Quản lí nhà nước đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ Karaoke tại thành phố Biên hòa - Pdf 19

www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII)
đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”.

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, việc coi trọng chính sách đầu
tư văn hóa, đầu tư cho con người; khuyến khích và tạo điều kiện để nhân dân
tham gia sáng tạo văn hóa, hưởng thụ văn hóa ngày càng nhiều hơn là thể hiện
vai trò của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay. Từ
khi có Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997, Nghị định 73/1999/NĐ-CP ngày
19/8/1999 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa trong lĩnh vực
văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao đã mở đường cho cơ hội phát huy nguồn
nội lực trong nhân dân cùng tham gia phát triển văn hóa theo mô hình xã hội
hóa.
Thực hiện chủ trương xã hội hóa đó, tỉnh Đồng Nai đã có bước phát triển
rõ rệt của khu vực ngoài công lập; bước đầu huy động được tiềm năng và nguồn
lực xã hội; mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại hình, tăng cường cơ sở vật
chất, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ. Nghị định 73/1999/NĐ-CP ra đời
đã tạo ra hành lang pháp lý khá hoàn chỉnh với nhiều ưu đãi ở mức cao, nên đã
thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia. Riêng tại thành phố Biên
Hòa, đã nhanh chóng phát triển nhiều mô hình hoạt động văn hóa như: Các câu
lạc bộ, đội nhóm văn hóa văn nghệ... do tư nhân bỏ vốn đầu tư; hoạt động vũ
trường; cửa hàng kinh doanh băng đĩa hình, nhạc; tụ điểm hát cho nhau nghe;
sân khấu ca nhạc ngoài trời; tụ điểm vui chơi giải trí dành cho thiếu nhi; chiếu

nghị một số giải pháp nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước
trong hoạt động kinh doanh karaoke; góp phần cùng thành phố Biên Hòa - Đồng
Nai và cả nước thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đề tài đi sâu tìm hiểu phân tích hoạt động dịch vụ karaoke, những vấn
đề đặt ra với tư cách là sản phẩm hàng hóa văn hóa tinh thần;
- Khóa luận tập trung nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra của
hoạt động dịch vụ karaoke ở các quán karaoke, nhà hàng karaoke, các tụ điểm
karaoke trên địa bàn thành phố Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai.
3. Phương pháp nghiên cứu.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa3

Căn cứ vào đường lối, chính sách pháp luật và các văn bản pháp quy của
Đảng và nhà nước. Dựa trên cơ sở lý luận của Mác - Angghen về 2 hình thái sản
xuất vật chất và tinh thần, cùng với hệ thống lý thuyết của khoa học liên ngành
và nhu cầu hưởng thụ văn hóa giải trí của quần chúng nhân dân kết hợp các
phương pháp:
- Khảo sát thăm dò và quan sát tham dự.
- Sưu tầm tổng hợp tư liệu và phân tích.
4. Nhiệm vụ và đóng góp đề tài.
Đề tài không đi sâu tìm hiểu nguồn gốc đặc trưng sự hình thành và phát
triển của hoạt động karaoke, mà đi sâu phân tích để đi đến:
- Khẳng định karaoke là một sản phẩm hàng hóa văn hóa tinh thần;
- Tìm hiểu những yêu cầu khách quan và giá trị xã hội của hoạt động
karaoke;
- Tìm hiểu thực tiễn quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke;

của vật phẩm ấy, mà chính là thuộc tính xã hội, nội dung giá trị văn hóa tinh
thần của nó. Đây là một khác biệt có tính nguyên tắc khi nói đến hàng hóa văn
hóa. Giá trị sử dụng của một tác phẩm văn hóa (sử dụng thuật ngữ này theo Ông
Đoàn Văn Chúc - chuyên đề xã hội học văn hóa - tài liệu cá nhân) không phải là
thuộc tính vật chất tự nhiên của nó, mà là nội dung giá trị nghệ thuật, giá trị văn
hóa. Nội dung này ở những thời điểm lịch sử, với từng địa phương, từng nhóm
công chúng khác nhau có sự khác nhau về mặt công dụng của nó, nghĩa là về tác
động tư tưởng thẩm mỹ.
Một điểm nữa là giá trị sử dụng của một vật phẩm vật chất có thể là đối
tượng chiếm hữu và sử dụng của một cá nhân, có thể hao phí hoàn toàn trong
quá trình sử dụng; còn giá trị sử dụng của một tác phẩm văn hóa luôn luôn là tài
sản chung của toàn xã hội, cho dù bản thân tác phẩm ấy thuộc quyền sở hữu của
nhà nước hay tư nhân. Chính vì vậy trong văn hóa, giá trị sử dụng của hàng hóa
văn hóa phải là mối quan tâm hàng đầu. Buông lỏng quản lý, xu hướng thương
mại hóa, sự lan tràn sản phẩm độc hại trên thị trường... chính là xem nhẹ hoặc
hy sinh giá trị sử dụng để chạy theo giá trị trao đổi hàng hóa tinh thần (bài hát,
bức tranh, điệu múa…) là để bán, nên mục đích chủ yếu của họ là giá trị chứ
không phải giá trị sử dụng. Nhưng quá trình thực hiện giá trị lại được tiến hành
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa5

trước quá trình thực hiện giá trị sử dụng, hoặc quá trình thứ nhất được tiến hành
một lần là xong, còn quá trình thứ hai có hậu quả lâu dài trong đời sống xã hội.
Ở đây giá trị sử dụng không chỉ là đối tượng quan tâm hàng đầu của người tiêu
dùng cụ thể (người mua vé, mua sách, báo...) mà thực chất là toàn xã hội tiêu
dùng. Vì vậy hàng hóa văn hóa đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ hơn. Đó là một dạng
hàng hóa đặc biệt.

trường sinh thái văn hóa mà ở đó tồn tại những cá thể người với tư cách văn hóa
cá nhân và những tập thể.
Sản xuất của cải vật chất là quá trình tác động giữa con người vào giới tự
nhiên, nhằm biến đổi các hình thái vật chất của tự nhiên để tạo ra các sản phẩm
phù hợp với nhu cầu của mình. C. Mác và Ph. Ănghen chỉ ra rằng: “sản xuất của
cải vật chất là cơ sở, là điều kiện tiên quyết tất yếu và vĩnh viễn của sự tồn tại và
phát triển của con người và xã hội lòai người”.
Trong cuộc sống và trong quá trình lao động sản xuất, để nhận thức, để
giảm áp lực sự vất vả và tìm thấy niềm vui, sự hưng phấn, con người đã tạo ra
các hoạt động tinh thần không thể thiếu được của con người. Nhu cầu tinh thần
ngày càng trở nên phong phú và đa dạng như nhu cầu tình cảm; nhu cầu nhận
thức; nhu cầu sáng tạo; nhu cầu tổ chức cộng đồng trong quá trình hợp tác với
nhau để cải tạo tự nhiên, để bảo vệ cuộc sống, bảo vệ quê hương đất nước; nhu
cầu hoạt động xã hội; nhu cầu khẳng định mình trong cơ cấu xã hội; nhu cầu
thẩm mỹ...
Khi con người còn ở thời kỳ sơ khai, thì việc sản xuất và thỏa mãn các
nhu cầu tinh thần thường gắn chặt với quá trình sản xuất của cải vật chất và phân
phối các giá trị vật chất. Các giá trị tinh thần được con người sáng tạo ra bằng
cách bắt chước, mô phỏng trực tiếp từ thiên nhiên hay từ các động tác của con
người, do đó nó gắn liền với giá trị vật chất, với hoạt động kinh nghiệm. Nhưng
khi xã hội càng phát triển, nhận thức của con người trở nên sâu sắc hơn, thì hàm
lượng tri thức trong các sản phẩm tinh thần do con người sáng tạo ra càng cao.
Từ thực tế cuộc sống, con người quan sát, chiêm nghiệm rồi sáng tạo ra các giá
trị tinh thần có tính tư tưởng và nghệ thuật cao, đứng độc lập với các sản phẩm
vật chất. Rồi do ảnh hưởng tác động của các sản phẩm tinh thần đến mọi người
ngày càng lớn, cũng như sự đòi hỏi về nhu cầu tinh thần của người dân, của xã
hội ngày càng phong phú, sâu sắc nên một bộ phận dân chúng có năng lực, tài
năng đã tách khỏi lãnh vực sản xuất vật chất để chuyên tập trung vào sáng tạo ra
giá trị tinh thần.
www.HanhChinhVN.com

dao, tục ngữ:
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” (ca dao)
“Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa” (tục ngữ)
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa8

Nhưng khi xã hội vật chất ngày càng phát triển, nhận thức của con người
cũng ngày một sâu sắc thì các sản phẩm văn hóa tinh thần đã dần dần tách khỏi
sản phẩm vật chất thông thường, đứng độc lập và mang tính tư duy, tính khái
quát nhiều hơn, do đó, tính tư tưởng và nghệ thuật cũng được nâng cao.
- Sản phẩm văn hóa tinh thần có tính chất ban đầu là công hữu và phi
hàng hóa.
Việc sản xuất và sử dụng sản phẩm văn hóa tinh thần ban đầu mang tính
chất công hữu tập thể, phục vụ cho số đông hoặc toàn xã hội. Nhưng khi kinh tế
hàng hóa xuất hiện thì nhiều sản phẩm tinh thần dần dần tham gia vào quá trình
trao đổi mua bán và trở thành hàng hóa. Sự biến đổi này đã làm cho sản phẩm
văn hóa tinh thần chuyển dần từ công hữu sang tư hữu.
Sản phẩm văn hóa tinh thần có mâu thuẩn giữa tính hàng hóa và tính phi
hàng hóa. Tính phi hàng hóa đòi hỏi sản phẩm văn hóa tinh thần phải phục vụ
cho cơ sở chính trị, kinh tế nhất định, còn tính hàng hóa đòi hỏi sản phẩm văn
hóa tinh thần phải được trao đổi, sản xuất, kinh doanh theo quy luật giá trị, quy
luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh và chịu sự tác động điều tiết của các quy luật
này. Đây cũng chính là mâu thuẫn mang tính biện chứng của sản phẩm văn hóa
tinh thần.
Một số sản phẩm văn hóa tinh thần lúc đầu được sản xuất ra không nhằm
mục tiêu mua bán trao đổi, nó không phải là hàng hóa. Nhưng do nhu cầu của

cần có thời gian và trình độ nhất định, Hiện nay, trong số các sản phẩm văn hóa
tinh thần có một số loại đòi hỏi một trình độ am hiểu và cảm thụ rất cao trong
thưởng thức, tiêu biểu như các vở kịch theo dạng kịch phi lý; tác phẩm hội họa
theo trường phái ấn tượng, lập thể, nhạc thính phòng; giao hưởng.
Hàng hóa văn hóa tinh thần là một loại hàng hóa đặc biệt, được tạo nên
từ sự kết hợp của hai yếu tố sản phẩm tinh thần và hàng hóa. Nói cách khác,
hàng hóa và văn hóa tinh thần là những sản phẩm văn hóa tinh thần được đem ra
trao đổi, mua bán.
Với tư cách là sản phẩm văn hóa tinh thần, nó thỏa mãn các tiêu chí:
- Là sản phẩm lao động trí tuệ.
- Có khả năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần của một cá nhân hay cộng
đồng người.
- Với tư cách là hàng hóa, nó cũng thực hiện được giá trị và giá trị sử
dụng, được trao đổi mua bán trên thị trường.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa10

- Giá trị sử dụng của hàng hóa văn hóa tinh thần là tính hữu dụng có thể
thỏa mãn yêu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người.
- Giá trị của hàng hóa văn hóa tinh thần là lao động trí tuệ trừu tượng của
con người kết tinh trong đó. Hàng hóa văn hóa tinh thần là sản phẩm của lao
động, khi sản xuất ra nó người ta phải tiêu hao một lượng sức lao động và lượng
lao động tiêu hao đó tạo thành nguồn gốc của giá trị. Đối với hàng hóa văn hóa
tinh thần, việc xác định lượng giá trị thường căn cứ vào thời gian lao động cá
biệt của người sáng tạo, chứ không thể tính theo thời gian lao động trung bình
như các loại hàng hóa thông thường, bởi hàng hóa văn hóa tinh thần bao gồm
thời gian thai nghén và thời gian thể hiện (viết, vẽ...); thời gian thể hiện có thể

nguồn cảm hứng sáng tạo. Vì vậy, đối với con người lao động trí óc, văn hóa
nghệ thuật đòi hỏi bù đắp cả hao mòn hữu hình lẫn hao mòn vô hình.
Sản phẩm văn hóa tinh thần có tính chất hàng hóa gồm chủ yếu là loại
hình sản phẩm văn hóa ứng dụng: xuất bản phẩm, báo chí, phim ảnh... Chúng
cũng là sản phẩm của lao động, được sáng tạo nhằm mục đích trao đổi. Những
hàng hóa này đi vào thị trường văn hóa và thực hiện giá trị của mình, được
người tiêu dùng mua để phục vụ nhu cầu tinh thần - một nhu cầu không thể thiếu
và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cuộc sống hiện đại.
- Hàng hóa văn hóa tinh thần có giá trị sử dụng kép.
Sản phẩm vật chất thông thường khi tiêu dùng mang tính cá nhân cao.
Nó chủ yếu thỏa mản nhu cầu của người tiêu dùng và ít có ảnh hưởng đến xã
hội. Ví dụ, khi chúng ta tiêu dùng một cái bánh mì, hoặc một đồ dùng trong nhà
thì việc tiêu dùng đó chỉ thỏa mản nhu cầu cá nhân mà rất ít ảnh hưởng đến xã
hội. Có thể gọi những vật phẩm như vậy là những vật phẩm có giá trị sử dụng
đơn, tức là chỉ thỏa mản nhu cầu cá nhân. Nhưng trái lại, khi chúng ta thưởng
thức sản phẩm hàng hóa văn hóa tinh thần, như một cuốn phim, một tác phẩm
văn học thì ngoài việc thỏa mản nhu cầu cá nhân ra chúng còn góp phần thỏa
mản những nhu cầu của xã hội, như nhu cầu tổ chức cộng đồng, nhu cầu giáo
dục tư tưởng hoặc nhu cầu duy trì trật tự an ninh xã hội...Như vậy, nó mang giá
trị sử dụng kép.
Một sản phẩm văn hóa tinh thần nếu có nội dung lành mạnh, có tính tư
tưởng và nghệ thuật cao sẽ có tác động tích cực đến người tiêu dùng và xã hội.
Nó làm cho con người sống nhân văn hơn, thương yêu nhau hơn; nó khích lệ
người ta vượt qua những khó khăn, gian khổ, đau buồn để vươn tới một cuộc
sống tốt đẹp. Những nhân vật tiêu biểu, tích cực trong tác phẩm là những tấm
gương có sức cuốn hút mạnh để người ta học tập, noi theo. Bên cạnh đó, các sản
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa
với nhau mà gắn bó hữu cơ với nhau.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa13

1.1.2. Quản lý hoạt động văn hóa là quản lý hệ thống sản xuất tinh
thần.
Điểm xuất phát để nhìn nhận hoạt động văn hóa như một hệ thống tổ
chức sản xuất là tư tưởng của học thuyết Mác-xít về sản xuất vật chất là hai hình
thái cơ bản của hoạt động người. Trong “hệ tư tưởng Đức” Mác và Ăng-ghen
viết về hai phương diện hoạt động. Sự chế tác thiên nhiên bởi con người và chế
tác con người bởi con người. Trong tập bốn bộ tư bản Mác nói đến hai trường
hợp sản xuất phi vật chất và nhiều lần ông trở lại tư tưởng này. Chẳng hạn, Mác
viết “trong nền sản xuất phi vật chất, ngay cả nếu chỉ được tiến hành để trao đổi,
sản xuất hàng hóa, vẫn có hai trường hợp:
* Những hàng hóa tồn tại tách biệt khỏi người sản xuất, do đó có thể
trong khoảng cách giữa sản xuất và tiêu dùng trở thành hàng hóa.
Ví dụ: Cuốn sách, bức tranh, tất cả tác phẩm nghệ thuật tồn tại tách khỏi
hoạt động nghệ thuật của nghệ sĩ sáng tạo ra chúng .
* Những sản phẩm gắn liền với hoạt động của người sản xuất.
Sản xuất tinh thần không những tạo ra các giá trị tinh thần được khách
quan mà còn bao hàm cả việc hình thành văn hóa cá nhân, văn hóa cộng đồng và
sự giao tiếp văn hóa. Sản xuất tinh thần cũng có thể phân ra đối tượng lao động,
quá trình lao động và kết quả lao động. Tuy nhiên, ở đây đối tượng lao động có
thể là những quan hệ xã hội và quá trình tư duy nhân loại, còn sản phẩm lao
động có thể tồn tại không tách khỏi hành động sáng tạo của người sản xuất trực
tiếp.
Sự phát triển sản xuất tinh thần như một ngành tương đối độc lập trong

hai dòng văn hóa. Văn hóa chính thống của giai cấp đại diện cho phương thức
sản xuất hiện hành và văn hóa dân gian của các giai cấp thực hành phương thức
sản xuất ấy.
Về mặt xã hội học lao động, người ta gọi văn hóa dân gian là văn hóa
nghiệp dư, và mặt xã hội học thời gian là “hoạt động rỗi” bởi phần lớn những
hoạt động này chủ yếu diễn ra trong thời gian rỗi (thời gian tự do).
Xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị kinh tế đồng thời thống
trị về tinh thần. Tầng lớp đặc biệt, tầng lớp “hệ tư tưởng của xã hội đã hình
thành để thực hiện nhiệm vụ đó”. Chính tầng lớp này đóng vai trò quyết định
trong sản xuất các giá trị tinh thần. Hoạt động văn hóa của họ là chuyên nghiệp,
hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này, diễn ra như quá trình lao động xã hội.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa15

Trái lại, với đại bộ phận nhân dân, thời gian lao động, xã hội trực tiếp
sản xuất ra của cải vật chất. Nhân dân tham gia sản xuất tinh thần chủ yếu dưới
hình thái hoạt động rỗi, nghĩa là tự biểu hiện trong nghỉ ngơi, giải trí. Vì vậy có
thể gọi quá trình thực hiện bản chất người ấy là giải trí - sáng tạo văn hóa.
Trước chủ nghĩa xã hội, văn hóa dân gian là hiện tượng tự phát của nhân
dân lao động. Thuật ngữ “folklore” trong đa số ngôn ngữ các xứ la tinh, Bắc Mỹ
và Bắc Âu ứng dụng cho những cuộc trình diễn những liên hoan ca khúc và
nhảy múa, trong khoa học là sự nghiên cứu văn hóa nông dân. Ở Mỹ “folklore”
gợi đến những ca sĩ tóc dài hoặc những người kể chuyện dân gian các thế kỷ xa
xưa. Ở Đức và Anh muốn nói đến những truyền thuyết dân gian thực chất, còn
trong khoa học nhân văn Xô Viết và Trung Âu “folklore” là trí tuệ nhân dân
biểu thị sự bất bình của họ chống lại các giai cấp bóc lột.
Văn hóa dân gian là hoạt động tinh thần của người lao động. Một sự thật

sản xuất mà nó đại diện và phổ cập các giá trị bằng những phương tiện mà nó sở
đắc trong thời đại.
Nhưng do bản chất chính trị của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể
tiến hành cả hai phần việc để xây dựng nền văn hóa: tổ chức quản lý văn hóa
chuyên nghiệp và tổ chức quản lý văn hóa quần chúng. Công tác văn hóa có thể
phân thành hai mảng:
1. Tổ chức quản lý văn hóa chuyên nghiệp bao gồm cả sản xuất và lưu
thông phân phối đem văn hóa đến quần chúng.
2. Tổ chức quản lý văn hóa quần chúng, bao gồm cả hoạt động sản xuất,
trao đổi và tiêu dùng các giá trị tinh thần đem quần chúng đến văn hóa.
Ở hệ thống thứ hai nhân dân trực tiếp tham gia quá trình sản xuất sản
phẩm văn hóa. Đây là hệ thống thiết chế sự nghiệp công tác văn hóa quần
chúng, đối tượng xem xét chủ yếu trong khóa luận này.
Quá trình xã hội hóa và phát triển cá nhân, sự hình thành nhân cách văn
hóa bao giờ cũng diễn ra bởi hai chiều tác động liên tục đan xen lẫn nhau, dệt
thành những nhân cách cụ thể. Chiều dọc là sự tác động của văn hóa xã hội của
cá nhân ấy, tức cá nhân tự xác định mình trong môi trường văn hóa. Sự vận
động này thống nhất hai mặt giáo dục văn hóa và thỏa mãn nhu cầu văn hóa toàn
diện của con người. Tính chất phong phú thực sự về tinh thần của cá nhân hoàn
toàn tùy thuộc vào tính chất phong phú các mối quan hệ thực sự của chính cá
nhân ấy. Ở đây con người thể hiện trong sự vận động văn hóa trên ba mối quan
hệ chủ yếu:
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa17

+ Cá nhân chiếm lĩnh giá trị văn hóa.
+ Cá nhân sáng tạo văn hóa.

xã, thành phố thuộc
Phòng Văn hóa thông tin Nhà văn hóa, trung tâm văn hóa
thông tin, thư viện huyện…
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa18

tỉnh
Xã, phường, thị trấn UBND (cán bộ văn xã) Trung tâm VH xã, phường…
1.2. Quản lý nhà nước về hoạt động dịch vụ karaoke.
1.2.1. Quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa.
Quản lý là đối tượng nghiên cứu và vận hành của nhiều ngành khoa học
trên các lĩnh vực khoa học tự nhiên - khoa học xã hội và nhân văn. Trong mỗi
lĩnh vực - phạm vi hoặc mỗi ngành nghề nghiên cứu ứng dụng và vận hành quản
lý ở mỗi góc độ riêng biệt, cũng từ đó đưa ra các định nghĩa riêng về quản lý của
lĩnh vực hay ngành khoa học đó. Theo điều khiển học, quản lý là sự điều khiển
định hướng một hệ thống hay một quá trình vận động, căn cứ vào những quy
luật, định luật hay những nguyên tắc tương ứng, điều khiển hệ thống hay quá
trình vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích,
lợi ích và kết quả đã được định trước.
Trong lĩnh vực xã hội loài người quản lý ở phạm vi vĩ mô được chia
thành hệ thống quản lý và hệ thống bị quản lý, ở phạm vi vi mô quản lý được
chia thành chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Như vậy, quản lý là sự tác động
có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý. Như vậy, quản lý là sự
tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một lần hoặc
nhiều lần, gián tiếp hay trực tiếp là tùy thuộc theo từng lĩnh vực phạm vi, vấn đề
hay cơ chế quản lý đặt ra.
Angghen viết: “Một bên là phải có quyền uy nhất định, không kể quyền

mặt trận. Mặt trận văn hóa tư tưởng (cũng như một mặt trận bất kỳ nào khác)
đều có “ta và địch”, có “bạn và thù”. Thắng lợi trên mặt trận ấy là thắng lợi
những giá trị tinh thần Việt Nam. Trong hoàn cảnh ấy, nội dung cốt lõi của nâng
cao dân trí và phát triển văn hóa là bồi dưỡng chủ nghĩa yêu nước và giác ngộ
chủ nghĩa xã hội. Văn hóa trước hết là “văn hóa chính trị tư tưởng”.
Văn hóa là một hệ thống những giá trị và chuẩn mực xã hội. Nhưng giá
trị không tồn tại lơ lững, siêu hình. Giá trị là nội dung, là bản chất của văn hóa
bao giờ cũng được khách quan hóa, đối tượng hóa dưới dạng những hình thức
(của nội dung) những hiện tượng (của bản chất), những quan hệ và quá trình xã
hội.
Quản lý văn hóa không đơn giản chỉ là công tác tuyên huấn, mà chính là
quản lý những quá trình xã hội này. Khoa học quản lý đòi hỏi phải nhìn nhận đối
tượng quản lý trong sự vận động của nó, phải nắm bắt được những quy luật của
đối tượng vận động và vận động của đối tượng.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa20

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện trong đời sống xã
hội và chuẩn bị gia nhập WTO dưới sự lãnh đaọ của Đảng, từ một nền kinh tế
tập trung, bao cấp chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà
nuớc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Một bộ máy hành chính quan liêu
chuyển đổi thành bộ máy nhà nước pháp quyền. Những khái niệm “hàng hóa”,
“sản xuất hàng hóa”, “cơ chế thị trường” đã phổ dụng trong lĩnh vực kinh tế.
Nhưng phải chăng, chỉ có thể và cần thiết xóa bỏ bao cấp trong kinh tế là đủ?
Phải chăng cái luận thiết “thể Đông dụng Tây” của thời quân chủ suy tàn vẫn
còn sức hấp dẫn?
Lịch sử cho thấy trong quy luật sinh tồn của nó văn hóa là “giao lưu” là

hóa hình thức sở hữu các giá trị văn hóa. Nhưng việc sản xuất, bảo quản, lưu
thông và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa lại không nhất thiết và không thể bao
cấp nhà nước hoàn toàn. Đảng ta chủ trương phát triển các hình thức hoạt động
văn hóa, văn nghệ của nhà nước, tập thể và cá nhân.
Nhìn nhận hoạt động văn hóa như một hệ thống tổ chức sản xuất tinh
thần, đòi hỏi và cho phép vận dụng khoa học quản lý trong lĩnh vực này nhằm
tăng cường vai trò của nhà nước không chỉ trong việc khắc phục tình trạng hành
chính hóa các tổ chức văn hóa mà còn khắc phục hữu hiệu tình trạng thương mại
hóa văn hóa các hoạt động văn hóa. Không thể biến toàn bộ hoạt động văn hóa
thành chuyện buôn bán lời lãi, điều đó không đồng nghĩa với việc triệt tiêu hoàn
toàn tính chất “thương mại” trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, nơi tồn tại đa
thành phần hoạt động (nhà nước, tập thể, cá nhân) nơi tồn tại quy luật cung - cầu
mà sự thống nhất định hướng giá trị văn hóa không phải là sự đồng nhất thị hiếu
để mọi người cùng ăn một suất ăn tập thể như nhau. Đã nói đến cung - cầu là nói
đến cạnh tranh thị trường và tác động của quy luật giá trị. Cũng như nói đến sản
xuất là nói đến hoạch định kinh tế. Đây là những vấn đề kinh tế học trong văn
hóa không chỉ có ý nghĩa to lớn, trong nghiên cứu lý luận mà có giá trị thiết thực
và cấp bách trong tổ chức hoạt động thực tiễn. Theo hướng này, khóa luận chỉ là
sự đề cập bước đầu đến một vấn đề mới mẽ, phong phú và phức tạp. Trong giới
hạn, bài viết là sự vận dụng ngôn ngữ quản lý vào việc xem xét lĩnh vực hoạt
động văn hóa như một hệ thống sản xuất tinh thần, từ đó xem xét vận hành một
thiết chế văn hóa với tư cách đơn vị cơ sở trong hệ thống vĩ mô quốc gia tương
tự như vận hành một doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực văn hóa. Tăng
cường vai trò quản lý của nhà nước về văn hóa bằng những biện pháp chuyên
môn và kinh tế là điều kiện cần thiết để phát triển văn hóa lành mạnh, phong
phú, đa dạng, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về đời sống tinh thần của nhân
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa
karaoke đã ra đời và nhanh chóng trở thành phổ biến.
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa23

“Hộp” karaoke đầu tiên xuất hiện vào những năm 1984 trên cánh đồng
lúa tại Miền quê Okayama phía Tây Kansai. Nó được làm từ những toa xe chở
hành khách đã được cải tiến lại. Từ đó các hộp karaoke được xây dựng trên
những vùng đất trống khắp nơi trên đất Nhật. Và trong khu thành thị, phòng hát
karaoke được chia làm nhiều ngăn (phòng) và được cách âm phát triển ngày
càng nhiều hơn.
Cũng có thông tin cho rằng, xuất xứ của karaoke từ một người tên là
Daisuke Inoue; năm 31 tuổi khi còn là người chơi đàn Keyboard trong một câu
lạc bộ, ông đã phát minh ra máy hát karaoke đã gây cơn sốt khắp thế giới. Động
cơ sáng chế ra chiếc máy này, theo Inoue là do ông lười vì cứ phải đệm đàn cho
khách hàng câu lạc bộ hát hết bài này sang bài khác, trong khi Inoue không biết
đọc nhạc (dù đã chơi trống từ năm 16 tuổi). Lẽ ra Daisuke Inoue đã thành tỉ phú
nếu ba thập niên trước ông kịp thời xin cấp bằng sáng chế cho phát minh
karaoke. Nay, con người đã tạo ra một công nghiệp mà chỉ trên đất Nhật thôi,
doanh thu đã lên tới 7,5 tỉ USD/năm, đang hy vọng đặt dấu ấn của mình cho cái
mà ông gọi là cuộc "cách mạng sạch". Nhà phát minh karaoke thành thật thú
nhận: "Chơi đàn cho khách hàng chẳng có gì khó. Nhưng căng nhất là tháng nào
phải học thuộc lòng nhiều bài mới trong khi tôi không đọc nhạc được". Ý tưởng
làm máy hát karaoke nảy ra năm 1971, khi một khách hàng mời Inoue đi theo
đàn cho ông ta hát trong một cuộc du ngoạn cuối tuần của công ty; Inoue không
thể bỏ việc tại câu lạc bộ. Vì nể khách, Inoue làm ra một đọan băng có nhạc nền
sẵn cho ông này. Cuối năm đó, ở tuổi 31, Inoue làm ra chiếc máy hát karaoke
đầu tiên mang tên Juke 8. Nhưng Inoue chỉ kiếm được tiền ba năm sau nhờ bán

thiện, các micro cho khách và những chiếc hộp có sẵn; chúng đang sẵn sàng
“vào cuộc hát karaoke”. Các phòng thu đã mở cửa cho khách khi có yêu cầu đến
để thu âm giọng hát của mình; đồng thời các cuộc thi hát karaoke được tổ chức
ở nhiều nơi. Karaoke ngày càng được biết đến không chỉ ở Nhật mà còn lan rộng
ở nhiều quốc gia khác như: Mỹ, Nga, Trung Quốc... tất cả các quốc gia đã tiếp
thu nó như một giá trị văn hóa và đưa vào hoạt động trong cuộc sống hàng ngày,
được xem là món ăn tinh thần của từng dân tộc. Việt Nam cũng đã sớm tiếp thu
giá trị văn hóa này, đến nay phát triển trên phạm vi toàn quốc.
Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa mở rộng giao
lưu với thế giới, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp
hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế. Chính vì thế, karaoke
được tiếp nhận, ứng dụng trong đời sống và được xem như món ăn tinh thần của
người Việt. Năm 1980 karaoke được du nhập vào Việt Nam; con đường du nhập
www.HanhChinhVN.com
Khóa luận tốt nghiệp.  Quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke ở TP Biên Hòa25

karaoke vào Việt Nam đang có nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Có
nhiều người cho rằng, những thương nhân người Nhật khi vào Việt Nam làm
việc, trong thời gian thư rỗi họ đã hát karaoke; sau đó người Việt chúng ta đã
học hỏi và karaoke được xuất hiện ở Việt Nam. Nhưng có một số ý kiến khác lại
cho rằng không phải karaoke được truyền từ người Nhật mà từ khách du lịch
trên thế giới, họ đến Việt Nam để tham quan, du lịch và chính họ đã tổ chức hoạt
động này nhằm để giải trí trong nhà, nhất là ban đêm. Còn nhiều ý kiến khác nữa
về karaoke, nhưng một điều mà chúng ta phải công nhận, đó chính là sự học hỏi
và tiếp thu văn hóa của nhân loại và ứng dụng vào cuộc sống; điều đó “khẳng
định karaoke là một sinh hoạt văn hóa hiện đại”.
1.2.3. Các văn bản pháp quy của Nhà nước về quản lý hoạt động kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status