BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
TRẦN THỊ SAN
XÂY DỰNG QUY TRÌNH ÁP DỤNG BASEL II VÀO
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế- Tài chính- Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH
TRẦN THỊ SAN
XÂY DỰNG QUY TRÌNH ÁP DỤNG BASEL II VÀO
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế-Tài chính-Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng
tôi, không sao chép công trình của người khác. Các số liệu, thông tin được
lấy từ nguồn thông tin hợp pháp, chính xác và trung thực.
Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có bất kỳ sự gian dối nào trong
ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM ( BIDV)
2.1 Giới thiệu về ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam............................................. 23
2.2 Các hoạt động kinh doanh tại BIDV ........................................................................... 23
2.3 Định hướng phát triển trong thời gian tới.................................................................... 24
2.2 Đánh giá hiệu quả kinh doanh 2009 của BIDV theo chuẩn mực quốc tế ................... 25
2.2.1 Quy mô vốn chủ sở hữu.............................................................................................25
2.2.2 Quy mô tài sản và hoạt động tín dụng........................................................................27
2.2.3 Khả năng sinh lời.......................................................................................................29
2.2.4 Khả năng thanh khoản và huy động vốn....................................................................29
2.2.5 Hoạt động dịch vụ......................................................................................................31
2.3 Đánh giá rủi ro và các công cụ quản trị rủi ro tại BIDV............................................... 32
2.3.1 Rủi ro tín dụng .......................................................................................................... 32
2.3.2 Rủi ro hoạt động ....................................................................................................... 37
2.3.3 Rủi ro thị trường ....................................................................................................... 39
2.4 Đánh giá những điều kiện thực hiện Basel II tại BIDV .............................................. 44
2.4.1 Xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ ........................................................... 44
2.4.2 Phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng ...................... 44
2.4.3 Đảm bảo đủ nguồn vốn để duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu .................................. 44
2.4.4 Xây dựng mô hình tổ chức mới ................................................................................ 45
2.4.5 Đào tạo nguồn nhân lực............................................................................................ 45
2.4.6 Thực hiện chuẩn mực kế toán quốc tế ...................................................................... 46
2.5 Kinh nghiệm áp dụng Ba sel II tại các quốc gia trên thế giới.......................................46
Kết luận Chương 2 ......................................................................................................
48
CHƯƠNG 3
XÂY DỰNG QUY TRÌNH ÁP DỤNG BASEL II VÀO NGÂN
HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
3.1 Xây dựng quy trình quản trị rủi ro tại BIDV............................................................... 49
3.2 Giải pháp thực thi ........................................................................................................ 52
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống thông tin .................................................................................. 52
Phụ lục 1:
- Bảng PL 1.1: Lộ trình hiệp ước Basel
- Bảng PL 1.2: Tóm tắt các điểm khác biệt giữa Basel I và Basel II
- Bảng PL 1.3: Các nhân tố điều chỉnh.
Phụ lục 2:
- Bảng PL 2.1: Trọng số rủi ro quốc gia.
- Bảng PL 2.2: Trọng số rủi ro công ty.
- Bảng PL 2.3: Hệ số rủi ro của ECAI đối với các ngân hàng.
- Bảng PL 2.4: Hệ số chuyển đổi rủi ro đối với khoản mục ngoại bảng.
Phụ lục 3:
- Bảng PL 3.1: Gía trị LGD tối thiểu đối với tỷ trọng đảm bảo các hoạt động chính.
- Bảng PL 3.2: Độ nhạy cảm về trọng số rủi ro có tính đến kỳ hạn.
- Bảng PL 3.3: Hệ số rủi ro tương ứng với từng cấp độ.
- Bảng PL 3.4: Thay đổi trong nhu cầu vốn: phương pháp chuẩn và IRB cơ bản.
Phụ lục 4:
- Bảng PL 4.1: Hệ số Β đối với từng lĩnh vực hoạt động của ngân hàng.
- Bảng PL 4.2: Chỉ số tài chính cho từng nghiệp vụ.
- Bảng PL 4.3: Hệ số rủi ro tương ứng với từng lĩnh vực hoạt động
Phụ lục 5:
- Bảng PL5.1: So sánh sự khác nhau giữa Basel I với Basel II và Thông tư 13
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TĂT
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
TCTD Tổ chức tín dụng
HĐQT Hội đồng quản trị
WTO Tổ chức thương mại thế giới
BIS Ngân hàng thanh toán quốc tế
IRB Phương pháp tiếp cận nội bộ
AMA Phương pháp đo lường nâng cao
BIA Phương pháp chỉ số cơ bản
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu xây dựng một nền kinh tế có khả năng hội nhập toàn cầu trở thành một xu
thế tất yếu của thời đại, đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong
bối cảnh chung đó, việc các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ phải đối mặt với những
thách thức như thế nào, tận dụng cơ hội ra sao và bằng cách nào để có thể biến thách thức
thành cơ hội, biến những khó khăn thành lợi thế của bản thân, muốn thế thì toàn bộ các
thành viên trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam phải chủ động nhận thức để
tham gia vào quá trình hội nhập.
Để tham gia tốt hơn vào sân chơi chung quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh
trong quá trình hội nhập, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải tuân thủ theo
một số điều ước quốc tế, luật pháp quốc tế, từ đó có cơ sở so sánh, đánh giá và xếp hạng
giữa các ngân hàng Việt Nam với các ngân hàng nước ngoài, với hệ thống ngân hàng của
các quốc gia khác trên thế giới.
Một trong những điều ước quốc tế được các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quan
tâm chính là hiệp ước quốc tế về an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng – còn được biết
thông dụng với tên gọi Hiệp ước Basel. Ra đời cách đây hơn 20 năm, hiệp ước này được
rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng làm chuẩn mực để đánh giá và giám sát hoạt động
của hệ thống ngân hàng nước mình. Hiệp ước này hiện nay đã có phiên bản mới với tên
gọi The New Basel Capital Accord, cập nhật, đổi mới một số nội dung hơn so với phiên
bản thứ nhất trước đó. Riêng đối với Việt Nam, việc ứng dụng hiệp ước Basel này trong
công tác giám sát và quản trị ngân hàng vẫn còn nhiều vướng mắc, nên vẫn chỉ mới dừng
lại ở việc lựa chọn một số tiêu chí đơn giản trong phiên bản thứ nhất để vận dụng và vẫn
chưa tiếp cận nhiều với phiên bản hai. Điều này thực tế cũng gây khó khăn ít nhiều cho
quá trình hội nhập trong lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam.
Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam là một trong những ngân hàng thương
mại quốc doanh được thành lập 1957. Trước những thách thức mang lại từ hội nhập đối
với các ngân hàng thương mại nói chung mà vấn đề cốt yếu đó là khả năng quản trị và
chống lại rủi ro của bản thân ngân hàng, Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam cũng
đang dần tiến tới áp dụng những tiêu chuẩn và quy tắc của Hiệp ước Basel, nhưng trên
tinh thần của Basel I, dưới hình thức áp dụng những tiêu chuẩn của các văn bản pháp luật
Hội sở chính – Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam, cùng một số cán bộ tại các
3
phòng chức năng của chi nhánh. Đồng thời tổng hợp dữ liệu thứ cấp và tiến hành phân tích
các số liệu từ dữ liệu thu được để rút ra nhận xét đánh giá và đề xuất kiến nghị, giải pháp.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Từ trước đến nay, công tác quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại được thực
hiện theo các văn bản quy định của ngân hàng nhà nước, mặc dù trên tinh thần của Basel I
nhưng đã được chỉnh sửa cho phù hợp với trình độ quản lý và năng lực thực hiện của các
ngân hàng thương mại. Đề tài này hướng đên việc phân tích rõ những mặt đạt được cũng
như tồn tại trong hoạt động quản trị rủi ro của Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam,
từ đó giúp cho ngân hàng xác định mục tiêu cụ thể cần phải thực hiện để hoàn thiện việc
ứng dụng Basel II nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Nội dung luận văn:
Luận văn gồm: 60 trang với 7 bảng, 6 hình và 5 phụ lục
Ngoài mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Quản trị rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại và Hiệp ước
Basel II.
Chương 2 : Thực trạng quản trị rủi ro tại Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam
Chương 3: Xây dựng lộ trình áp dụng Basel II vào Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt
Nam.
4
CHƯƠNG 1
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HIỆP ƯỚC BASEL II
1.1 Rủi ro và vấn đề quản trị rủi ro trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
1.1.1 Nhận diện các rủi ro
Bản chất tự nhiên của hoạt động ngân hàng là rủi ro.Quản trị rủi ro là hoạt động
trung tâm của ngân hàng. Rủi ro chung đối với một ngân hàng có nghĩa là mức độ không
chắc chắn liên quan tới một vài sự kiện. Các ngân hàng được coi là thành công khi mức độ
rủi ro họ tham gia vào ở mức hợp lý, được kiểm soát trong phạm vi và năng lực tài chính
chỉnh như nhằm thực hiện các chính sách vĩ mô, các nhà lãnh đạo đưa ra các chính sách
tiền tệ, lãi suất đôi khi gây thiệt hại cho ngân hàng.
- Rủi ro môi trường cạnh tranh : một ngân hàng trong hoạt động kinh doanh thường
chịu tác động của khách hàng hoặc các đối thủ từ nhiều phía, từ đó luôn nhận rất nhiều các
tác động đầy rủi ro bao gồm :
Thứ nhất, rủi ro thanh khoản xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng
chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền, hoặc không có khả năng vay mượn để
đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán. Rủi ro này xuất phát từ chức năng chuyển
hóa các kỳ hạn sử dụng vốn và nguồn vốn của ngân hàng. Thông thường các kỳ hạn sử
dụng vốn dài hơn kỳ hạn các nguồn vốn, nên ngân hàng có thể vấp phải hai tình huống
khó khăn: không thể đáp ứng các cam kết ngắn hạn của mình, có nguồn vốn kỳ hạn ngày
càng ngắn lại trong khi sử dụng vốn vẫn theo kỳ hạn không đổi.
Thứ hai, rủi ro lãi suất là rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất trên thị
trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất, dẫn đến tổn thất về mặt tài sản
hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng. Rủi ro lãi suất làm cho chi phí nguồn vốn trở nên
cao hơn thu nhập từ sử dụng vốn. Nguyên nhân có thể do ngân hàng huy động vốn với lãi
suất cố định và cho vay với lãi suất biến đổi. Khi lãi suất giảm, rủi ro lãi suất sẽ xuất hiện
hoặc huy động vốn với lãi suất biến đổi để cho vay, đầu tư với lãi suất cố định, khi lãi suất
tăng rủi ro sẽ xuất hiện
Thứ ba, rủi ro tín dụng là rủi ro gắn liền với hoạt động ngân hàng, nó không giới
hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác
như: bão lãnh, cam kết, thuê mua, đồng tài trợ v..v….Ngày nay, dù có rất nhiều hình thức
kinh doanh mới trong hoạt động ngân hàng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng tín dụng
vẫn là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng. Vì thế ở tất cả các nước, rủi ro tín
6
dụng là vấn đề được đặc biệt quan tâm không chỉ ở phạm vi các ngân hàng, mà cả trong
toàn nền kinh tế. Các ngân hàng luôn luôn tìm cực đại lợi nhuận qua việc tìm kiếm những
lợi tức cao nhất có thể có ở các món cho vay và chứng khoán; đồng thời cố gắng giảm
thiểu rủi ro liên quan đến các hoạt động cho vay như: sàng lọc và giám sát khách hàng
vay, quy định các mức tín dụng, tài sản đảm bảo nợ vay…Rủi ro tín dụng là rủi ro không
ro
quản
lý
Rủi ro về tổ
chức
Rủi
ro
đặc
thù
Rủi
ro
cung
cấp
dịch
vụ
tài
chính
Rủi ro do thiếu năng
lực
Rủi ro về
hoạt
động
Rủi
ro
đòn
cân
nợ
Rủi ro chiến
lược
nhiên
Rủi
ro
môi
trường
vĩ
mô
Rủi ro về luật
pháp
Rủi ro về kinh
tế
Rủi ro về điều
chỉnh
Rủi
ro
thị
trường
Rủi
ro
môi
trường
cạnh
tranh
Rủi ro về thanh
khoản
Rủi ro về lãi
suất
Rủi ro về tín
dụng
Rủi ro về tỷ
kinh tế trong và ngoài nước.
Do hoạt động ngân hàng có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng mạnh đến sự ổn định kinh
tế xã hội. nếu có tin đồn về một ngân hàng nào đó đang gặp rủi ro, lâm vào tình trạng thiếu
khả năng thanh toán, có nguy cơ hoặc thực sự đi đến phá sản, điều này dễ gây tâm lý
hoang mang, hoảng loạn khiến mọi người đổ xô đi rút tiền gửi thật nhanh để tránh tổn thất
9
ảnh hưởng đến tất cả những người gửi tiền vào ngân hàng, kéo theo sự sụp đổ của hàng
loạt các ngân hàng khác trong nước và trong khu vực. Hơn nữa, sự phá sản của một ngân
hàng sẽ dẫn đến sự hoảng loạn của hàng loạt các ngân hàng khác, gây ảnh hưởng xấu đến
toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới, vì
trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay, nền kinh tế của mỗi
quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, mối liên hệ về tiền
tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh, nên rủi ro tín dụng tại một nước luôn ảnh
hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các nước có liên quan.
1.1.3 Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và vấn đề quản trị rủi ro của ngân hàng
Khủng hoảng tài chính 2007-2010 là một cuộc khủng hoảng bao gồm sự đổ vỡ hàng
loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá
tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở
Hoa Kỳ, là cuộc khủng hoảng trong nhiều lĩnh vực tài chính (tín dụng, bảo hiểm, chứng
khoán) diễn ra từ năm 2007 cho đến tận ngày nay. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ
cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp. Và là nguồn gốc trực tiếp của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu 2007-2010.
Hoa Kỳ là điểm xuất phát và là trung tâm của cuộc khủng hoảng. Ngay khi bong bóng
nhà ở vỡ cuối năm 2005, kinh tế Hoa Kỳ bắt đầu tăng trưởng chậm lại. Tuy nhiên, bong
bóng vỡ đã dẫn tới các khoản vay không trả nổi của người đầu tư nhà ở đối với các tổ
chức tài chính ở nước này. Giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ
liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản. Giá chứng khoán Hoa Kỳ bắt đầu giảm
dần. Sự đổ vỡ tài chính lên đến cực điểm vào tháng 10 năm 2008 khi ngay cả những ngân
hàng khổng lồ và lâu đời từng vượt qua những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế
trước đây, như Lehman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG, … cũng lâm nạn. Tình
Bong bóng nhà ở vỡ làm nhiều người vay tiền ngân hàng đầu tư nhà không trả được
nợ dẫn tới bị tịch biên nhà thế chấp. Nhưng giá nhà xuống khiến cho tài sản tịch biên
không bù đắp nổi khoản ngân hàng cho vay, khiến các ngân hàng rơi vào khó khăn dẫn
đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như đã trình bày trên.
1.1.4 Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro của ngân hàng thương mại:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro nhưng tựu trung lại có ba nguyên nhân chủ
yếu sau:
- Nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng :bao gồm một số
nguyên nhân như không quản lý vấn đề thanh khoản dẫn đến thiếu khả năng chi trả
hoặc cho vay và đầu tư quá mạo hiểm, cụ thể trong cho vay ngân hàng tập trung nguồn
11
vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó, trong đầu tư chỉ chú
trọng đầu tư vào một loại chứng khoán có rủi ro cao; hoặc thiếu am hiểu thị trường, thiếu
thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến quyết định cho vay hoặc đầu tư
không hợp lý; hoặc do hoạt động kinh doanh trái pháp luật, tham ô; hoặc do cán bộ ngân
hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ nghiệp vụ v.v...
- Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng: bao gồm một số nguyên nhân như
khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý; Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả
làm hoạt động kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được; hoặc khách hàng
quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản không trả được nợ; ngoài ra còn có
trường hợp chủ doanh nghiệp vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo v.v...
- Nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh
như: thiên tai, hỏa hoạn, tình hình an ninh, chính trị trong nước, khu vực không ổn định,
môi trường pháp lý không thuận lợi hoặc do khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát, mất
thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế dẫn đến tỷ giá hối đoái biến động bất thường
1.1.5 Các công cụ quản trị rủi ro :
- Quản trị rủi ro tín dụng:
Quản trị rủi ro tín dụng là là vấn đề trọng yếu của các ngân hàng trên khắp thế giới,
các công cụ chính gồm có:
Chính sách tín dụng:
- Quản trị rủi ro thanh khoản: là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh
khoản của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục của nguồn vốn. Các phương pháp quản
trị rủi ro thanh khỏan gồm việc duy trì một tỷ lệ thích hợp giữa vốn dùng cho dự trữ và
vốn dùng cho kinh doanh (chiến lược thanh khoản) sao cho phù hợp với đặc điểm hoạt
động của ngân hàng và đảm bảo về tỷ lệ khả năng chi trả
Tài sản Có có thể thanh toán ngay
Tỷ lệ về khả năng chi trả = ------------------------------------------
Tài sản nợ phải thanh toán ngay
Ngân hàng thương mại phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả đối với từng
loại tiền, vàng. Trong đó:
Tài sản Có có thể thanh toán ngay bao gồm:
- Tiền mặt
- Vàng
- Tiền gửi tại ngân hàng nhà nước
13
- Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng thương
mại khác, và tiền gửi không kỳ hạn nhận của ngân hàng thương mại đó
- Tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại khác đến hạn thanh toán
- Các loại chứng khoán do Chính phủ Việt Nam phát hành hoặc được Chính
phủ Việt Nam bảo lãnh
- Các loại chứng khoán do ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam
phát hành hoặc bảo lãnh
- Các loại chứng khoán do các nước thuộc khối OECD - Tổ chức hợp tác
Kinh tế và Phát triển (Organization for Economic Cooperation and Development) phát
hành .
phát hành .
- Các loại chứng khoán do các ngân hàng của các nước thuộc khối OECD
- Các hối phiếu của bộ chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu đã được ngân
hàng nước ngoài chấp nhận thanh toán, có thời hạn từ 1 tháng trở xuống: 100% số tiền ghi
trên hối phiếu
- Các khoản cho vay có lãi suất biến đổi
- Các khoản cho vay ngắn hạn với thời hạn dưới n tháng
- Các khoản cho vay có thời hạn còn lại dưới n tháng
- Chứng khoán có thời hạn còn lại dưới n tháng (trái phiếu chính phủ, công ty, xí
nghiệp…)
- Tiền gửi trên thị trường liên ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng khác,
các khoản đầu tư tài chính có thời hạn còn lại dưới n tháng…
Tài sản nợ nhạy cảm lãi suất bao gồm:
- Tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi giao dịch) và tiết kiệm không
kỳ hạn của khách hàng
- Tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ với thời
hạn dưới n tháng (vay qua đêm, vay tái chiết khấu thời hạn dưới n tháng)
Các trường hợp có thể xảy ra:
R = 0 : rủi ro lãi suất không xuất hiện
R > 0 : rủi ro lãi suất thị trường giảm
R < 0 : rủi ro xuất hiện khi lãi suất thị trường tăng
Nhược điểm của việc dựa vào khe hở nhạy cảm lãi suất để đánh giá rủi ro lãi suất là
phương pháp này không nghiên cứu đầy đủ tác động của rủi ro lãi suất đến giá trị của thị
trường vốn, mà chỉ chú trọng vào số liệu trên sổ sách kế toán của vốn không đưa ra được
số liệu cụ thể về mức độ rủi ro lãi suất tổng thể của ngân hàng. Để khắc phục nhược điểm
này, đã có phương pháp dựa vào khe hở kỳ hạn (Duration Gap) để đánh giá và kiểm soát
rủi ro lãi suất
Khe hở Kỳ hạn = (Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của Tài Sản - Kỳ hạn hoàn trả
trung bình của nợ)* (Tổng nợ / Tổng tài sản)
Trong đó:
- Kỳ hạn hoàn vốn của Tài Sản là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn
đã bỏ ra để đầu tư, là thời gian trung bình dựa trên dòng tiền dự tính sẽ nhận được trong
tương lai.
- Kỳ hạn hoàn trả của tài sản nợ là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khoản
vốn đã huy động, là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính ra khỏi ngân hàng (thanh
duy trì trạng thái lệch âm (đoản thế).
1.2 Những quy định của Basel II trong công tác quản trị rủi ro của các ngân hàng
thương mại
Ủy ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng là một Ủy ban bao gồm các chuyên
gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập vào năm 1974 bởi các Thống đốc Ngân
hàng Trung ương của nhóm 10 nước (G10) xuất phát từ sau một loạt các cuộc khủng
hoảng về tiền tệ quốc tế và thị trường ngân hàng, trong đó đáng chú ý nhất chính là sự sụp
đổ của ngân hàng Herstatt ở Tây Đức lúc bấy giờ. Hiện nay, thành viên của Ủy ban này
gồm các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembuorg, Nhật, Pháp, Tây
Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý. Các quốc gia được đại diện bởi ngân hàng trung
ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng. Ủy ban Basel này được nhóm họp 4 lần
trong một năm.
Quan điểm của Ủy ban là: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia,
dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe dọa đến sự ổn định về tài chính
trong cả nội bộ quốc gia đó và trên trường quốc tế. Vì vậy, nhu cầu nâng cao sức mạnh
của hệ thống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới nói chung
và Ủy ban Basel về giám sát nghiệp vụ ngân hàng nói riêng đặc biệt quan tâm.
Trong nhiều năm qua, Ủy ban Basel đã đưa ra các tiêu chuẩn giám sát rộng rãi toàn
cầu, qua việc hợp tác chặt chẽ với nhiều ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng của các
nước không phải là thành viên. Vào năm 1997, Ủy ban Basel đã phát triển một tập hợp
“Các nguyên tắc nòng cốt cho việc giám sát hoạt động ngân hàng hiệu quả” mà nó