nghị lên MPI
là cơ quan duy nhất có thẩm quyền thu hồi giấy phép đầu t (trừ các dự án do Thủ t-
ớng Chính phủ cấp giấy phép và UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ơng đợc
phân cấp).
+ Tổ chức, kiểm tra định kỳ việc thực hiện giấy phép: MPI trở thành trung
tâm phối hợp các Bộ để tránh chồng chéo trong kiểm tra.
+ Đào tạo bồi dỡng cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài. Theo luật định thì Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc thứ nhất phải là
ngời Việt Nam (Điều 24 Nghị định 12/CP). Thành viên của mỗi bên trong Hội
đồng quản trị tỷ lệ với số vốn đóng góp (điều 11 Luật ĐTNN 1996). Nhng những
nhà quản lý này đòi hỏi năng lực trình độ chuyên môn cũng nh trình độ pháp luật
cao mới có thể giải quyết đợc các vấn đề phát sinh trong quá trình ký kết, thực
hiện hợp đồng, hoạt động, giải thể doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài .
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Hoà giải các tranh chấp theo yêu cầu của các bên: Quá trình đầu t không
phải bao giờ cũng suôn sẻ, mà nhiều khi có các tranh chấp xảy ra. Nhà nớc luôn
khuyến khích các bên đi đến thống nhất bằng thơng lợng. Nhng nếu thơng lợng
không đi đến kết quả thì có thể nhờ MPI hoà giải trớc khi đa tranh chấp ra xét xử
bằng toà án hay trọng tài... Ban hoà giải sẽ bao gồm một ngời Việt Nam, một ngời
nớc ngoài và một ngời của MPI, trong đó ngời đại diện của MPI là trởng ban.
+ Phân tích hiệu quả kinh tế- xã hội của hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài.
+ Kiến nghị Nhà nớc ban hành pháp luật và các chính sách về đầu t trực tiếp
nớc ngoài.
c) UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ơng:

d/ Bộ Tài chính:
+ Phê duyệt và triển khai việc tực hiện chế độ kế toán của doanh nghiệp có
vốn đầu t nớc ngoài (điều 65 khoản 2 Nghị định 12/CP);
+ Làm đầu mối giải quyết những tranh chấp về tài chính, đặc biệt là thuế
trong doanh nghiệp;
+ Kiểm tra bên Việt Nam về nghĩa vụ nhận nợ và bảo toàn vốn Nhà nớc;
+ Theo dõi, kiểm tra các báo cáo quyết toán của doanh nghiệp;
+ Tham gia thẩm định dự án.
e/ Bộ Th ơng Mại:
+ Xem xét cấp giấy phép đầu t xuất- nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên
vật liệu phục vụ cho xây dựng cơ bản, hình thành doanh nghiệp. Lô hàng này đợc
miễn thuế nhập khẩu 100%. Tuy nhiên, đối với một số thiết bị chuyên dụng, Bộ
Thơng Mại phải tham khảo ý kiến của các Bộ chuyên ngành. Để tránh trở thành
bãi rác công nghiệp của thế giới, đối với những máy móc thiết bị cũ, khi xem xét
cấp giấy phép nhập khẩu Bộ Thơng Mại phải tuân thủ quy định của Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trờng (quy định 1762). Theo quy định này, tuổi thọ của các
thiết bị của các nớc thuộc nhóm G7 không đợc vợt quá 10 năm và chất lợng giám
định > 80%...
+ Xem xét và cấp giấy phép xuất- nhập khẩu phục vụ sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Để khuyến khích xuất khẩu, đối với doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
không phải xin giấy phép xuất- nhập khẩu nhng chỉ đợc nhập khẩu máy móc, thiết
bị phục vụ sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra.
Hiện nay Chính phủ đang đơn giản hoá chế độ cấp giấy phép bằng cách bỏ dần
giấy phép xuất- nhập khẩu chuyến và thay thế bằng kế hoạch xuất- nhập khẩu của
doanh nghiệp từ đầu năm.
+ Kiểm soát việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368

lao động.
+ Xử lý các tranh chấp về lao động và tiền lơng.
+ Kiểm tra, giám sát an toàn lao động.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
h/ Bộ Xây dựng:
+ Quản lý thiết kế xây dựng đối với các dự án đầu t nớc ngoài thuộc nhóm
A đã đợc cấp giấy phép đầu t (Điều 58 khản 1 Nghị định 12/CP).
+ Quản lý về quy chế xây dựng.
Đối với các công trình có vốn đầu t nớc ngoài, đều phải đấu thầu xây dựng
và việc tổ chức đăng ký đấu thầu phải theo quy chế của Bộ Xây dựng. Tại sao phải
đấu thầu xây dựng?
Thứ nhất, phía các chủ đầu t nớc ngoài muốn giành đợc quyền chỉ định các
công ty xây dựng của họ bởi vì phần góp vốn của họ là chính. Thứ hai, vì các công
ty xây dựng Việt Nam không đủ năng lực tổ chức cũng nh kỹ thuật để xây dựng
những công trình lớn. Thứ ba, vì tham gia đấu thầu ở Việt Nam gặp rất nhiều rủi
ro vì thông tin hay bị rò rỉ.
Còn phía Việt Nam hy vọng phát triển ngành xây dựng, tạo công ăn việc
làm cho công nhân trong nớc nên đề ra quy chế đấu thầu.
Thông thờng, bên nớc ngoài chọn một số công ty xây dựng nổi tiếng làm
tổng thầu và giao cho bên công ty xây dựng Việt Nam thầu phụ.
Khâu xin giấy phép xây dựng còn nhiều rắc rối, ít nhiều gây cản trở để tiến
trình thực hiện dự án đầu t. Có những dự án kéo dài 2-3 năm mà vẫn không xin đ-
ợc giấy phép xây dựng.
i/ Bộ Nội vụ:
+ Quản lý trật tự an toàn xã hội.
+ Kiểm tra thị thực nhập cảnh, xuất cảnh, đăng ký lu trú và quản lý hộ tịch,
hộ khẩu của ngời nớc ngoài.
+ Kiểm tra các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài các bên tham gia hợp
đồng hợp tác kinh doanh có vi phạm những quy định về kinh tế không.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status