ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN NGỌC HOÀNG
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TỈNH LẠNG SƠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học môi trường
Khoa
: Môi trường
Khóa học
: 2010 – 2014
Người hướng dẫn :TS. Trần Văn Điền
Thái Nguyên, năm 2014
CTRSH
: Chất thải rắn sinh hoạt
CTRYT
: Chất thải rắn y tế
CTYT
: Chất thải y tế
BYT
: Bộ y tế
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ............................................................................................ 1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI .......................................................................... 2
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ......................... 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài ..................................................................... 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài...................................................................... 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................... 4
2.1 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU ............................................................................... 4
2.1.1 Cơ sở pháp lý ........................................................................................... 4
2.1.2 Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 5
2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CTRYT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI
VIỆT NAM ....................................................................................................... 6
4.2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN ............. 34
4.2.1 Nhận xét chung về tình hình vệ sinh môi trường tại bệnh viện ............. 34
4.2.2 Đánh giá công tác kiểm soát CTRYT tại bệnh viện .............................. 35
4.2.2.1 Đánh giá công tác quản lý hành chính đối với CTRYT ..................... 35
4.2.2.2 Đánh giá các mặt kỹ thuật trong việc quản lý CTRYT ...................... 37
4.2.3 Phân tích sự không phù hợp theo quy định của Bộ Y tế về công tác quản
lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn ........................................... 47
4.3 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC VÀ NÂNG CAO CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH LẠNG SƠN ........... 50
4.3.1 Xây dựng hệ thống quản lý môi trường tại bệnh viện ........................... 50
4.3.1.1 Cơ cấu tổ chức..................................................................................... 50
4.3.1.2 Nhiệm vụ của Ban môi trường ............................................................ 51
4.3.2 Nâng cao hoạt động bảo vệ môi trường tại bệnh viện ........................... 51
4.3.2.1 Hệ thống quản lý hành chính (giải quyết vấn đề A, bảng 4.4) ........... 52
4.3.2.2 Cải thiện vệ sinh môi trường bệnh viện .............................................. 53
4.3.2.3 Nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường ........................... 54
4.3.3 Cải thiện công tác quản lý CTR tại bệnh viện ....................................... 57
4.3.3.1 Giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn (giải quyết vấn đề B, bảng
4.4)................................................................................................................... 57
4.3.3.2 Hoàn thiện hệ thống trang thiết bị lưu giữ, thu gom và vận chuyển
CTRYT (giải quyết vấn đề C, E, bảng 4.4)..................................................... 59
4.3.3.3 Xây dựng lại nhà chứa rác (giải quyết vấn đề D) ............................... 61
4.3.4 Giải pháp xử lý chất thải y tế tại bệnh viện (giải quyết vấn đề F, bảng 4.4) 62
4.3.5 Giải pháp cho công tác bảo vệ môi trường bệnh viện .......................... 62
4.3.5.1 Quản lý tốt nội vi................................................................................. 63
4.3.5.2 Giải pháp kinh tế ................................................................................. 63
4.3.5.3. Giải pháp về mặt kỹ thuật .................................................................. 63
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe
dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia
và cộng đồng trên thế giới quan tâm. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái
và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà
còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau. Toàn thế giới đều đã nhận
thức được rằng: phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và
ngày thêm bền vững.
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến
nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng. Từ năm 1997
các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành. Theo niên giám
thống kê năm 2007 có 956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa
được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối
phó hoặc chưa đúng. Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là
tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện.
Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã
hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi
trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng.
Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Lạng Sơn đã được hình thành và đang phát
triển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọng của
mình trong quá trình phát triển chung của đất nước. Nhờ những nỗ lực phấn
đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong
công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân.
Bên cạnh những thành quả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh
3
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Báo cáo cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y
tế tại bệnh viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh
viện. Trên cơ sở đó phân tích những ưu và nhược điểm của hệ thống quản lý
CTRYT, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà
quản lý có cơ sở khoa học để quản lý tốt hơn vấn đề CTRYT.
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài cung cấp những dữ liệu liên quan đến hiện trạng quản lý môi
trường và các giải pháp như là một cơ sở để so sánh giữa các phòng khám đa
khoa ở các khu vực khác với nhau.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Cơ sở pháp lý
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn quản lý chất thải rắn y tế dựa trên hệ
thống các văn bản pháp luật sau đây [9]:
Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005.
Nghị định số: 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Thủ tướng chính
phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.
Căn cứ nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của
Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP
môi, hóa chất vào không khí. Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí
độc hại Hx, NOx, đioxin, furan… từ lò đốt và CH4, NH3, H2S… từ bãi chôn
lấp. Các khí này nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới
sức khỏe của cộng đồng dân cư xung quanh.
Đối với môi trường nước
Khi chôn lấp chất thải y tế không đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh.
Đặc biệt là chất thải y tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể
gây ô nhiễm nguồn nước ngầm.
b. Đối với sức khỏe con người
Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp CTRYT
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người
có nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế,
những người ở ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y
tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả
6
của sự sai sót trong khâu quản lý chất thải. Dưới đây là những nhóm chính có
nguy cơ cao:
• Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện.
• Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú.
• Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân.
• Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các
cơ sở khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển
bệnh nhân…
• Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ
rác thải, các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…
2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CTRYT TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TẠI VIỆT NAM
hiện nay vẫn còn đang tran cãi về việc xử lý khí bụi sau khi đốt đã được thải
vào không khí.
Các phế thải y tế trong khi đốt, thải vào trong không khí có nhiều hạt
bụi li ti và các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình thiêu đốt axit
clohidric, dioxin, furan và một số kim loại độc hại như thủy ngân, chì, asen,
cadimi. Do đó tại Hoa Kỳ vào năm 1996, đã bắt đầu có các điều luật về khí
thải của lò đốt và yêu cầu khí thải phải được giảm thiểu bằng hệ thống lọc hóa
học và cơ học tùy vào loại phế thải.
Ngoài ra còn có phương pháp khác để giải quyết vấn đề này đã được
các quốc gia lưu tâm đến vì phương pháp đốt gây ra nhiều bất lợi do lượng
khí độc hại phát sinh và thải vào không khí. Đó là phương pháp nghiền nát phế
thải và xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh việc phóng thích khí thải.
8
Dựa theo phương pháp này rác thải y tế nguy hại được chuyển qua một
máy nghiền nát. Phế thải nghiền xong được chuyển qua một phòng hơi có
nhiệt độ 138oC áp suất là 3,8 bar. Ở điều kiện trên là tối ưu cho hơi nước bão
hòa. Phế thải được xử lý trong vòng 40 đến 60 phút. Sau cùng phế thải được
xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt được tiêu chuẩn
tiệt trùng. Phương pháp này có ưu điểm làm giảm khối lượng phế thải vì đã
được nghiền nát, chi phí thấp hơn lò đốt rác cũng như không tạo ra khí thải
vào môi trường.
Về công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay là dựa trên việc phân tách
hợp lý CTRYT được xây dựng tại các cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám… có
quy định cụ thể và bắt buộc về mặt pháp lý trong việc quản lý chất thải.
Thiêu hủy chất thải y tế là cách phổ biến nhất kèm theo công đoạn xử
lý sơ bộ ban đầu cho các thành phần độc hại đã qua khử trùng tại bệnh viện.
Trong thực tế không phải chất thải y tế nào cũng áp dụng công nghệ thiêu hủy, đôi
chiến lược cụ thể như sau:
• Xem xét các nguyên tắc, thủ tục, quy định về quy chế quản lý của
bệnh viện để thục hiện đúng, đặc biệt là các nhân viên quản lý chất thải y tế
phát sinh từ bệnh viện
• Chi tiêu quản lý tốt là tại các phòng ban khác nhau tại bệnh viện có
các quan sát viên ghi nhận lại tình hình thu gom, phân loại, bảo quản và xử lý.
Rác thải y tế sẽ được tổ chức thu gom và vận chuyển về nơi lưu trữ tạm
thời của bệnh viện. Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế được
trang bị hoàn tất thiết bị bảo hộ cá nhân.
Bệnh viện có thể ký hợp đồng vận chuyển rác thải y tế với một công ty
tư nhân chịu trách nhiệm về quản lý chất thải. Ngoài ra bệnh viện có khuôn
viên rộng, trang bị hiện đại sẽ trang bị hệ thống lò đốt rác và bãi chôn lấp
ngay tại bệnh viện dưới sự giám sát chặt chẽ của các giám sát viên và khí thải
thải từ lò đốt được xử lý đúng quy định.
10
2.2.2 Tại Việt Nam
Tình hình chung
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng từ giai đoạn đất
nước còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các
bệnh viện đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy định kĩ
thuật. Cơ sở vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các chất thải độc hại còn thiếu thốn.
Bên cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo chưa có quy trình xử lý triệt để.
Mặt khác số lượng bệnh nhân và cơ sở y tế rất lớn, lại thiếu vốn nên số
lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường rất ít. Bảo vệ môi trường tại bệnh
viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện mà cần có sự quan tâm của
chính phủ và toàn xã hội.
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều
Quản lý chất thải y tế
Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật,
nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các
bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường. Nhiều
bệnh viện không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ
thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuống cấp; rác thải không được phân
loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ. Thực trạng như sau [3], [4],
[11], [15]:
Về quản lý rác thải:
Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước
cho thấy 94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8%
bệnh viện chưa thực hiện. Các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh
viện tư nhân thực hiện phân loại CTYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện
tuyến huyện và bệnh viện ngành. Có 93,9% bệnh viện thực hiện tách riêng vật
sắc nhọn ra khỏi CTYT, hầu hết các bệnh viện sử dụng chai nhựa, lọ truyền
12
đã dùng để đựng kim tiêm. Nhưng qua kiểm tra thực tế, việc phân loại CTYT
ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc phân loại chất
thải. 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại, thu gom và vận
chuyển chất thải.
Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu Dung
(2003) cho thấy: cả 6 bệnh viện đều phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn
phát sinh nhưng chưa có bệnh viện nào phân loại rác đúng theo Quy chế của Bộ Y
tế và việc phân loại phụ thuộc vào hình thức xử lý hiện có của bệnh viện.
Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh
viện tại 14 tỉnh, thành phố, cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải
chiếm 76%, có bể chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che
Kết quả điều tra tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh (2003): cả 6 bệnh viện đều
có hệ thống cống thoát nước thải nhưng chất lượng cống khác nhau, có bệnh
viện hệ thống cống nổi nhưng không có nắp đậy, nước thải bệnh viện không
được xử lý (bệnh viện Yên Bái), hoặc xử lý một phần (bệnh viện Quảng Nam,
Cần Thơ), hoặc đã xử lý toàn bộ (bệnh viện Phú Thọ, Quảng Ngãi, Đồng
Tháp) nhưng tất cả đều đổ nước thải ra cống thoát nước chung [11].
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện có hệ
thống xử lý nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến
huyện là 30% và bệnh viện tư nhân là 85%. Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ
thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có khoảng 30% trong số này đạt tiêu
chuẩn cho phép. Hiện cả nước còn có gần 640 bệnh viện cần được trang bị hệ
thống xử lý nước thải, số bệnh viện cần cải tạo lại hệ thống xử lý nước thải
khoảng 220 bệnh viện [3].
Biện pháp xử lý chất thải y tế
Về xử lý chất thải rắn y tế:
Hình thức xử lý chất thải rắn trong bệnh viện ở nước ta rất đa dạng, phụ
thuộc vào quy mô, điều kiện của từng bệnh viện.
14
Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2004) [1], Việt Nam đã
xây dựng được 43 lò đốt CTYT hiện đại, nâng công suất xử lý lên 28.840
kg/ngày Công suất thiết kế của một lò đốt khoảng 40kg/h - 50 kg/h. Tuy nhiên
đại đa số các lò đốt chưa sử dụng hết công suất, khi so sánh tổng công suất
của các lò đốt với lượng CTYT phát sinh, đã cho thấy, các lò đốt được lắp đặt
đã đáp ứng đủ khối lượng phát sinh tại thời điểm. Qua đó đã chứng tỏ rằng
vẫn còn một khối lượng lớn CTYT phát sinh chưa được thu gom và xử lý
đúng cách. Thực trạng như sau:
- Thiêu đốt chất thải rắn y tế:
đề môi trường bệnh viện giao trách nhiệm thực hiện cho các khoa phòng, theo
dõi và đánh giá kết quả chặt chẽ nghiêm khắc để có thể rút được kinh nghiệm
và sau đó có kế hoạch hành động, thay đổi cho phù hợp với mục tiêu của việc
bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng phục vụ của ngành y tế, công tác
khám và chữa bệnh cũng như công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bảo vệ môi
trường tại bệnh viện.
52
4.3.2.1 Hệ thống quản lý hành chính (giải quyết vấn đề A, bảng 4.4)
a. Hoàn thiện công tác quản lý hành chính đối với chất thải
Trước tiên, bệnh viện cần quản lý chặt chẽ hơn đội ngũ thu gom rác, cụ
thể như sau:
• Chuyên nghiệp hóa bộ phận thu gom rác, như không được nén rác,
chất rác quá cao.
• Giám sát kỹ việc vận chuyển, phải đảm bảo lượng rác vừa đủ trong xe
để đậy nắp kín trong quá trình vận chuyển.
• Nếu lượng rác thải quá nhiều có thể tăng thêm số lần lấy rác trong
ngày và suy xét việc nâng cao mức thu nhập cho nhân viên vận chuyển để
khuyến khích họ thực hiện tốt hơn.
Thứ hai là vấn đề giám sát lượng rác thải y tế phát sinh tại mỗi khoa.
Hiện nay có nhiều người sống bằng nghề thu lượm các loại chất thải có khả
năng tái chế để bán cho cơ sở thu mua và tái chế chất thải. Với xu thế phát
triển hiện nay, nhiều vật dụng dùng một lần trong y tế được sử dụng với số
lượng, chủng loại ngày càng tăng. Các vật liệu dùng một lần, đặc biệt là chất
nhựa là mặt hàng rất hấp dẫn đối với những người thu gom chất thải vì các
chất nhựa này là những loại nhựa tốt, có giá trị cao khi tái sinh, tái chế. Việc quản
lý chất thải bệnh viện nếu thiếu kiểm soát chặt chẽ sẽ có hiện tượng thất thoát.
Vì thế, mỗi khoa nên có một nhân viên chịu trách nhiệm giám sát lượng
rất phổ biến tuy đã có nhân viên hộ lý nhắc nhở thường xuyên. Vì vậy Tổ
Chống nhiễm khuẩn cần có chương trình tuyên truyền cụ thể và biện pháp xử
phạt tài chính thích đáng để họ nhận thức đúng đắn hơn hành vi sai phạm của
mình trong việc giữ gìn vệ sinh chung cho bệnh viện.
54
4.3.2.3 Nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường
CTRYT bao gồm một lượng lớn chất thải nói chung và một lượng nhỏ
hơn các chất thải có tính nguy cơ cao. CTRYT có thể tạo nên những mối nguy
cơ cho sức khỏe con người.
Việc tiếp xúc các CTRYT có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương. Đó
là do trong CTRYT có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, chất độc hại,
các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật
sắc nhọn… Vì thế, việc nâng cao công tác bảo vệ môi trường nói chung, cũng
như nhận thức về tác hại của CTRYT nói riêng giúp mọi người ý thức hơn
trong việc bảo vệ môi trường bệnh viện.
Phòng tổ chức bệnh viện có kế hoạch đưa ra các chương trình giáo dục
tuyên truyền cho tất cả mọi người ra vào bệnh viện ý thức hơn trong việc giữ
vệ sinh chung và bảo vệ môi trường bệnh viện. Đây là mục tiêu quan trọng
nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường, những tác động
hay ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường gây ra giúp cho tất cả mọi người ý
thức về vai trò trách nhiệm của bản thân để giúp cho việc bảo vệ môi trường
bệnh viện được tốt hơn, trong lành tạo không gian khám và chữa bệnh hiệu
quả hơn. Các biện pháp có thể sử dụng như sau đây.
a. Giáo dục cộng đồng
Có kế hoạch đưa các chương trình giáo dục, tuyên truyền dành cho tất
cả mọi người ra vào bệnh viện, bao gồm nhân viên y tế, bệnh nhân và người
thăm nuôi ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường bệnh viện.