1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
“Nước - hai tỷ người đang khát” chủ đề mà Liên Hợp Quốc đưa ra nhân ngày môi
trường thế giới năm 2003 đã cho thấy sự cấp bách của vấn đề nước sạch hiện nay. Đến
năm 2005 chủ đề ngày nước thế giới được chọn là “Nước cho cuộc sống’’. Đồng thời,
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng chọn thập kỉ 2005-2015 là thập kỉ của nước nhằm
nâng cao nhận thức của con người đối với vai trò của nước sạch. Vấn đề nước sạch là
một vấn đề mang tính toàn cầu.
Ô nhiễm nước và vệ sinh môi trường hiện nay đang thực sự trở thành vấn đề đáng
báo động. Nguồn nước trong lành đang ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm do các hoạt động
của con người và khai thác quá mức. Thiếu nước và nước dùng không đảm bảo chất
lượng đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe của con người. Chất
lượng nước, điều kiện vệ sinh kém là nguyên nhân chính gây ra bệnh tật và tử vong của
con người, đặc biệt là trẻ em. Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ở
những nước mà phần lớn dân số không đảm bảo được cấp nước an toàn, nguy cơ bệnh
về đường ruột là rất lớn. Bartram J cho rằng 88% tổng số ca bị tiêu chảy là do sử dụng
nước không đảm bảo vệ sinh. Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân chính gây tử vong của 2,2
triệu người, trên tổng số 3,4 triệu người tử vong do các bệnh liên quan đến nước [12].
Tại Việt Nam, vấn đề này đã được Đảng và Chính phủ sớm quan tâm. Năm 1997,
Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Từ đó tỉ lệ tiếp cận nước sạch của
người dân tăng lên đáng kể (từ 18,4% năm 1992 lên đến 51% năm 2002 ở khu vực
nông thôn). Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là cùng với việc tăng tỉ lệ tiếp cận nước sạch
của người dân thì liệu chất lượng nước sạch có đảm bảo hay không, khi mà có đến 80%
các nhà máy cấp nước hiện nay cùng với hệ thống ống dẫn đã cũ kĩ, lạc hậu và xuống
2
cấp nghiêm trọng. Công tác bảo dưỡng, nâng cấp chúng còn có nhiều hạn chế. Bởi vậy,
việc đánh giá chất lượng nước cấp hiện nay cần thiết hơn bao giờ hết [12].
3
cấp nước cho các KCN, khu dân cư các phường ngoại thành và hỗ trợ một phần cho
NMN Biên Hòa. Người dân sống tại khu vực thành phố Biên Hòa (Tp. Biên Hòa) sử
dụng nước sạch chủ yếu là nước của NMN Biên Hòa. Nhà máy này được xây dựng từ
năm 1930, với công nghệ xử lý truyền thống đã cũ, mạng lưới đường ống đã xây dựng
quá lâu (hiện còn trên 20 km ống xây dựng trên 70 năm chưa được thay thế) nên ống bị
hư, đóng cặn và mục nát nhiều nên tỷ lệ rò rỉ tồn thất nước còn cao. Theo báo cáo của
NMN Biên Hòa thì tỉ lệ rò rỉ năm 2010 là 30%, đến năm 2011 thì tỉ lệ rò rỉ đã có giảm
nhưng vẫn còn cao, 26% [3].
Rò rỉ trong hệ thống phân phối là một nguyên nhân chính gây lo ngại cho chất lượng
nước ăn uống. Khi đất được tràn ngập bởi nước thải từ cống bị rò rỉ hoặc từ các nguồn
khác, sau đó đường ống bị rò rỉ sẽ được thâm nhập vào với nước bị ô nhiễm khi áp
thấp. Với những nguyên nhân như vậy cần phải sử dụng các phần mềm quản lý mạng
lưới để xác định điểm rò rỉ, làm giảm thất thoát nước cho các nhà máy nước và cải
thiện được chất lượng nước đến người tiêu dùng.
Mặc dù lượng nước cấp bị thất thoát do rò rỉ tại khu vực Tp. Biên Hòa là khá cao
(26%), công ty TNHH MTV cấp nước Đồng Nai chưa sử dụng phần mềm quản lý
mạng để làm giảm thất thoát nước, công ty chỉ thành lập một nhóm dò bể trực thuộc
công ty, dùng thiết bị tai nghe khuếch đại âm để dò bể những khu vực nghi ngờ. Biện
pháp này không được khả quan vì rất tốn công và không được chính xác. Hiện nay, có
rất nhiều phần mềm phân tích thủy lực đã được ứng dụng tại các công ty cấp nước như
WaterCAD, Epanet nhằm quản lý mạng lưới cấp nước. Tuy nhiên, phần mềm
WaterGEMS v8i là phần mềm được nâng cấp từ WaterCAD, được đánh giá cao so với
phần mềm Epanet do chức năng tính toán, khoanh vùng rò rỉ và khả năng tích hợp với
nhiều môi trường như Cad, GIS…giúp cho người kỹ sư sử dụng dễ dàng.
Từ những luận cứ trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng, khoanh vùng rò rỉ và đề xuất
các giải pháp quản lý chất lƣợng nƣớc cấp tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng
Nai” được thực hiện nhằm mục đích đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng đến nguồn
4
3.2.1.Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài lấy Tp. Biên Hòa làm địa bàn nghiên cứu, nhưng tập trung nghiên cứu ở vùng
nội ô.
Dân cư thành phố Biên Hòa chủ yếu sử dụng nước sinh hoạt là nước cấp đã được xử
lý từ nguồn nước sông nên đề tài chỉ tập trung vào nguồn nước thô là nước sông Đồng
Nai đoạn chảy qua Tp. Biên Hòa. Tại đoạn sông này chỉ nghiên cứu những điểm thuộc
khu vực cấp nước, đó là khu vực cầu Hóa An, khu vực NMN Biên Hòa và khu vực cầu
Rạch Cát.
Nước ngầm chỉ được sử dụng với quy mô nhỏ nên đề tài không nghiên cứu.
3.2.2. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Do điều kiện hạn chế về thời gian nghiên cứu cũng như các nguồn lực phục vụ cho
nghiên cứu đề tài luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về các khía cạnh sau:
(1) Một số nguyên nhân làm ô nhiễm đến chất lượng nguồn nước thô.
(2) Một số đặc điểm chính của nước cấp về thành phần vật lý, thành phần hóa học và
vi sinh vật.
(3) Nghiên cứu hiện trạng hệ thống cấp nước, mạng lưới cấp nước của Tp. Biên Hòa
và phân tích các ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp.
6
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các số liệu về hiện trạng môi trường, về điều kiện tự nhiên và phát
triển kinh tế xã hội tại Tp. Biên Hòa.
Thu thập các số liệu quan trắc về chất lượng nước sông Đồng Nai khu vực gần
NMN Biên Hòa, số liệu quan trắc của nước sau xử lý của NMN Biên Hòa và nước
cấp ngoài mạng lưới của khu vực Tp. Biên Hòa trong những năm gần đây.
Khảo sát các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng nước cấp tại địa bàn nơi
nghiên cứu.
Khảo sát về mạng lưới cấp nước và tình trạng rò rỉ nước ảnh hưởng đến chất lượng
nước cấp của thành phố.
Sử dụng phần mềm thủy lực WaterGEMS để khoanh vùng, xác định vị trí rò rỉ trên
Biên Hòa từ năm
2007-2011
Số liệu quan trắc nước
sông Đồng Nai khu
vực gần NMN Biên
Hòa từ 2007-2011
Số liệu quan trắc nước
ngoài mạng lưới từ
2009-2011
Tham khảo tài liệu liên quan
Đánh giá chất lượng nước cấp
Đánh giá chất lượng
nước sau xử lý tại NMN
Biên Hòa với QCVN
01:2009/BYT
Đánh giá chất lượng nước
trên mạng lưới với QCVN
01: 2009/BYT
Sử dụng ma trận rủi ro để đánh giá rủi ro
tại NMN Biên Hòa
Sử dụng phần mềm WaterGEMS để
khoanh vùng, xác định vị trí rò rỉ
Lấy mẫu và phân
tích mẫu tại các
điểm rò rỉ
Đề xuất các giải pháp quản lý
Đánh giá chất lượng
nước sông với QCVN
08:2008/BTNMT và dựa
trên chỉ số chất lượng
- Thu thập, biên hội số liệu về hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Tp.
Biên Hòa.
- Thu thập, biên hội các số liệu quan trắc chất lượng nước sông Đồng Nai khu vực
gần NMN Biên Hòa, số liệu chất lượng nước thô lấy tại NMN Biên Hòa, số liệu chất
lượng nước sau xử lý của NMN Biên Hòa và số liệu quan trắc nước cấp ngoài mạng
lưới.
c. Sử dụng phương pháp thống kê, xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Office:
tính sai số chuẩn, sử dụng phần mềm Excel để tính giá trị trung bình và sai số chuẩn.
d. Phương pháp so sánh, đánh giá: từ các số liệu đã tổng hợp được so sánh với các
tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước, chỉ số chất lượng nước WQI.
e. Đánh giá rủi ro được đánh giá xuyên suốt chu trình của nước từ việc thu nước đến
các điểm tiêu thụ nước.
f. Sử dụng phần mềm Bentley WaterGEMS để khoanh vùng rò rỉ.
Lấy mẫu, phân tích chất lượng nước tại các nơi bị rò rỉ.
Đánh giá kết quả nghiên cứu.
g. Sử dụng phương pháp chuyên gia để đưa ra nhận xét, đánh giá.
Các phương pháp này sẽ được trình bày cụ thể trong phần phương pháp và vật liệu
nghiên cứu ở chương 2.
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
6.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu có sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích, các phần mềm tin học hỗ trợ,…để đánh giá được chất lượng nước cấp. Kết
quả nghiên cứu của đề tài có thể được ứng dụng thực tế tại Tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng
Nai và các tỉnh thành trên cả nước.
10
6.2. Tính thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu về điều kiện kinh tế tự nhiên, kinh tế xã hội
và mạng lưới cấp nước của thành phố Biên Hòa. Từ đó đưa ra những đề xuất hợp lý
giúp cho việc quản lý chất lượng nước sạch tại thành phố ngày một tốt hơn.
phủ quan tâm ưu tiên đầu tư cải tạo và xây dựng, nhờ vậy tình hình cấp nước đã được
cải thiện một cách đáng kể. Tuy nhiên tình hình cấp nước đô thị còn nhiều bất cập:
- Tỷ lệ cấp nước còn rất thấp: trung bình đạt 45% tổng dân số đô thị được cấp nước.
- Công suất thiết kế của một số nơi chưa phù hợp với thực tế: Nhiều nơi thiếu nước,
nhưng cũng có đô thị thừa nước, không khai thác hết công suất.
- Tỷ lệ thất thoát thất thu nước còn cao: tại nhiều đô thị tỷ lệ thất thoát thất thu còn
cao như Thái Nguyên, Hà Nội, Hà Tĩnh, Vinh. Theo các số liệu tổng kết, hiện nay tỉ lệ
nước thất thoát ở Việt Nam khoảng 30%. Đây có thể là con số chưa thật chính xác, vì
đó mới chỉ là số trung bình của các tỉ lệ thất thoát của tất cả các đơn vị cấp nước, tổng
khối lượng nước thất thoát thực tế của cả nước còn có thể lớn hơn. Tuy nhiên, thất
thoát nước với tỉ lệ lớn như vậy cũng là một tất yếu, là một thực tế hoàn toàn tương
ứng với hiện trạng kỹ thuật của các hệ thống cấp nước của chúng ta đang có, trong đó
phần lớn là nước thất thoát do nguyên nhân kỹ thuật (do rò rỉ trên mạng lưới đường
ống).
- Chất lượng nước: tại nhiều nhà máy chưa đạt tiêu chuẩn quy định, tình trạng
nguồn nước mặt bị ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhân dân. Việc chất
lượng nguồn nước bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân gây ra:
+Tình hình khí tượng thuỷ văn trong những năm gần đây có nhiều biến động phức
tạp, tình hình, hạn hán, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng do hậu quả của hiện tượng phá
rừng kết hợp với ENNINO.
13
+Công tác khảo sát nguồn nước chưa sát với tình hình thực tế, chưa dự báo được
những biến động về mặt trữ lượng cũng như về mặt thuỷ địa hoá.
+Công nghệ xử lý nước tại một số nhà máy nước chưa đồng bộ và hoàn chỉnh.
+Tình hình xả nước thải không qua xử lý ra sông hồ đang là nguồn gây ô nhiễm cho
việc khai thác.
+Công tác quản lý khai thác nguồn nước mặt chưa được các cấp, các ngành quan
tâm thích đáng [17].
Tại Việt Nam có 68 công ty cấp nước, thực hiện cung cấp nước sạch cho các khu
đó, hai phần ba thị tứ không có hệ thống cấp nước tập trung. Bên cạnh đó, do những
khó khăn về nguồn vốn đầu tư cũng như năng lực của các công ty cấp nước, sự thiếu
đồng bộ khi quy hoạch phát triển hệ thống cấp nước và thực hiện quy hoạch, nên nhiều
hệ thống cấp nước đã nâng cấp và nâng cao công suất, nhưng không hoạt động hết
công suất.
- Theo số liệu Bench-marking của Hội Cấp thoát nước Việt Nam, chỉ có 35 trong số
67 thành phố được khảo sát (chiếm 60%) đảm bảo cấp nước liên tục 24 giờ/ngày. Hầu
hết các thành phố còn lại chỉ hoạt động 14-20 giờ/ngày và có 3-4 thành phố chỉ có thể
hoạt động 8-10 giờ/ngày. Do việc giảm nhanh áp lực trong hệ thống phân phối, nước
chỉ có thể chảy vào các bể chứa nước dưới đất của các hộ gia đình mà không thể tự
chảy lên các bể ở cao hơn. Hơn nữa, chất lượng nước cấp đến các hộ gia đình cũng
không hoàn toàn đảm bảo theo tiêu chuẩn vệ sinh, mặc dù chất lượng nước xử lý tại
các nhà máy nước có thể đạt các chỉ tiêu của nước cấp. Nguyên nhân là do nước được
phân phối trong đường ống có áp lực thấp hay không có áp lực hay thậm chí có áp suất
âm, và các đấu nối bị hỏng, những nguyên nhân trên khiến cho nước dễ dàng bị thấm
khi vận chuyển trong đường ống nước. Khi áp lực nước bên trong ống tăng cao đến
mức đủ cho nước có thể tự chảy (lớn hơn 0,6m/s), những cặn bẩn lâu ngày trong hệ
thống ống có thể chảy lẫn trong ống và làm giảm chất lượng nước khi nước được cấp
15
đến các hộ gia đình. Theo như kết quả khảo sát, hiện nay có khoảng 50% mạng lưới
phân phối đạt tiêu chuẩn nước sạch.
- Theo Bộ Xây dựng, việc tiếp tục cải tạo, mở rộng hệ thống phân phối nước sẽ là một
vấn đề ưu tiên của ngành cấp nước đô thị ở Việt Nam. Ở giai đoạn tới, các khoảng đầu
tư sẽ tập trung vào các công trình như cống lấy nước thô, đường ống truyền tải, nhà
máy xử lý nước, đường ống vận chuyển và đường ống phân phối. Ngành nước sẽ phải
khắc phục sự chậm trễ, lệch pha giữa sự phát triển của các hạn mục công trình trên để
đảm bảo hiệu suất khai thác của hệ thống là cao nhất.Công nghệ xử lý nước chủ yếu ở
các nhà máy nước với nguồn nước mặt ở Việt Nam là trộn hóa chất keo tụ tạo bông
(phèn, vôi, một số nơi dùng thêm chất trợ keo), lắng, lọc và khử trùng bằng Clo lỏng
Hình 1.1: Bản đồ thành phố Biên Hòa
17
1.2.1.2. Tổng diện tích tự nhiên:
Hiện nay, sau khi sáp nhập một số xã của huyện Long Thành, Tp. Biên Hòa có diện
tích tự nhiên là 26.407,84 héc ta.
1.2.1.3. Các đơn vị hành chính
Tp. Biên Hòa có 30 đơn vị hành chính gồm: 23 phường: Trung Dũng, Thanh Bình,
Hòa Bình, Tam Hòa, Tân Mai, Tam Hiệp, Quang Vinh, Quyết Thắng, Bình Đa, Tân
Tiến, Tân Hòa, Hố Nai, Thống Nhất, Tân Biên, Tân Hiệp, Bửu Hòa Tân Vạn, An Bình,
Bửu Long, Long Bình Tân, Tân Phong, Trảng Dài, Long Bình và 7 xã: Tân Hạnh, Hiệp
Hòa, Hóa An, An Hòa, Long Hưng, Phước Tân, Tam Phước.
• Các cơ quan chuyên môn: phòng Nội Vụ; phòng Tư pháp; phòng Tài chính - Kế
hoạch; phòng Tài nguyên và Môi trường; phòng Lao động - Thương binh và Xã hội;
phòng Văn hóa và thông Tin; phòng Giáo dục và Đào tạo; phòng Y tế; Thanh tra;
phòng Kinh tế; phòng Quản lý Đô thị; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân [19].
1.2.1.4. Địa hình
Nhìn chung, địa hình Tp. Biên Hoà phức tạp và đa dạng gồm đồng bằng, chuyển
tiếp giữa đồng bằng và trung du. Địa hình dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông qua
Tây.
Khu vực phía Đông và Bắc thành phố, địa hình có dạng đồi nhỏ, dốc thoải không
đều, nghiêng dần về phía sông Đồng Nai và các suối nhỏ. Cao độ lớn nhất là 75m, cao
độ thấp nhất là 2m. Về mùa mưa lũ tràn từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Nam.
Khu vực phía Tây và Tây Nam, địa hình chủ yếu là đồng bằng. Ven bờ phải sông
Đồng Nai là ruộng vườn xen lẫn nhiều ao hồ do lấy đất làm gạch, gốm. cao độ tự nhiên
trung bình từ 1- 2m. Khu vực cù lao có cao độ thấp từ 0,5- 0,8m, hầu hết là ruộng vườn
xen lẫn khu dân cư. Khu vực trung tâm Tp. Biên Hòa có cao độ trung bình từ 2-10m,
mật độ xây dựng dày đặc.
18
lệ tăng dân số cơ học tăng.
Bảng 1.1: Hiện trạng phân bố dân cư tại thành phố Biên Hòa
Phƣờng
Phân bố
dân cƣ
(ngƣời)
Phƣờng
Phân bố
dân cƣ
Xã
Phân bố
dân cƣ
(ngƣời)
Trung Dũng
23.757
Bình Đa
18.219
Hiệp Hòa
12.433
Quyết Thắng
19.214
An Bình
48.117
Hóa An
28.968
Quang Vinh
18.461
Long Bình
56.548
Tân Hạnh
161.126
Tân Mai
19.987
Trảng Dài
55.189
Tam Hiệp
18.165
Tân Phong
42.031
Tam Hòa
17.749
Bửu Hòa
19.372 Tân Vạn
13.432
Tổng cộng : 623.272 ngƣời
(Nguồn: phòng thống kê thành phố Biên Hòa năm 2010)
20
1.2.2.2. Phát triển ngành kinh tế
a. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Biên Hòa có 5 khu công nghiệp (KCN) được Chính phủ phê duyệt: KCN Biên Hòa
I, KCN Biên Hòa II, KCN Amata, KCN Tam Phước và KCN Loteco đã đi vào hoạt
động với cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ.
- KCN Biên Hoà I: Quy mô diện tích 335 ha. Đã hình thành trước năm 1975. Đang
xây dựng khu tái định cư, giải toả di dời dân và chỉnh trang mạng lưới kỹ thuật hạ tầng.
- KCN Biên Hoà II: Quy mô diện tích 365 ha. Được thành lập năm 1995, KCN Biên
Hòa II là một trong những bước đi tiên phong trong việc phát triển các KCN tại Đồng
Các cụm công nghiệp nhỏ:
- Cụm công nghiệp phường Tân Hiệp 6 ha, các xí nghiệp may, đồ gia dụng.
- Cụm công nghiệp may mặc, thực phẩm tại đường 5 (phường Tân Tiến)
- Cụm công nghiệp gỗ, vật liệu xây dựng: 6 nhà máy (phường Long Bình)
- Cụm công nghiệp giày da và may mặc Pouchen, 19 ha (QL1K – xã Hoá An)
- Cụm công nghiệp giấy Tân Mai, diện tích 19 ha (phường Thống Nhất)
- Cụm công nghiệp sản xuất giày – phường Tam Hiệp.
b. Thương mại, dịch vụ
Đây là ngành kinh doanh đặc thù của đô thị Tp. Biên Hoà ngay từ khi được Chính
phủ công nhận là đô thị loại II, đã có sự phát triển bước đầu tạo ra mối quan hệ giữa
trung tâm và các vùng lân cận, doanh số kinh doanh của các ngành ngày một tăng cao,
ngành đang dần dần đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế, trong thu nhập GDP,
trong thu nhập GDP, trong việc giải quyết việc làm và nhất là nâng cao đời sống.
22
Toàn thành phố có 11 chợ khu vực. Ngoài ra có một số chợ nhỏ tại phường và mạng
lưới dịch vụ dọc theo các đường phố. Một số chợ được xây mới, phát huy năng lực
phục vụ tốt, phù hợp quy hoạch, nhiều chợ hiện trạng chật hẹp, lấn ra xung quanh, ra
vỉa hè đường phố, làm cản trở giao thông (chợ Sặt, Tân Mai, Biên Hoà…).
Hệ thống nhà hàng, khách sạn trên địa bàn thành phố đang phát triển hoàn thiện
nhằm thu hút nhiều khách du lịch đặc biệt là khách nước ngoài.
Hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng nhanh. Tuy Tp. Biên Hoà nằm gần trung tâm
kinh tế cực lớn Tp. Hồ Chí Minh, nhưng thành phố vẫn giữ được nguồn xuất khẩu
ngày càng tạo ra nhiều mẫu mã phù hợp với thị hiếu của khách nước ngoài.
c. Du lịch
Thành phố Biên Hòa có những điểm du lịch khá hấp dẫn đã và đang được khai thác
như: Tuyến du lịch trên sông Đồng Nai, cù lao Ba Xê, cù lao Tân Vạn, khu du lịch Bửu
Long và nhiều di tích lịch sử văn hóa quốc gia
d. Nông nghiệp
Cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi có sự thay đổi đáng kể nhằm đáp ứng nhu cầu
1.3.2 . Các phƣơng pháp xử lý
Có nhiều phương pháp để xử lý nước nguồn nước mặt, phương pháp xử lý phụ
thuộc vào: nhu cầu cấp nước, tiêu chuẩn dùng nước, đặc điểm của nguồn nước mặt, các
điều kiện tự nhiên, các điều kiện kinh tế xã hội,… Các quá trình xử lý cơ bản được tóm
tắt như sau:
24
Bảng 1.2: Các quá trình xử lý nước mặt
Quá trình xử lý
Mục đích
Hồ điều hòa và sơ lắng
(hồ chứa và lắng sơ bộ)
Điều hòa sự dao động lưu lượng và giữa nguồn và trạm bơm
nước thô.
Song chắn rác
Loại trừ các vật trôi nổi theo dòng nước.
Lưới chắn rác
Loại trừ rác, các mảnh vỡ kích thước nhỏ, một phần rong
rêu trôi theo dòng nước.
Bể lắng cát
Loại ra khỏi nước các hạt có tỷ trọng ≥ 1,2 và kích thước ≥
0,2mm để bảo vệ cho máy móc không bị bào mòn, giảm
lượng cặn trơ trong các bể tạo bông và bể lắng.
Xử lý nước tại nguồn
bằng hóa chất
Loại trừ khả năng phát triển của vi sinh vật và thực vật gây
ra mùi, vị, màu của nước.
Làm thoáng
- Lấy oxy từ không khí để oxy hóa sắt hay mangan hóa trị
Loại trừ các hạt cặn nhỏ không lắng được trong bể lắng
nhưng có khả năng dính kết lên bề mặt của hạt lọc.
Quá trình hấp thụ và hấp
phụ bằng than hoạt tính
Khử mùi, vị và màu của nước sau khi dùng phương pháp xử
lý truyền thống không đạt yêu cầu.
Flo hóa nước
Nâng cao hàm lượng flo trong nước từ 0,6 – 0,9 mg/l để bảo
vệ men răng và xương cho người dùng nước.
Khử trùng nước
Tiêu diệt vi khuẩn và vi trùng còn lại trong nước sau bể lọc.
Làm mềm nước
Khử các ion Ca
2+
và Mg
2+
đến nồng độ yêu cầu.
Khử muối
Khử ra khỏi nước các cation và anion các muối hòa tan đến
nồng độ yêu cầu.