HỘI CÁC TRƯỜNG CHUYÊN
VÙNG DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN HÀ NỘI
ĐỀ THI ĐỀ XUẤT
ĐỀ THI MÔN NGỮ VĂN KHỐI 11
NĂM 2015
Thời gian làm bài 180 phút
(Đề này có 1 trang, gồm 2 câu)
Câu 1 (8 điểm):
Trong cuộc trả lời phỏng vấn của phóng viên Hạ Nhiên, báo Dân Việt tại địa
chỉ danviet.vn, truy cập ngày 13.3.2015, Quốc Anh, người Việt Nam duy nhất lọt
vào top 100 người có cơ hội tham gia chuyến du hành lên Sao hỏa vào năm 2024,
đã nói về “cái mất lớn nhất” của chuyến đi này:
- Nếu được lên sao Hỏa, cái được lớn nhất của anh là thỏa mãn ước mơ
chinh phục vũ trụ, nhưng rời xa Trái đất mãi mãi, vậy cái mất lớn nhất của
anh là gì ?
- Đó là “personal touch” - gặp gỡ trực tiếp. Công nghệ ngày càng hiện
đại giúp con người có thể liên lạc với nhau qua internet, từ châu lục này
qua châu lục khác và ngay cả khi ở trên sao Hỏa, song việc gặp gỡ, nói
chuyện trực tiếp, bắt tay nhau, vẫn có giá trị tinh thần gấp nhiều lần mà
chưa gì có thể thay thế được.
Anh/chị suy nghĩ gì về tâm sự của Quốc Anh.
Câu 2 (12 điểm):
“Hình tượng nghệ thuật không chỉ khơi dậy sự đồng cảm mà còn có khả năng
cuốn hút ta vào những cuộc đối thoại: đối thoại giữa các nhân vật trong truyện,
đối thoại với tác giả và đối thoại với chính bản thân mình”.
(Trích Giáo trình lí luận văn học - Nxb
ĐHSP - tr. 219 - 220)
Bằng những hiểu biết về văn học của mình, anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định
trên.
Hết
gần lại vừa quá xa nhau. Con người càng nhiều phương tiện hỗ trợ càng có nguy
cơ giảm khả năng của các giác quan Vì thế, mất “giao tiếp trực tiếp” là đánh
mất năng lực sống dù giao tiếp trực tiếp có đôi khi khiến chúng ta buộc phải sống
chậm lại. Mất “giao tiếp trực tiếp” khiến chúng ta có được những điều ta muốn
nhanh hơn nhưng ta cũng rất dễ đánh mất nó, thậm chí chà đạp nó.
+ Làm thế nào để cân bằng giữa “giao tiếp trực tiếp” và ứng dụng công nghệ: có
thể liên hệ đến chuyến đi của Quốc Anh
- Liên hệ, mở rộng, rút ra những trải nghiệm riêng của bản thân.
B. Kĩ năng:
- Biết xác lập luận điểm rõ ràng, chính xác, tập trung, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết
phục.
- Vận dụng một cách hợp lí các thao tác lập luận để giải quyết vấn đề đáp ứng các
yêu cầu tạo lập văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội có dung lượng phù hợp,
bố cục rõ ràng, kết cấu hợp lí, hành văn chuẩn xác, mạch lạc, truyền cảm.
- Bài làm phải thể hiện được những kiến giải riêng của người viết, biết phân tích
những biểu hiện, hiện tượng gần gũi trong đời sống, thậm chí là từ chính cuộc
sống của mình để lập luận làm rõ vấn đề. Tránh cách viết hô hào, sáo rỗng.
Biểu điểm cụ thể:
Điểm 7 - 8: Hoàn thành tốt các yêu cầu của đề bài, bài viết sâu sắc, thể hiện
những kiến giải độc đáo của người viết, có những liên hệ cụ thể và thiết thực
trong cuộc sống và với bản thân, hành văn trôi chảy.
Điểm 5 - 6: Hoàn thành cơ bản những yêu cầu của đề bài, nhưng bài viết chưa có
điểm nhấn, ví dụ còn quá quen thuộc, hành văn trôi chảy, kết cấu bài chặt chẽ.
Điểm 3 - 4: Bài làm đã chạm đến yêu cầu của đề bài (vai trò của giao tiếp trực
tiếp trong cuộc sống mà công nghệ thông tin bùng nổ) nhưng còn chung chung,
chưa gắn với hoàn cảnh của câu chuyện, hoặc lại quá sa vào câu chuyện, chưa
khái quát được vấn đề. Lập luận đôi chỗ còn lúng túng.
Điểm 1 - 2: Định hướng bài chưa rõ, kiến thức, kĩ năng lập luận chưa chắc chắn.
Điểm 0: Xác định sai yêu cầu, bỏ giấy trắng hoặc hầu như chưa làm bài.
Câu 2:
thấu đáo và trúng vấn đề.
+ Học sinh có thể kết hợp giữa lí luận và phân tích ví dụ làm sáng tỏ, có thể tách
riêng phần lí luận và phân tích làm sáng tỏ.
B. Kĩ năng:
- Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học với dạng đề: bàn về một nhận
định.
- Bố cục bài viết rõ ràng, có lập luận chặt chẽ, hành văn trôi chảy, văn viết có
cảm xúc, không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
- Biết lựa chọn dẫn chứng hợp lý, biết cách sắp xếp, phân bố dẫn chứng phù hợp,
tránh hai trường hợp: hoặc quá ôm đồm dẫn chứng hoặc quá ít dẫn chứng.
Biểu điểm cụ thể:
10 - 12: Hoàn thành tốt những yêu cầu của đề bài, bài viết thể hiện kiến thức lí
luận vững vàng, khả năng lựa chọn và phân tích dẫn chứng sắc sảo, kĩ năng phối
hợp lí luận và phân tích chứng minh nhuần nhuyễn. Thông qua bài làm, người
viết thể hiện được cá tính riêng của mình trong việc nhìn nhận vấn đề. Văn viết
hay, độc đáo.
7 - 9: Cơ bản hoàn thành các yêu cầu của đề bài. Các vấn đề được giải quyết thấu
đáo nhưng chưa có nét độc đáo. Hành văn trôi chảy, chặt chẽ.
4 - 6: Giải quyết được yêu cầu của đề bài nhưng chưa trọn vẹn, hoặc vấn đề lí
luận chưa sâu, hoặc lựa chọn dẫn chứng còn ít nhiều lúng túng, quá ít hoặc quá
ôm đồm.
1 - 3: Định hướng bài chưa rõ, kiến thức, kĩ năng lập luận chưa chắc chắn.