Khóa luận tốt nghiệp : Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực hóc môn, TP HCM - Pdf 13

Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa trực
tiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia và cộng đồng
trên thế giới quan tâm. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi
trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dài
cho các thế hệ mai sau. Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môi
trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững.
Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu
khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng. Từ năm 1997 các văn bản về
quản lý chất thải bệnh viện được ban hành. Theo niên giám thống kê năm 2007 có
956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy
chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng. Ô nhiễm môi
trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất
thải bệnh viện.
Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp
bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân
cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng.
Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Hóc Môn (ĐKKVHM) đã được hình thành và
đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọng
của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước. Nhờ những nỗ lực phấn đấu
không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác
khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân. Bên cạnh những
thành quả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là tình trạng Chất
Thải Rắn Y Tế (CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy
hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót.
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY

GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
2
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
 Tìm hiểu công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện thông qua tài liệu liên
quan hiện có và khảo sát, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường chung tại
bệnh viện.
 So sánh các yêu cầu của qui định (từ Bộ Y tế và Bệnh viện) và hiện trạng
hiện nay nhằm tìm ra các vấn đề quản lý còn bất cập.
 Đề xuất biện pháp quản lý CTRYT đối với bệnh viện dựa trên các vấn đề bất
cập đã phân tích ở trên.
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phương pháp luận
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn bệnh viện
góp phần bảo vệ môi trường là nghiên cứu tương quan giữa các yếu tố “khái niệm,
thành phần, nguyên nhân, tác hại của CTRYT – công tác quản lý và đề xuất giải
pháp quản lý CTRYT của công ty Môi trường Đô thị nói chung Bệnh viện
ĐKKVHM nói riêng – sự hiểu biết, nhận thức về CTRYT của cán bộ công nhân
viên trong toàn bệnh viện, đặc biệt là các bộ phận làm việc trực tiếp với CTRYT.
“Từ đó rút ra kết luận và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT đạt hiệu quả”. Toàn bộ
quá trình nghiên cứu của đề tài được trình bày trong hình 1.1.

GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
3
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
Hình 1.1: Sơ đồ nghiên cứu
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM

Phương pháp thống kê nhằm thu thập và xử lý số liệu một cách tổng quan
về tình hình quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM. Tp. Hồ Chí Minh.
So sánh, xác định độ tin cậy của số liệu, xử lý và tổng hợp số liệu.
1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là bệnh viện ĐKKVHM, Tp.
Hồ Chí Minh.
1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỒ ÁN
1.6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Báo cáo cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y tế tại
bệnh viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh viện. Trên cơ
sở đó phân tích những ưu và nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT, đồng thời
đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà quản lý có cơ sở khoa học
để quản lý tốt hơn vấn đề CTRYT.
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
5
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đồ án
Đề tài cung cấp những dữ liệu liên quan đến hiện trạng quản lý môi trường và
các giải pháp như là một cơ sở để so sánh giữa các phòng khám đa khoa ở các khu
vực khác với nhau.
1.7 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI
1.7.1 Về thời gian
Từ tháng 30/05/2011 đến 21/08/2011.
1.7.2 Về phạm vi
Luận văn được giới hạn ở phạm vi như sau:
Phạm vi : Thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
Lĩnh vực đề cập: thông tin về CTRYT
1.7.3 Về nội dung


GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
7
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CTRYT
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÀNH Y TẾ
Y tế là một ngành có truyền thống lâu đời, sự kết hợp giữa y học cổ truyền và
y học hiện đại đã tạo nên đặc trưng cơ bản của ngành y tế.
Ngành y tế là một ngành then chốt trong lĩnh vực đảm bảo cho con người về
mặt thể chất và là nghành độc lập có nhiều đối tượng (bệnh nhân) nhất, vì thế đây là
ngành có cơ sở hoạt động rộng khắp toàn quốc.
Y tế là ngành có mối quan hệ mật thiết với xã hội và là ngành có vai trò quan
trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, giải quyết các hậu quả xã
hội, an toàn lao động. Vì thế, là một ngành luôn được quan tâm trong công tác bảo
vệ môi trường trong sạch.
2.2 ĐẶC TRƯNG CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
2.2.1 Khái niệm về chất thải y tế
Chất thải y tế (CTYT) là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt
động khám chữa bệnh, chăm sóc, sét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo.
Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí.
Chất thải y tế nguy hại là những chất có chứa các thành phần như: máu, dịch
cơ thể, các chất bài tiết, các bộ phận cơ thể, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn,
dược phẩm, hóa chất, và các chất phóng xạ dung trong y tế. Nếu những chất thải
này không được tiêu hủy sẽ nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người.
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
8

Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất
thải trong các bệnh viện được Bộ Y tế phân thành 5 nhóm theo quy chế quản lý
chất thải y tế chung trên toàn quốc:
 Chất thải lây nhiễm
 Chất thải hóa học nguy hại
 Chất thải phóng xạ
 Các bình chứa khí nén có áp suất
 Chất thải thông thường
a. Chất thải lây nhiễm
Theo quy định của Bộ y tế, chất thải lây nhiễm được chia thành các nhóm sau:
 Nhóm A: chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ
gây bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm…bao gồm
các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết của người bệnh như gạc,
bông, găng tay, bột bó gãy xương, dây truyền máu.
 Nhóm B: là các vật sắc nhọn: bơm tiêm, lưỡi, cán dao mổ, mảnh thủy tinh vỡ
và mọi vật liệu có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, dù chúng có được
sử dụng hay không sử dụng.
 Nhóm C: chất thải nguy cơ lây nhiễm phát sinh từ phòng xét nghiệm: găng
tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, túi đựng máu…
 Nhóm D: là các mô cơ quan người – động vật, mô cơ thể ( nhiễm khuẩn hay
không nhiễm khuẩn), chân tay, nhau thai, bào thai…
b. Chất thải hóa học nguy hại
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
10
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường,
axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như Formaldehit, hóa
chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm

chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy
thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…
 Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các
chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ…
 Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất
phóng xạ…
d. Các bình chứa khí nén có áp suất
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy, CO
2
,
bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần… Đa số các bình chứa
khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy
đúng cách.
e. Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
 Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
 Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy
tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín.
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học
nguy hại.
 Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu. vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
 Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh trong bệnh
viện.
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
12
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh

Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có nguy
cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người ở
ngoài các cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người
trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai sót trong khâu
quản lý chất thải. Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
13
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
 Bác sĩ, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện.
 Bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú.
 Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân.
 Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở
khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển
bệnh nhân…
 Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác thải,
các lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác…
2.3.2.2 Tác động từ CTRYT
a. Từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn
Các vật thể trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng rất lớn
bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào. Một mối nguy cơ rất lớn
hiện nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus
lây qua đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con
đường rác thải y tế. Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn
thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh. Các tác nhân gây bệnh này có thể
xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
 Qua da (qua một vết thủng, trầy sước hoặc vết cắt trên da).
 Qua các niêm mạc (màng nhầy).
 Qua đường hô hấp (do xông, hít phải).

d. Từ các chất thải phóng xạ
Loại bệnh gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải và
phạm vi tiếp xúc. Nó có thể là đau đầu, hoa mắt chóng mặt, buồn nôn và nhiều bất
thường khác. Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại
độc hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền. Tiếp xúc với các
nguồn phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương
tiện chẩn đoán (máy Xquang, máy chụp cắt lớp…), có thể gây ra một loạt các tổn
thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại
bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể).
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
15
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
Các nguy cơ từ những loại chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc
nhiễm xạ trên phạm vi bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời
gian lưu giữ loại chất thải này. Các nhân viên y tế hoặc những người làm nhiệm vụ
thu gom và vận chuyển rác phải tiếp xúc với loại chất thải phóng xạ này là những
người thuộc nhóm có nguy cơ cao.
2.4 QUẢN LÝ CTRYT
Quản lý chất thải y tế bắt đầu ngay từ quá trình sinh ra chất thải đến quá trình
xử lý, và khâu cuối cùng là thải bỏ chất thải.
Khi phát sinh chất thải, chúng ta nghĩ đến các biện pháp để giảm lượng phát
thải chất thải nguy hại nhất. Sau xử lý, lượng chất thải thực sự phải thải bỏ cuối
cùng cần được giải quyết để đảm bảo vệ sinh và an toàn.
2.4.1 Giảm thiểu tại nguồn
Phương pháp làm giảm thiểu chất thải hiện tại đang được áp dụng là các hoạt
động tái sinh, tái chế cũng như giảm thiểu tại nguồn. Giảm thiểu tại nguồn là giảm
về số lượng hoặc độc tính của bất kỳ một chất thải y tế nào đi vào dòng chất thải
trước khi tái sinh, xử lý hoặc đưa vào môi trường. Những cải tiến căn bản trong

quá trình vận chuyển và lưu giữ tại bệnh viện hay quá trình vận chuyển tới nơi tiêu
hủy và quá trình tiêu hủy.
Việc tách và phân loại CTRYT đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót trong thùng
chứa được buột chặt chẽ, hộp đựng vật sắc nhọn. Yêu cầu màu sắc phải thống nhất
theo quy định để dễ quản lý chất thải y tế đã được phân loại thu gom trong suốt quá
trình lưu thông.
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
17
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
Bảng 2.1: Yêu cầu màu sắc, túi, thùng đựng và biểu tượng chỉ chất thải y tế
Loại chất thải Màu và đánh dấu nhãn Loại thùng, túi
Chất thải lây nhiễm cao Vàng, ký hiệu nhiễm
khuẩn cao
Thùng nhựa, túi nhựa bền
chắc chắn
Chất thải lây nhiễm, bệnh
phẩm, giải phẫu
Vàng, có logo nhiễm
khuẩn
Thùng nhựa, túi nhựa bền
Vật sắc nhọn Vàng, đề chữ vật sắc nhọn Túi nhựa bền, hoặc hộp
giấy, chai nhựa
Chất thải y tế có động vị
phóng xạ
Đen, logo có bức xạ theo
quy đinh
Hộp chì, kim loại có dán
nhãn bức xạ

Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồng
riêng biệt.
 Thời gian lưu chứa như sau:
Tốt nhất là vận chuyển CTRYT nguy hại đi xử lý ngay trong ngày. Thời gian
lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ.
Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu giữ
có thể đến 72 giờ.
 Vận chuyển:
Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp, có đáy
kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô.
2.5 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CTRYT TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TẠI VIỆT NAM
2.5.1 Trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến
hành một cách triệt để từ rất lâu. Về quản lý, một loạt những chính sách quy định,
đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này. Các hiệp ước quốc tế,
các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải
bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế
giới.
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận chuyển
các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế. Công ước
này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia
không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất
kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt.
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
19
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
Nguyên tắc polluter pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất

GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
20
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
nhiệt độ 138
o
C và áp suất 3,8 bar. Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện
tối ưu cho hơi nước bão hòa. Phế thải được xử lý trong vòng 40 – 60 phút. Sau cùng
phế thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt
được tiêu chuẩn tiệt trùng. Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối
lượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như không
tạo ra khí thải vào không khí.
Cụ thể như hiện trạng quản lý chất thải y tế tại Vương Quốc Anh, năm 1992
nước Anh đã đưa ra định nghĩa chất thải y tế như sau: bất kỳ chất thải nào mà gồm
toàn bộ hoặc một phần cơ thể người, mô động vật, máu hoặc dịch cơ thể, chất bài
tiết, dược phẩm mà không an toàn có thể gây độc hại hay các loại rác thải từ các
hoạt động y tế, chất thải gây truyền nhiễm ảnh hưởng đối với người tiếp xúc với nó.
Chất thải nằm trong định nghĩa này được chia thành các nhóm sau: mô người và
chất truyền nhiễm; các vật sắc nhọn; mầm bệnh và các chất thải từ phòng xét
nghiệm; dược phẩm quá hạn; nước tiểu, phân và các chất tiết từ vệ sinh; chất thải
cytotoxic; chất thải phóng xạ…
Về phần công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay là dựa trên việc phân tách
hợp lý CTRYT được xây dựng tại các cơ sở y tế, bệnh viện, phòng khám…có quy
định cụ thể và bắt buộc về mặt pháp lý trong việc quản lý chất thải.
Thiêu hủy chất thải y tế là cách phổ biến nhất, kèm theo công đoạn xử lý sơ bộ
ban đầu cho các thành phần độc hại đã qua khử trùng tại bệnh viện. Trong thực tế
không phải chất thải y tế nào cũng áp dụng công nghệ thiêu hủy, đôi khi sử dụng
phương pháp chôn lấp cho loại chất thải rắn ít độc hại hơn.
Tại các nước đang phát triển

 Chỉ tiêu quản lý tốt là tại các phòng ban khác nhau trong bệnh viện có các
quan sát viên ghi nhận lại tình hình phân loại, thu gom, bảo quản và xử lý.
Rác thải y tế sẽ được tổ chức thu gom và vận chuyển về nơi lưu giữ tạm thời
của bệnh viện. Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế được trang bị
hoàn tất các thiết bị bảo hộ cá nhân.
Bệnh viện có thể ký kết họp đồng vận chuyển các chất thải y tế với một công ty
tư nhân chịu trách nhiệm về quản lý chất thải. Ngoài ra, nếu bệnh viện có khuôn
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
22
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
viên rộng, trang thiết bị hiện tại thì sẽ trang bị hệ thống lò đốt và xây dựng bãi chôn
lấp chất thải ngay tại bệnh viện dưới sự giám sát chặt chẽ của các giám sát viên và
khí thải từ lò đốt được xử lý đúng cách theo pháp lệnh quy định .
2.5.2 Tại Việt Nam
Tình hình chung
Phần lớn các bệnh viện ở Việt Nam được xây dựng trong giai đọan đất nước
còn chưa phát triển, nhận thức về vấn đề môi trường chưa cao nên các bệnh viện
đều không có hệ thống xử lý chất thải nghiêm túc, đúng quy trình kỹ thuật. Cơ sở
vật chất kỹ thuật để xử lý triệt để các loại chất thải độc hại còn bị thiếu thốn. Bên
cạnh đó, công tác quản lý còn lỏng lẻo và chưa có quy trình xử lý triệt để.
Mặt khác, số lượng bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh rất lớn, lại thiếu vốn,
nên số lượng bệnh viện đạt tiêu chuẩn môi trường còn rất ít. Bảo vệ môi trường tại
các bệnh viện không chỉ là vấn đề của riêng các bệnh viện mà cần có sự quan tâm
của Chính phủ và toàn xã hội.
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt
tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y tế, bệnh
nhân và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại và xử lý
sơ bộ, giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế. Tuy nhiên, nhận thức của cộng

đốt. Một số ít bệnh viện có lò đốt rác y tế song quá cũ, hoặc đốt lộ thiên gây ô
nhiễm môi trường.
b) Phân loại chất thải y tế
Đa số các bệnh viện thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng việc
phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả do nhân viên chưa được đào tạo. Việc
phân loại chất thải, tất cả bệnh viện đều làm theo quy chế quản lý chất thải y tế của
Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT.
c) Thu gom chất thải y tế
Theo quy định, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt đều được các hộ lý và y
công thu gom hàng ngày ngay tại khoa phòng. Các đối tượng khác như bác sĩ, y tá
GVHD: TS. THÁI VĂN NAM
SVTH: TRẦN MỸ VY
24
Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp. HCM
còn chưa được huấn luyện để tham gia vào hoạt động quản lý chất thải y tế. Tình
trạng chung là các bệnh viện không có đủ áo bảo hộ và các phương tiện bảo hộ khác
cho nhân viên trực tiếp tham gia vào thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải.
d) Lưu trữ chất thải y tế
Hầu hết các điểm tập trung rác đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, vệ sinh
không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng
xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viên. Một số nhà lưu giữ rác không có
mái che, không có rào bảo vệ, vị trí gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ
dễ xâm nhập.
e) Vận chuyển chất thải ngoài cơ sở y tế
Hiện nay, hầu hết lượng rác thải ở Việt Nam đều được thu gom bởi công ty Môi
trường Đô thị. Chất thải bệnh viện sau khi được thu gom tới khu tập trung sẽ được
công ty Môi trường đô thị thu gom tiếp trong khoảng thời gian một đến hai ngày
một lần và được vận chuyển đến bãi rác của thành phố để xử lý. Tại đây, rác thải
sinh hoạt được chôn lấp, CTRYT sẽ được thiêu đốt tại lò đốt đặt ở bãi rác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status